1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Cắt thực quản qua khe hoành nội soi trong điều trị ung thư thực quản tâm vị

4 36 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 4
Dung lượng 239,18 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nội dung bài viết trình bày mục tiêu về việc đánh giá tính khả thi, kết quả sớm sau mổ của cắt thực quản qua khe hoành nội soi điều trị ung thư thực quản tâm vị và được tiến hành từ tháng 01/2008 đến 12/2011, chúng tôi thực hiện 10 ca cắt thực quản qua khe hoành nội soi tại bệnh viện Chợ Rẫy.

Trang 1

Nghiên cứu Y học Y Học TP Hồ Chí Minh * Tập 17 * Phụ bản của Số 1 * 2013

CẮT THỰC QUẢN QUA KHE HOÀNH NỘI SOI TRONG ĐIỀU TRỊ UNG THƯ THỰC QUẢN TÂM VỊ

Trần Phùng Dũng Tiến*, Lâm Việt Trung*, Phan Đương*, Bùi Đức Ái*, Phan Văn Sử*, Trần Hồ* Đặt vấn đề: Phẫu thuật điều trị ung thư thực quản có tỉ lệ biến chứng cao ngay cả ở những trung tâm

chuyên sâu Với sự tiến bộ của phẫu thuật nội soi, phẫu thuật nội soi đã và đang được áp dụng thành công trong điều trị ung thư thực quản

Mục tiêu: Đánh giá tính khả thi, kết quả sớm sau mổ của cắt thực quản qua khe hoành nội soi điều trị ung

thư thực quản tâm vị

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Từ tháng 01/2008 đến 12/2011, chúng tôi thực hiện 10 ca cắt

thực quản qua khe hoành nội soi tại bệnh viện Chợ Rẫy

Kết quả: Trong 10 trường hợp có 8 trường hợp là K thực quản tâm vị, 2 trường hợp K tâm vị Thời gian mổ

trung bình 210 phút Lượng máu mất không đáng kể Hậu phẫu trung bình 08 ngày Không có xì miệng nối sau

mổ, có 01 trường hợp khàn tiếng sau mổ, không có viêm phổi sau mổ Tỉ lệ tử vong 0%

Kết luận: Phẫu thuật cắt thực quản nội soi qua khe hoành trong điều trị ung thư thực quản tâm vị có thể

thực hiện an toàn bởi phẫu thuật viên nội soi thực quản kinh nghiệm, với tỉ lệ tai biến và biến chứng thấp Tuy nhiên không nạo hạch trung thất được

Từ khóa: phẫu thuật cắt thực quản nội soi qua khe hoành, hạch lymphô, ung thư thực quản tâm vị

ABSTRACT

LAPAROSCOPIC TRANSHIATAL ESOPHAGECTOMY IN TREATMENT THE ESOPHAGOGASTRIC

JUNCTION AND CARDIAC CANCER

Tran Phung Dung Tien, Lam Viet Trung, Phan Duong, Bui Duc Ai, Phan Van Su,Tran Ho

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 17 - Supplement of No 1 - 2013: 292 - 295

Objective: to evaluate the ability and feasibility and outcome of laparoscopic transhiatal esophagectomy in

treatment the esophagogastric junction and cardiac cancer

Methods: 10 cases of laparoscopic transhiatal esophagectomy was performed in Cho Ray Hospital from

01/2008- 12/2011

Results: there were 9 men and 1 woman Median operation time was 210 minutes Blood loss was

regardless, median intensive care unit stay 1 day, median total hospital stay was 8 days No anastomotic leak, 01 recurrent laryngeal nerve injury There was no intraoperative or 30 days mortality 02 patients developed an anastomotic stricture, all successfully managed with endoscopic dilation

Conclusions: laparoscopic transhiatal esophagectomy is a safe procedure It need be performed by the high

experienced surgeon and in high volume

Key words: laparoscopic transhiatal esophagectomy, lymph nodes, esophagogastric junction cancer,

intraoperative conversion.

ĐẶT VẤN ĐỀ

Từ khi Frank Torek thực hiện cắt thực quản

thành công đầu tiên vào năm 1913, cho đến nay phẫu thuật cắt thực quản vẫn còn là vấn đề khó khăn do có tỉ lệ biến chứng và tử vong cao Các

* Khoa Ngoại Tiêu hoá, BV Chợ Rẫy

Trang 2

Y Học TP Hồ Chí Minh * Tập 17 * Phụ bản của Số 1 * 2013 Nghiên cứu Y học

phẫu thuật viên vẫn luôn tìm phương pháp tối

ưu và trang bị tốt cho cuộc phẫu thuật

Với sự phát triển của phẫu thuật nội soi,

phẫu thuật cắt thực quản nội soi đã và đang

được áp dụng và mở rộng Cắt thực quản nội soi

được cho là có tỉ lệ biến chứng bằng và thấp hơn

so với mổ mở kinh điển và kết quả về mặt ung

thư là tương đương Năm 2007, Gemmil và

Neculloch(7) đã làm một tổng quan y văn lớn

nhất về cắt thực quản nội soi cho kết luận rằng

có tỉ lệ tử vong thấp hơn, ít biến chứng hô hấp

hơn, mất máu ít hơn và thời gian nằm viện ngắn

hơn

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Chúng tôi chọn những bệnh nhân có u thực

quản chỗ nối thực quản-tâm vị hoặc tâm vị

Chọn u từ T1T3, không có di căn xa, không

xâm lấn xuống bờ cong nhỏ vùng thân vị không

có tiền căn mổ bụng trước đó, không có chống

chỉ định phẫu thuật

Thời gian thực hiện từ tháng 01 năm 2008 –

12/ 2011 tại Bệnh viện Chợ Rẫy

Đánh giá bệnh nhân trước mổ:

Khám lâm sàng

Nội soi thực quản dạ dày + sinh thiết

X-quang thực quản dạ dày cản quang

CT scan ngực bụng

Đo chức năng hô hấp

Các cận lâm sàng thường quy khác

Phương pháp phẫu thuật:

Bệnh nhân nằm ngửa, mê nội khí quản

Thì bụng dùng 02 trocar 10 mm, 03 trocar 5

mm ở các vị trí dưới rốn, cạnh rốn phải, cạnh rốn

trái, hạ sườn phải và thượng vị

Nội soi, đánh giá u và tình trạng ổ bụng,

hạch

Bảo tồn bó mạch vị mạc nối phải, cung mạch

vị mạc nối, bó mạch vị phải

Cắt bó mạch vị trái, các bó mạch vị ngắn

Nạo hạch vùng thân tạng và dọc bờ cong

nhỏ dạ dày, cạnh động mạch chủ bụng

Phẫu tích tách thực quản đoạn bụng và thực quản 1/3 dưới qua khe hoành

Mở cổ trái, phẫu tích thực quản cồ, cắt ngang thực quản cổ, phẫu tích thực quản xuống ngực bằng ngón tay

Mở đường mổ dài 6 cm, ở đường giữa dưới mũi ức, kéo tụt lộn ngược (Stripping) thực quản

cổ xuống bụng

Đưa thực quản và dạ dày ra ngoài qua đường mổ ở bụng Tạo hình ống dạ dày 04 stapler thẳng Mở rộng môn vị bằng cắt cơ môn

vị

Đưa ống dạ dày qua trung thất sau lên nối với thực quản cổ bằng tay Chúng tôi dùng chỉ PDS 4-0, khâu 01 lớp với mũi khâu Gambee liên tục Dẫn lưu vết mổ cổ

Mở hỗng tràng nuôi ăn ở tất cả các trường hợp

KẾT QUẢ

Trong thời gian 04 năm, chúng tôi thực hiện được 10 trường hợp, 09 nam, 01 nữ, tuổi trung bình 53 (42 - 74), 04 trường hợp là carcinoma tuyến, 06 trường hợp là carcinoma tế bào gai, 07 trường hợp u T3, 02 trường u T2 Số hạch trung nạo trung bình 06 hạch (3 - 12 hạch) Thời gian

mổ trung bình 210 phút (150 - 240 phút) Không

có tai biến trong mổ lượng máu mất không đáng

Trang 3

Nghiên cứu Y học Y Học TP Hồ Chí Minh * Tập 17 * Phụ bản của Số 1 * 2013

kể Thời gian nằm viện từ 07 - 10 ngày Không có

tử vong Biến chứng: xì miệng nối:0, khàn giọng:

01, viêm phổi:0, không có trường hợp nào

chuyển sang mổ mở

Có 1 trường hợp trong thì phẫu tích thực

quản cổ xuống trung thất, chúng tôi có dùng bộ

van banh tự chế đã được áp dụng tại bệnh viện

Bình Dân để giúp phẫu tích thực quản dễ hơn và

rõ ràng hơn

BÀN LUẬN

Cho đến nay, phẫu thuật vẫn là phương

pháp chính trong điều trị ung thư thực quản

trong những trường hợp còn cắt được Mục tiêu

quan trọng nhất của phẫu thuật là giảm thiểu

biến chứng và nhanh chóng cho bệnh nhân hồi

phục Việc lựa chọn phương pháp phẫu thuật

vẫn còn nhiều bàn cãi

Phẫu thuật cắt thực quản qua khe hoành đã

được Orriger triển khai từ năm1976(6) Cắt ra qua

khe hoành nội soi lần đầu tiên thực hiện năm

1995 do tác giả De Paula(1) Tác giả Nguyen NT

cũng đã có bài viết về cắt thực quản qua khe

hoành nội soi năm 2000(4)

Hạn chế của cắt thực quản qua khe hoành là

khó thực hiện đối với u từ 1/ 3 giữa, không nạo

hạch trung thất rộng rãi được

Hầu hết các tác giả chủ trương thực hiện cho

u 1/ 3 dưới đến tâm vị, u ở giai đoạn chưa xâm

lấn xung quanh

Chúng tôi chọn bệnh nhân có u nằm ở vùng

nối thân – tâm vị, và tâm vị, u ở giai đoạn từ T1 -

T3, không xâm lấn dọc bờ cong nhỏ vùng thân

hang vị, không có hạch vùng trung thất trên qua

đánh giá CT scan, không có di căn xa

Do đã có kinh nghiệm trong cắt thực quản

nội soi ngực bụng(5) và cắt thực quản qua khe

hoành mổ mở nên chúng tôi thực hiện việc cắt

thực quản qua khe hoành nội soi tương đối dễ

dàng, không có tai biến trong mổ thì phẫu tích

nội soi, lượng máu mất không đáng kể

Chúng tôi có 01 bệnh nhân sau mổ bị khàn

giọng do tổn thương thần kinh quặt ngược khi

phẫu tích thực quản cổ Để tránh biến chứng này, cần phẫu tích cẩn thận, rõ ràng, tìm thần kinh quặt ngược trước khi tiến hành cắt ngang thực quản cổ

Kết quả của các tác giả khác.(1,2,7)

n Chảy máu (ml)

Thời gian mổ (phút)

Xì miệng nối

Viêm phổi

Tử vong

Chuyển

mổ mở

DePaula

1995

Santin

BJ

Chúng tôi

Tỉ lệ xì miệng nối thực quản cổ theo y văn khoảng 10% Trong 10 ca của chúng tôi không có trường hợp nào xì miệng nối Theo tác giả Lukctich(3) có các phương pháp tránh xì miệng nối:

- ống dạ dày đủ dài

- Đường kính ống dạ dày cần > 4cm

- Tránh thao tác thô bạo khi cầm nắm, phẫu tích dạ dày

- Kĩ thuật khâu nối tốt Chúng tôi nối thực quản cổ-dạ dày bằng khâu tay, chỉ PDS 4.0 mũi Gambee liên tục Viêm phổi sau mổ: tỉ lệ viêm phổi sau mổ từ 10-20% Trong các ca mổ của chúng tôi dùng kháng sinh mạnh, phổ rộng, liều cao ngay từ đầu sau mổ và không có trường hợp nào bị viêm phổi sau mổ

Hẹp miệng nối thực quản cổ sau mổ chiếm

tỉ lệ 25%, đa số xảy ra trong 6 tháng đầu, cần phải nội soi thực quản nong chỗ hẹp Chúng tôi có 2 trường họp bị hẹp miệng nối trong 3 tháng đầu, có 2 trường hợp đều phải nong thực quản, 01 trường hợp nong 01 lần, 01 trường hợp nong 02 lần

KẾT LUẬN

Cắt thực quản qua khe hoành nội soi do ung thư thực quản đoạn nối thực quản tâm vị và tâm

vị khi u ở giai đoạn T1T3, có thể thực hiện an toàn bởi phẫu thuật viên nội soi thực quản kinh

Trang 4

Y Học TP Hồ Chí Minh * Tập 17 * Phụ bản của Số 1 * 2013 Nghiên cứu Y học

nghiệm và tại trung tâm lớn

TÀI LIỆU THAM KHẢO

transhiatal esophagectomy with esophagogastroplasty Surg

laparosc Endosc.; 5:1-5

invasive transhiatal esophagectomy with the inversion

approach Arch Surg.; 141: 857-866

Minimally Invasive Esophagectomy Outcomes in 222 patients

Ann Surg.; 238: 486-495

(2005) Esophagectomy via thoracoscopy and laparoscopy Asian J Surg Vol.8, suppl.1, 8/2005 page 11 ELSA 8-2005

minimally invasive esophagectomy with transthoracic and transhiatal esophagectomy Arch Surg.; 135: 920-925

treatment benign and maglinant esophageal disease World J Surg.; 25: 196-203

at a low volume cancer JSLS; 15: 41-46

Ngày đăng: 20/01/2020, 06:54

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w