1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Nghiên cứu biến chứng sớm trên bệnh nhân hội chứng động mạch vành cấp không ST chênh lên tại viện tim thành phồ hồ chí minh từ 09-2008 đến 08-2009

5 75 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 330,37 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu được tiến hành với mục tiêu nhằm mô tả có hệ thống các biến chứng sớm của nhóm bệnh cơn đau thắt ngực không ổn định và nhồi máu cơ tim không ST chênh lên. Mời các bạn cùng tham khảo bài viết để nắm rõ nội dung chi tiết của đề tài nghiên cứu này.

Trang 1

NGHIÊN CỨU BIẾN CHỨNG SỚM TRÊN BỆNH NHÂN

HỘI CHỨNG ĐỘNG MẠCH VÀNH CẤP KHÔNG ST CHÊNH LÊN TẠI VIỆN TIM THÀNH PHỒ HỒ CHÍ MINH TỪ 09/2008 ĐẾN 08/2009

Trần Tiến Tài*, Phạm Nguyễn Vinh**

TÓM TẮT

Đối tượng: Bệnh nhân hội chứng động mạch vành cấp không ST chênh lên (HCVCKSTCL) Viện Tim

Tp.Hồ Chí Minh từ 09/2008 đến 08/2009

Phương pháp: Nghiên cứu cắt ngang mô tả

Mục tiêu: Mô tả có hệ thống các biến chứng sớm của nhóm bệnh cơn đau thắt ngực không ổn định

(CĐTNKOĐ) và nhồi máu cơ tim không ST chênh lên (NMCTKSTCL)

Kết quả: Trong 1 năm, có tất cả 199 bệnh nhân thỏa tiêu chuẩn chọn lựa vào mẫu, trong đó số bệnh nhân có

biến chứng là 69, chiếm tỉ lệ 34,67% Trong nhóm có biến chứng, các bệnh nhân bị rối loạn nhịp chiếm tỉ lệ cao nhất với 67%, tiếp theo lần lượt là rối loạn dẫn truyền 16%, suy bơm 10%, huyết khối-thuyên tắc 6% và biến chứng cơ học 1% Ngoài ra, trong quá trình thực hiện nghiên cứu, bằng việc so sánh giữa nhóm biến chứng và nhóm không có biến chứng, chúng tôi cũng nhận thấy nhóm bệnh nhân không được tiếp nhận thủ thuật thông tim-đặt stent, có phân suất tống máu (EF) lúc nhập viện giảm và Troponin I tăng cao có nguy cơ mắc biến chứng lần lượt cao gấp 3 lần, 4,1 lần và 3,7 lần

Kết luận: Nhóm biến chứng thường gặp nhất là các biến chứng rối loạn nhịp Bên cạnh đó, yếu tố không

can thiệp mạch vành, sự suy giảm EF và sự gia tăng Troponin I lúc nhập viện làm tăng đáng kể nguy cơ bị biến chứng của các bệnh nhân CĐTNKOĐ và NMCTKSTCL

Đề xuất: Chúng tôi hi vọng các kết quả trên có thể đóng góp phần nào cho những nghiên cứu sâu hơn về

tiên lượng và dự phòng có hiệu quả các biến chứng sớm của HCĐMVC không ST chênh lên

Từ khóa: HCVCKSTCL, CĐTNKOĐ, NMCTKSTCL, biến chứng

ABSTRACT

STUDY OF EARLY COMPLICATIONS OF NON-ST-ELEVATION ACS

IN HEART INSTITUTE OF HO CHI MINH CITY FROM 09/2008 TO 08/2009

Tran Tien Tai, Pham Nguyen Vinh

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 15 - Supplement of No 2 - 2011: 177 - 181

Object: Patients with non-ST- elevation of ACS from 09/2008 to 08/2009

Method: Cross-sectional study of description

Subject: Describing in system early complications of UA and NSTEMI

Result: In one year, there are 199 patients suitable for admitting and excluding standards, in which the

number of patients having complications is 69 taking 34.67% In complication group, patients getting arrhythmia take the highest percentage 69.33% Moreover, conductions disorders, thrombus-obstruction and mechanical complications get 14.67%, 9.33%, 5.33% and 1.33% respectively On the other hand, in comparison between

*Bộ môn Sinh Lý–Sinh Lý Bệnh–Miễn Dịch Học – Trường ĐH Y Khoa Phạm Ngọc Thạch

* Bộ môn Nội Tổng Quát – Trường ĐH Y Khoa Phạm Ngọc Thạch

Trang 2

complication and non-complication group, we also realize that patients who have decreasing ejection fraction EF level, increasing Troponin I level and don’t receive cardiovascular-intervention therapy get the risk of acquired complications as 4.1, 3.7 and 3 times in turns

Conclusion: The most frequent group of complication is arrhythmia Besides,

non-cardiovascular-intervention, low EF level and high Troponin I level obviously increases the risk of acquiring complications of patients with UA and NSTEMI

Suggestion: We suggest further researches on cardiovascular-intervention, EF, Troponin I level for

prognosis and effective providing for complications of non-ST-elevation ACS

Key words: non-ST-elevation ACS, NSTEMI, UA, complication

ĐẶT VẤN ĐỀ

Nhồi máu cơ tim (NMCT) là bệnh lý nguy

hiểm đe doạ tính mạng do tắc nghẽn đột ngột

mạch máu nuôi tim Hiện nay NMCT là một

trong những bệnh thường gặp nhất ở các nước

phát triển và có xu hướng tăng nhanh ở các

nước đang phát triển Bệnh đang là vấn đề thời

sự hiện nay do mức độ trầm trọng, do tỉ lệ mắc

bệnh ngày càng tăng cũng như nhiều tiến bộ

trong chẩn đoán và điều trị(5)

Trên thế giới mỗi năm có 2,5 triệu người

chết do bệnh NMCT, trong đó 25% chết do

các biến chứng cấp và nếu qua khỏi giai đoạn

cấp cũng thường để lại một số biến chứng đôi

khi rất nặng nếu không được điều trị một

cách thỏa đáng Các biến chứng sớm của

NMCT rất phong phú và có thể chia làm các

nhóm: biến chứng cơ học, biến chứng rối loạn

nhịp, biến chứng suy tim…

Trong năm 2000, American Hospital

Association (AHA) đã công bố một danh từ mới:

Hội chứng động mạch vành cấp (HCVC) Theo

đó, HCĐMVC bao gồm: cơn đau thắt ngực

không ổn định (CĐTNKOĐ), NMCT cấp không

có ST chênh lên (NMCTKSTCL) và NMCT cấp

có ST chênh lên (NMCTSTCL) được phân loại

dựa vào đoạn ST chênh lên hay không chênh

lên Hai nhóm bệnh đầu tiên thuộc nhóm

HCVCKSTCL(4)

Tại Mỹ hằng năm có 1,4 triệu bệnh nhân

nhập viện vì CĐTNKOĐ và NMCTKSTCL(7)

vượt hẳn số bệnh nhân nhập viện vì

NMCTSTCL là 300.000 bệnh nhân Bên cạnh

đó, tiên lượng về lâu dài của nhóm bệnh

thuộc CĐTNKOĐ và NMCTKSTCL lại xấu hơn nhóm NMCTSTCL(3)

Ở Việt Nam, nếu như những năm 50, NMCT là bệnh hiếm gặp thì hiện nay hầu như ngày nào tại Viện Tim mạch Việt Nam cũng

có bệnh nhân NMCT cấp nhập viện(8) Tần suất mới mắc NMCTKSTCL là 3/1000 dân số, vượt hẳn NMCTSTCL(2)

Với thời gian có hạn và khả năng hạn chế, chúng tôi đã thực hiện nghiên cứu hồi cứu nhằm khảo sát biến chứng sớm để giúp các nhà lâm sàng có cái nhìn bao quát về đánh giá cũng như tiên lượng Hơn nữa chúng tôi cũng mong muốn kết quả thu được sẽ góp phần cho các nghiên cứu sâu hơn, chất lượng hơn để giúp cho thầy thuốc có nền tảng vững chắc trong quyết định điều trị, phù hợp với bệnh cảnh và đem lại tiên lượng tốt

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Với dân số đích là bệnh nhân bị HCVCKSTCL và dân số nghiên cứu là tất cả bệnh nhân bị HCVCKSTCL tại Viện Tim TP.HCM từ 09/2008 đến 08/2009, chúng tôi tiến hành nghiên cứu cắt ngang mô tả trên mẫu 199 bệnh nhân bị HCVCKSTCL tại Viện Tim

TP.HCM từ 01/09/2008 đến 31/08/2009

Về cỡ mẫu, dựa trên tỉ lệ (p) nghiên cứu của Aisha A.Ghamdi và cộng sự(0) là 0,068, 0,076 và 0,051, bằng chương trình EpiInfo 2002 với lựa chọn d=0,12 – con số phù hợp với khả năng thu thập dữ liệu của chúng tôi và α=0,05, chúng tôi

có được các cỡ mẫu (n) lần lượt là 90, 139 và 39

Từ đó, cỡ mẫu tối thiểu chúng tôi cần là 139

Trang 3

Tiêu chuẩn chọn lựa đối tượng vào mẫu bao

gồm: bệnh nhân còn hồ sơ lưu trữ, hồ sơ lưu trữ

không bị trùng lắp và được chẩn đoán trong

phiếu tổng kết ra viện là NMCTKSTCL hoặc

CĐTNKOĐ Ngoài ra, tiêu chuẩn loại trừ là

chẩn đoán trong phiếu tổng kết ra viện không

nằm trong nhóm HCVCKSTCL Và dựa trên

những tiêu chuẩn trên, bằng phương pháp chọn

mẫu thuận tiện, chúng tôi thu thập được 199 ca

từ 356 hồ sơ bệnh án do phòng Y Vụ viện Tim

TP.HCM cung cấp được đánh số thứ tự từ 1 đến

356

Dữ liệu sau khi thu thập được phân tích

bằng phần mềm STATA 10 với phép kiểm chi

bình phương và ngưỡng thống kê được ấn định

ở mức 0,05 để tìm sự khác biệt có ý nghĩa thống

kê nếu có

KẾT QUẢ

Qua kết quả phân tích trên 69 ca xuất hiện

biến chứng sớm trên bệnh nhân HCVCKSTCL

trên 199 bệnh nhân tại Viện Tim từ 09/2008

đến 08/2009 Chúng tôi rút ra một số kết luận

như sau:

Dịch tễ học – Lâm sàng - Cận lâm sàng

Tuổi trung bình xuất hiện biến chứng là

69,130, cao nhất là 88, thấp nhất là 31 và số trung

vị là 72 (59-79)

Tỉ lệ nam nữ xuất hiện biến chứng là: nữ

chiếm 49,28%, nam 50,72%

Các yếu tố nguy cơ xuất hiện theo thứ tự là:

tăng huyết áp 71,01%, đái tháo đường 40,58%,

hút thuốc lá 30,43%, nhồi máu cơ tim cũ 18,84%,

suy tim 15,94%, rối loạn lipid máu 15% và thiếu

máu cơ tim cục bộ 14,49%

Triệu chứng cơ năng: Thời gian nhập viện

trong 48h đầu chiếm đa số 47,83% Đau ngực

không điển hình chiếm nhiều nhất 63,77%, và

đau ngực là triệu chứng nổi bật khiến bệnh

nhân nhập viện Các triệu chứng thường gặp

khác như: vã mồ hôi 33,33%, mệt 31,88%, và

khó thở 21,74%

Triệu chứng thực thể: huyết áp trong giới

hạn bình thường chiếm đa số là hơn 60%

Cận lâm sàng: bạch cầu lúc nhập viện tăng >

12.000 nghìn bạch cầu/ml chiếm 11,76%, glucose

lúc nhập viện tăng >6,1mmol/l chiếm 46,94%, CRP tăng >5 mg/L chiếm 64,81%, ST chênh

xuống chiếm 46,38%

Troponin I và EF lúc nhập viện

Bảng 1: Tỉ lệ các nhóm động học Troponin I

Không biến

Bảng 2: Tỉ lệ các nhóm EF lúc nhập viện

Biến

Không biến chứng

3 (91,15%) 113

Các thang điểm phân loại

Theo phân loại của Braunwald thì nhóm I và III chiếm nhiều nhất 35,59%, theo thang điểm của ACC/AHA nhóm nguy cơ cao chiếm 73,91%, theo thang điểm TIMI thì nhóm trung bình chiếm 53,62%

Can thiệp mạch vành

Bảng 3: Tỉ lệ các nhóm can thiệp mạch vành

Biến chứng 47 (68,12%) 22 (31,88%) 69 Không biến chứng 54 (41,54%) 76 (58,46%) 130

Biến chứng sớm

Có 69 trường hợp xảy ra biến chứng trên tổng số 199 trường hợp hội chứng mạch vành cấp không ST chênh lên chiếm tỉ lệ gần 34,67%

và không ghi nhận trường hợp nào tử vong

- Biến chứng rối loạn nhịp: biến chứng rối loạn nhịp chiếm nhiều nhất, 69,33% trong số các

ca có biến chứng Trong đó các biến chứng xuất hiện theo thứ tự như: nhịp nhanh xoang chiếm 8,04%, rung nhĩ chiếm 7,54%, nhịp chậm xoang chiếm 4,52%, và rung thất và ngoại tâm thu với

tỉ lệ như nhau là 3,02%

Trang 4

- Biến chứng suy bơm: biến chứng suy

bơm chiếm 3,52%, trong đó 50% là xảy ra

trong tuần đầu

- Biến chứng cơ học: chỉ ghi nhận được 1

trường hợp là biến chứng túi phình thất trái vào

tuần đầu

- Các biến chứng khác: Theo thống kê, block

nhánh phải chiếm 4,52%, block nhánh trái

1,01%, tái phát NMCT là 2,01%

BÀN LUẬN

Theo các kết quả nghiên cứu, bên cạnh các

kết quả khảo sát về lâm sàng, cận lâm sang, các

thang điểm phân loại, nghiên cứu của chúng tôi

thu được một số kết quả nổi bật, đó là khác biệt

giữa 2 nhóm có và không có biến chứng:

- Bệnh nhân xuất hiện biến chứng sớm có EF

giảm chiếm 28,57% Và bệnh nhân có EF giảm có

nguy cơ mắc biến chứng gấp 4,1 lần bệnh nhân

có EF bình thường (p=0,0006)

- Bệnh nhân xuất hiện biến chứng sớm có

men tim tăng chiếm 54,41% Và bệnh nhân có

Troponin I tăng có nguy cơ mắc biến chứng gấp

3,7 lần bệnh nhân có Troponin I trong giới hạn

bình thường (p=0,0000) Kết quả này phù hợp

với y văn: tử vong trong 30 ngày đầu của

NMCT có liên quan đến sự tăng nồng độ

Troponin I(1)

- Nhóm bệnh nhân được can thiệp mạch

vành xuất hiện biến chứng ít hơn nhóm không

được can thiệp, 31,88% so với 68,12% Chúng tôi

nhận thấy nhóm không can thiệp mạch vành có

nguy cơ mắc biến chứng gấp 3 lần nhóm có can

thiệp mạch vành (p=0,0004) Điều này phù hợp

với y văn: tái lưu thông động mạch vành hiệu

quả tốt cả tử vong lẫn tái phát NMCT(6)

Tuy có mặt của các thủ thuật thông tim và

đặt stent, sự gia tăng Troponin I với ngưỡng

>0,4 và sự suy giảm EF ≤40 vẫn thể hiện sự khác

biệt có ý nghĩa thống kê, điều này cho thấy 2 chỉ

số Troponin I và EF lúc nhập viện có vai trò

quan trọng trong việc tiên lượng gần nói chung

và các biến chứng nói riêng

Trong thực tế hầu hết các nghiên cứu lâm sàng trên thế giới nói chung và tại Việt Nam nói riêng đều tập trung vào NMCT nói chung, đây

là nghiên cứu đầu tiên tại Việt Nam về biến chứng của HCVCKSTCL, tuy chỉ dừng lại ở mức khảo các biến chứng của hội chứng nhưng chúng tôi hi vọng kết quả nghiên cứu của mình

sẽ làm tiền đề cho các nghiên cứu sâu hơn về HCVCKSTCL – một nhánh của HCVC có tỉ lệ xuất hiện ngày càng tăng

KẾT LUẬN

Kết lại, chúng tôi đề xuất cần có sự lưu ý đến 2 chỉ số Troponin I và EF lúc nhập viện để

có việc phòng ngừa các biến chứng hiệu quả hơn, tuy nhiên cũng cần có những nghiên cứu

để xác định rõ hơn vai trò của cả 3 yếu tố trên

do trong nghiên cứu của chúng tôi chưa xác định rõ tương quan về thời gian giữa can thiệp mạch vành với sự biến đổi của 2 yếu tố Troponin I và EF lúc nhập viện

Bên cạnh đó, đối với các yếu tố nguy cơ, chúng tôi không tìm thấy khác biệt có ý nghĩa thống kê nào giữa 2 nhóm có và không có biến chứng về sự hiện diện của các yếu tố được đưa

ra, tuy nhiên chúng tôi đề xuất vẫn cần lưu ý đến các yếu tố nguy cơ có thể kiểm soát được như tăng huyết áp, hút thuốc lá, đái tháo đường, rối loạn lipid máu vì kết quả không khác biệt này có thể gây ra bởi các thủ thuật thông tim và stent Và chúng tôi cũng đề xuất những nghiên cứu khác nhằm xác định tương quan giữa các yếu tố nguy cơ bệnh mạch vành với can thiệp mạch vành để có cái nhìn rõ ràng hơn mối liên

hệ giữa chúng

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Aisha A, Al G (2005): Risk factors and outcome of medically treated acute coronary syndromes The Journal of King Abdulaziz

University - Medical Sciences 12(23/2/2005): p 85-96

2 (1996) N.Engl J Med 335: p 1333-1341

3 Bassand JP, (2007): Guidelines for the diagnosis and treatment of non-ST segment elevation acute coronary syndrome

4 Braunwald, Unstable Angina and Non–ST-Elevation Myocardial Infarction Heart disease 8th: p 1319-1339

5 Nguyễn Thị Ngọc Dung (1998): Khảo sát đặc điểm lâm sàng và điện tâm đồ 40 trường hợp tử vong trong thời gian nằm viện của

NMCT Kỷ yếu toàn văn các đề tài khoa học 16: p 303-09

Trang 5

6 Phan Tuấn Đạt (2008): Nghiên cứu những yếu tố tiên lượng ở bệnh

nhân bị hội chứng mạch vành cấp (đau thắt ngực không ổn định và

nhồi máu cơ tim không ST chênh) Tạp chí tim mạch học 50(2008):

p 42-51

7 Gines CL, ES, Jones M (1999): Primary coronary angioplasty VS

thrombolytic therapy for acute myocardial infarction: Long term

follow-up of ten randomised trials circulation, (1-499)

8 Nguyễn Lân Việt, Phạm Mạnh Hùng (2006): Khuyến cáo của hội tim mạch học VN về chẩn đoán, điều trị đau thắt ngực không ổn định

và nhồi máu cơ tim không có ST chênh lên Nhà xuất bản y học: p

107-136

9 Nguyễn Lân Việt (2007): Thực hành bệnh tim mạch, Nhà xuất bản

y học: p 17-36

Ngày đăng: 20/01/2020, 06:45

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w