1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Những thay đổi về dân số loét bàn chân đái tháo đường tại Bệnh viện Nguyễn Tri Phương

4 183 2

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 4
Dung lượng 300,99 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Loét bàn chân đái tháo đường và hệ lụy đoạn chi là biến chứng nặng nề tốn kém. Tại khoa Nội tiết bệnh viện Nguyễn Tri Phương biến chứng này khá thường gặp, chiếm đến 20% số bệnh nhân nội trú. Vì vậy nghiên cứu được tiên hành nhằm tìm hiểu đặc điểm tình hình bàn chân tiểu đường tại đơn vị bàng chân tiểu đường khoa Nội Tiết bệnh viện Nguyễn Tri Phương.

Trang 1

Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 18 * Phụ bản của Số 6 * 2014  Nghiên cứu Y học

 

NHỮNG THAY ĐỔI VỀ DÂN SỐ LOÉT BÀN CHÂN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG 

Lê Tuyết Hoa* 

TÓM TẮT 

Mở đầu: Loét bàn chân đái tháo đường và hệ lụy đoạn chi là biến chứng nặng nề tốn kém. Tại khoa Nội tiết 

bệnh viện Nguyễn Tri Phương biến chứng này khá thường gặp, chiếm đến 20% số BN nội trú.  

Mục tiêu nghiên cứu: Tìm hiểu đặc điểm tình hình bàn chân tiểu đường tại đơn vị bàng chân tiểu đường 

khoa Nội Tiết Bv. Nguyễn Tri Phương. 

Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả.  

Kết quả: Hai tổng kết liên tiếp trong 2 năm 2012‐2013 cho thấy những đặc điểm phức tạp của nhóm bệnh 

loét bàn chân. Bài viết báo cáo số liệu hiện tại về loét thần kinh và thần kinh‐mạch máu nặng rất thường gặp tại  khoa. So sánh với những quan sát và số liệu nhiều năm trước, chúng tôi đánh giá đã có một số thay đổi về đặc  điểm dân số ĐTĐ loét bàn chân điều trị tại bệnh viện Nguyễn Tri Phương: bệnh nhân nam tăng rõ rệt, thời gian  bệnh dài hơn, căn nguyên tắc mạch gia tăng, đặc điểm người bệnh kết hợp nhiều bệnh lý phức tạp hơn rất nhiều.  Ngoài ra, chúng tôi kêu gọi xây dựng những giải pháp dự phòng loét, nhiễm trùng bàn chân trên người bệnh  nhiều nguy cơ như trên. 

Kết  luận: Giai đoạn tiến triển của bàn chân tiểu đường thường thấy ở bệnh nhân có nhiều bệnh kết hợp. 

Nên can thiệp phòng ngừa loét bàn chân cho những bệnh nhân có nguy cơ cao. 

Từ khóa: Loét bàn chân, đái tháo đường. 

ABSTRACT 

DIABETIC FOOT ULCERATIONS IN NGUYEN TRI PHUONG HOSPITAL: THE POPULATION HAS 

CHANGED 

Le Tuyet Hoa * Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 18 ‐ Supplement of No 6‐ 2014: 87 – 90 

Introduction: Diabetic foot ulcers and the resulting lower extremity amputations are a common, costly and 

disabling  complication  of  diabetes.  Care  and  attention  to  the  complication  have  improved  greatly.  Nguyen  Tri  Phuong hospital has organized the Diabetic Foot Unit to enable patients to get qualified service.  

Objectives:  The  purpose  of  this  article  is  to  report  on  current  data  regarding  neuropathic  and 

neuroischemic wounds.  

Methods: Descriptive study comparing data many years previous. 

Results:  The  population  of  patients  with  diabetic  foot  ulcers  has  changed  regarding  the  long  duration  of 

diabetes, the advance‐stage diabetes and the increase of neuroischemic wounds. Conclusion: The advanced‐stage  diabetic foot wounds may be commonly emerging in more co‐morbidity patients. We also call for interventions in  preventing foot ulcers in the high risk patients  

Key words: Foot ulcer, diabetic. 

MỞ ĐẦU 

Tất cả các quốc gia đều nỗ lực để giảm loét 

bàn  chân  và  đoạn  chi  cho  người  ĐTĐ.  Từ  10 

năm nay, biến chứng này ở nước ta đã được lưu  tâm.  Vài  năm  nay  số  trường  hợp  đến  khám  và  nhập  bệnh  viện  Nguyễn  Tri  Phương  (NTP)  vì 

Tác giả liên hệ: TS BS Lê Tuyết Hoa     ĐT: 0913156131   Email: letuyethoa@gmail.com 

Trang 2

Nghiên cứu Y học  Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 18 * Phụ bản của Số 6 * 2014

 

biến  chứng  loét  bàn  chân  có  chiều  hướng  gia 

tăng. Hầu hết những loét chân này đều bị nhiễm 

trùng đồng thời đặc điểm người bệnh cũng phức 

tạp hơn. Trước đây khoa chỉ có một khảo sát cắt 

ngang  báo  cáo  năm  2006  trên  45  trường  hợp 

nhiễm trùng bàn chân. Từ 2010, đơn vị bàn chân 

được thành lập, thuộc khoa Nội Tiết, hoạt động 

liên  kết  với  phẫu  thuật  chỉnh  hình  và  khoa  tim 

mạch  can  thiệp  để  điều  trị,  chăm  sóc  nhiễm 

trùng bàn chân ĐTĐ. Hai năm 2012 và 2013, hai 

khảo  sát  thực  hiện  độc  lập  cho  thấy  những  số 

liệu khá tương đồng về đặc điểm của dân số loét 

bàn chân. 

KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN 

Đặc điểm chung 

Khác  với  BV  tuyến  trung  ương  nơi  có  78% 

người  loét  chân  nằm  viện  đến  từ  các  tỉnh  phía 

nam(3), tại BV Nguyễn Tri Phương 80% là người 

dân thành phố chỉ 20% đến từ các tỉnh thành lân 

cận(4,6).  Tại  BV  Nhân  Dân  115,  tuy  cùng  là  BV 

hạng 1 nhưng số trường hợp loét bàn chân sống 

tại TP HCM và các tỉnh tương đương nhau(1). 

Người bệnh loét bàn chân có tuổi trung bình  61‐62 tuổi, đa số ở tuổi 50‐60 kế là nhóm 60‐70, 

và đặc điểm này không thay đổi theo thời gian  (bảng  1).  Ba  báo  cáo  trong  năm  2006,  2012  và 

2013  đều  cho  thấy  người  cao  tuổi  loét  chân  chiếm đến 51,1% ‐ 56,6%(4,5,6). Xét về giới tính, số 

BN nam vài năm nay tăng vọt làm tỉ lệ giữa nữ 

và  nam  giảm  đáng  kể,  nữ  nhiều  hơn  nam  chỉ  20%. Khác với báo cáo của BV NTP năm 2006(5) 

và  của  BV  Nhân  Dân  115  năm  2012(1):  nữ  loét  chân nhiều gấp đôi nam. 

Thời gian bệnh ĐTĐ của nhóm loét bàn chân  dài thêm, từ 8,6 năm đến 9,9 năm. Trước đây chỉ  22% mắc ĐTĐ hơn 10 năm(5), nhưng nay đã lên  đến  44,8%(4,6).  Tuổi  thọ  kéo  dài,  thời  gian  sống  với  bệnh  tăng  càng  làm  BN  phải  đối  mặt  với  nhiều biến chứng trong đó có loét bàn chân. Vì  vậy trong tương lai có thể dân số loét bàn chân 

sẽ nhiều hơn nếu không có giải pháp dự phòng  hiệu quả. 

Huyết sắc tố HbA1c qua các năm đều rất cao  (trung bình > 9%), 93,3% không kiểm soát được  đường huyết(4).  

Bảng 1: Đặc điểm người ĐTĐ loét bàn chân tại BV Nguyễn Tri Phương qua các năm 

Năm 2006 (4) 2012 (3) 2013 (2)

Cách chọn mẫu Mẫu thuận lợi 5 tháng Thu dung liên tục 10 tháng Mẫu thuận lợi 12 tháng

BMMNB n (%) -mất mạch chân: 8,9%-ABI < 0,8: 22,2% SA Doppler và lâm sàng: 63 (37,5) SA Doppler và lâm sàng: 67 (33,3)

Biến chứng tim mạch n (%) NA Bệnh mạch vành hoặc tai biến mạch não 50 (29,8) Bệnh mạch vành: 67 (33,5)

TBMMN: 26 (12,8)

Trang 3

Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 18 * Phụ bản của Số 6 * 2014  Nghiên cứu Y học

 

NA: không có số liệu, * Chẩn đoán bằng mất cảm giác rung vỏ xương 

Đặc điểm loét bàn chân 

Hơn 90% loét bàn chân có nhiễm trùng đa số 

ở  mức  trung  bình‐nặng,  viêm  xương  chiếm 

26,8%(4).  Ngoài  ra  có  gần  14%  BN  loét  chân  tái 

phát.  Bệnh  thần  kinh  ngoại  biên  lâm  sàng  rõ 

thấy trên 70% BN. Những trường hợp nặng như 

chai  chân,  bóng  nước,  mất  cảm  giác  hoàn  toàn, 

rớt dép, bàn chân Charcot, mất cảm giác rung vỏ 

xương,  mất  cảm  nhận  sợi  monofilament  5,07… 

không  dưới  50%(4).  Tỉ  lệ  bệnh  mạch  máu  ngoại 

biên gia tăng (chẩn đoán bằng lâm sàng và hình 

ảnh  sóng  mạch  trên  siêu  âm).  Trong  báo  cáo 

năm 2006 có 22% người loét chân bị BMMNB(5), 

nhưng nay biến chứng này tăng đến 35%(4,6). Báo 

cáo cùng năm tại BV Nhân Dân 115 chỉ có 16,3% 

có tắc hẹp động mạch có ý nghĩa(1). Tuổi càng cao 

và  thời  gian  bệnh  càng  dài,  càng  dễ  bị  tắc  hẹp 

mạch máu chi dưới: có 43 trong số 63 BN tắc hẹp 

động mạch là người trên 60 tuổi (68,3%)(4). Khoa 

tiếp  nhận  không  ít  trường  hợp  hẹp  động  mạch 

trên gối, vị trí hẹp trên gối 9 (5,4%), hẹp dưới gối 

28  (16,7%),  hẹp  động  mạch  bàn  chân  rõ  26 

(15,5%)(4).  2  BN  loét  chân  tái  hẹp  sau  đặt  stent 

động mạch chi dưới và phẫu thuật bypass. Như 

vậy hơn 30% loét bàn chân có sinh bệnh học kết 

hợp biến chứng thần kinh và thiếu máu cục bộ.  

Biến chứng khác đi kèm 

Nhóm giảm eGFR (< 60 mL/ph/1,73m2) trong 

dân số loét chân chiếm 25,6% (45 BN), 14 BN có 

eGFR < 30, 3 người bệnh thận giai đoạn cuối (1 

BN  đang  lọc  máu)(4).  Tỉ  lệ  tương  tự  cũng  được 

BV  Nhân  Dân  115  báo  cáo  (30,5%)(1).  Tuy  chưa 

đánh giá chính xác mức độ của bệnh thận mạn 

trên người đang có nhiễm trùng nhưng với 25% 

BN  loét  chân  kèm  giảm  eGFR  cho  thấy  vết 

thương khó lành, nguy  cơ  xấu  thêm chức năng 

thận  do  nhiễm  trùng,  cơ  hội  hẹp  cho  chọn  lựa 

kháng  sinh  và  kết  cục  thường  xấu  hơn  người 

không giảm độ lọc cầu thận.  

Hơn 70% người loét bàn chân có tăng huyết 

áp.  Biến  chứng  tim  mạch  trên  30%  trường  hợp 

(tai biến mạch máu não cũ, cơn đau thắt ngực ổn  định, suy tim do bệnh tim thiếu máu cục bộ)(4).   Biến  chứng  võng  mạc  chưa  được  đánh  giá  đầy đủ trên người loét bàn chân do nhiều BN bị  đục  thủy  tinh  thể.  49  BN  được  chụp  hình  màu  võng  mạc,  có  67%  là  sang  thương  võng  mạc  ĐTĐ.  Tỉ  lệ  này  hợp  lý  trên  dân  số  mắc  bệnh  nhiều  năm  có  biến  chứng  thần  kinh  nặng.  BV  Nhân  Dân  115  cũng  báo  cáo  tỉ  lệ  tương  tự:  123 

BN  loét  bàn  chân  có  68,3%  bị  biến  chứng  võng  mạc ĐTĐ. 

Kết quả điều trị 

Bảng 2: Kết quả điều trị loét bàn chân tại BV Nguyễn 

Tri Phương  

Năm 2006 (1) 2012 (4) 2013 (6)

Số ngày nằm viện 20,2 26,9 NA Cắt lọc tại khoa (%)

Phẫu thuật dẫn lưu 15,5

Tỉ  lệ  đoạn  chi  qua  các  năm  không  thay  đổi  nhiều, hầu hết là đoạn chi nhỏ. Số ca tháo ngón  tăng,  cắt  cụt  trên  mắt  cá  giảm  rõ  rệt,  cắt  ngang  bàn  chân  rất  ít  (chỉ  2  trường  hợp  trong  năm  2012).  Không  phẫu  thuật  94  BN  (56%),  phẫu  thuật dẫn lưu 26 (15,5%), cắt bỏ phần bàn chân 

40 (23,6%), đoạn chi 7 (4,2%), 1 BN không đồng ý  điều trị. Trong báo cáo năm 2013, 12,9% đoạn chi  nhỏ và 7% đoạn chi lớn.  

BMMNB  không  ảnh  hưởng  đến  độ  nặng  nhiễm  trùng  (số  liệu  không  trình  bày),  nhưng  đoạn chi ở nhóm tắc hẹp động mạch nhiều hơn  nhóm không hẹp có ý nghĩa thống kê (39% đoạn  chi  ở nhóm có  BMMNB vs  21%  ở  nhóm  không 

có  BMMNB  p=0,04;  đoạn  1/3  giữa  cẳng  chân  là  7,8% vs 1,9% theo thứ tự)(4). 4 trong 5 BN tử vong 

là  người  có  BMMNB  (hẹp  đoạn  xa  động  mạch  chậu, tắc động mạch đùi và dưới gối)(4).  

Điều trị nhiễm trùng bàn chân đòi hỏi nhiều  chuyên  khoa,  bao  gồm  ổn  định  nhanh  các  rối  loạn  chuyển  hóa,  kháng  sinh  thích  hợp,  chăm  sóc  tích  cực  vết  thương  và  chỉ  định  phẫu  thuật 

Trang 4

Nghiên cứu Y học  Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 18 * Phụ bản của Số 6 * 2014

 

khi  cần  thiết  đã  góp  phần  giảm  đoạn  chi  lớn. 

Tuy  nhiên  điều  trị  này  chỉ  hiệu  quả  đối  với 

những  BN  thiếu  máu  chi  dưới  không  đáng  kể 

hoặc chỉ thiếu ở bàn chân, còn những tắc mạch 

trên  gối  kết  cục  bi  đát  hơn.  Phẫu  thuật  bắc  cầu 

hay can thiệp nội mạch hiện tại vẫn là chọn lựa 

cho người loét chân có thiếu máu chi dưới nặng 

nhằm  giữ  chi.  Nhưng  nhiều  BN  không  thể  là 

ứng  viên  cho  liệu  pháp  này  bởi  có  những  biến 

chứng  liên  quan  đến  ĐTĐ  khiến  họ  bị  nhiều 

nguy cơ khi can thiệp mạch máu. Tổng kết trên 

2400 BN được phẫu thuật tái thông mạch máu từ 

cơ  sở  dữ  liệu  của  chương  trình  cải  thiện  chất 

lượng phẫu thuật Quốc gia Hoa Kỳ đã báo cáo 

2,7% tử vong và 18,7% bị biến chứng nặng(2). Can 

thiệp nội mạch ít tai biến hơn nhưng vẫn xảy ra 

biến  chứng  như  suy  thận  tiến  triển,  thuyên  tắc 

mạch.  Tỉ  lệ  thành  công  lâu  dài  của  can  thiệp 

mạch  máu  trên  người  ĐTĐ  thấp  hơn  nhiều  so 

với người không ĐTĐ. 

KẾT LUẬN 

Phân tích trên cho thấy đã có một số thay đổi 

ở  dân  số  ĐTĐ  loét  bàn  chân  tại  bệnh  viện  như 

người cao tuổi chiếm hơn 50%, BN nam có chiều 

hướng tăng, tỉ lệ BMMNB tăng, số ca loét phức 

tạp do nhiều yếu tố bệnh sinh phối hợp và mắc 

kèm  bệnh  thận  mạn,  biến  chứng  tim  mạch  lên 

đến  30%.  Có  lẽ  không  chỉ  tại  BV  NTP  mà  các 

tuyến  y  tế  cơ  sở  nên  thay  đổi  cách  can  thiệp, 

hướng đến dự phòng hơn nữa. Bên cạnh những 

giải  pháp  kinh  điển,  thì  (1)  chủ  động  sàng  lọc  BMMNB  ngay  tại  phòng  khám,  chủ  động  kết  hợp với đơn vị can thiệp mạch máu nhiều kinh  nghiệm  (trong  và  ngoại  viện)  để  can  thiệp  sớm  trước loét, (2) ổn định các bệnh lý đi kèm nhất là  tim mạch và biến chứng thận, (3) và chiến lược  giảm  tái  phát  loét  hay  giảm  loét  chuyển  vị  sau  đoạn chi rất cần được xây dựng.  

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Bùi Thị Mỹ Hạnh (2012). Tỉ lệ đoạn chi và các yếu tố liên quan  trên  bệnh  nhân  đái  tháo  đường  típ  2  nhiễm  trùng  chân  tại  bệnh  viện  Nhân  Dân  115.  Luận  án  chuyên  khoa  II  Chuyên  ngành Nội Tiết. Đại Học Y Dược Tp.HCM. 

2 LaMuraglia  GM,  Conrad  MF,  Chung  T  (2009).  Significant  perioperative  morbidity  accompanies  contemporary  infraguinal bypass surgery: an NSQIP report. J Vasc Surg 50  (2): 299‐304. 

3 Lê Tuyết Hoa (2008). Yếu tố nguy cơ loét bàn chân trên người  đái tháo đường. Luận án Tiến Sĩ. Chuyên ngành Nội Tiết. Đại  Học Y Dược Tp.HCM. 

4 Lê Tuyết Hoa (2012). Tổng kết nhiễm trùng bàn chân tại khoa  Nội Tiết BV NguyễnTri Phương từ tháng 9/2011‐7/2012. 

5 Thái  Văn  Hùng  (2006).  Mức  độ  hẹp  động  mạch  mu  chân  ở  người ĐTĐ có loét chân. Toàn văn Hội Nghị Hội Nội Tiết và  Đái tháo đường Thành phố HCM mở rộng lần 4: tr.93‐102. 

6 Trương Xuân Lan (2013). Khảo sát nhiễm trùng bàn chân trên  bệnh  nhân  đái  tháo  đường  típ  2  tại  bệnh  viện  Nguyễn  Tri  Phương. Toàn văn Hội nghị tổng kết nghiên cứu khoa học và 

kỷ  niệm  110  năm  thành  lập  bệnh  viện  Nguyễn  Tri  Phương  (1903‐2013), ngày 21‐22/11/2013: tr.96‐105. 

  Ngày nhận bài báo:       20/10/2014  Ngày phản biện nhận xét bài báo:   30/11/2014  Ngày bài báo được đăng:     05/12/2014 

 

Ngày đăng: 20/01/2020, 06:54

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w