1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Đánh giá tương quan xương giữa hai hàm theo chiều trước sau (nghiên cứu trên phim sọ nghiêng)

7 78 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 343,8 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nội dung bài viết với mục tiêu xác định giá trị và mối tương quan giữa các số đo góc và kích thước đánh giá tương quan xương giữa hai hàm theo chiều trước sau. Nghiên cứu khảo sát trên 138 phim sọ nghiêng trước điều trị. Mời các bạn cùng tham khảo bài viết.

Trang 1

ĐÁNH GIÁ TƯƠNG QUAN XƯƠNG GIỮA HAI HÀM THEO CHIỀU

TRƯỚC-SAU (NGHIÊN CỨU TRÊN PHIM SỌ NGHIÊNG)

Trần Thị Hoàng Yến*, Đống Khắc Thẩm** TÓM TẮT

Mục tiêu: Xác định giá trị và mối tương quan giữa các số đo góc và kích thước đánh giá tương quan xương

giữa hai hàm theo chiều trước-sau

Đối tượng và phương pháp: 138 phim sọ nghiêng trước điều trị được chia thành 3 nhóm (kiểu hình xương

hạng I, II, III, mỗi nhóm 23 nam, 23 nữ) theo góc ANB và số đo Wits Đo đạc các số đo góc (góc FABA, Beta, W, ACoGn, NSBa+SBaMe), kích thước AF-BF và tỷ số CoGn/CoA Xác định giá trị trung bình và độ lệch chuẩn của các biến số nghiên cứu ở từng hạng xương, sự khác biệt (nếu có) giữa ba hạng xương, mối tương quan giữa các

biến số nghiên cứu và giá trị trong phân loại hạng xương của các biến số nghiên cứu

Kết quả và kết luận: Tất cả các biến số nghiên cứu đều có giá trị trung bình khác biệt có ý nghĩa giữa ba

hạng xương, có mối tương quan với nhau theo từng cặp ở nhiều mức độ khác nhau và có ý nghĩa trong việc phân

loại hạng xương theo chiều trước-sau

Từ khóa: Số đo góc, số đo kích thước, tương quan xương theo chiều trước-sau, phân tích phim sọ nghiêng ABSTRACT

SAGITTAL SKELETAL RELATIONSHIP BETWEEN MAXILLA AND MANDIBLE

(A CEPHALOMETRIC STUDY)

Tran Thi Hoang Yen, Dong Khac Tham

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 19 - Supplement of No 2 - 2015: 75 - 81

Objectives: The objective of this study determine the reliability and correlation between the angular and

linear measurements the sagittal skeletal relationship between maxilla and mandible

Materials and method: 138 pre-treatment lateral cephalograms were divided into 3 groups (class I, II, III

skeletal pattern, 23 males and 23 females for each group) according to ANB angle and Wits measurement Angular measurements (FABA, Beta, W, ACoGn, NSBa+SBaMe), AF-BF linear measurement and CoGn/CoA ratio were determined Mean and standard deviation of all variables were calculated; the difference among 3 groups, the correlation between each pair of variables and the reliability in differentiating skeletal patterns of each

variable were determined

Results and conclusions: There was significant difference of the mean values among 3 groups, significant

correlations between each pair of variables and remarkable reliability in differentiating skeletal patterns

Keywords: angular measurement, linear measurement, sagittal skeletal pattern, cephalometric analysis

MỞ ĐẦU

Trong quá trình chẩn đoán và lên kế hoạch

điều trị chỉnh hình răng mặt, việc đánh giá

tương quan xương giữa hai hàm theo chiều

trước-sau là một trong những bước rất cần thiết

Ban đầu, tương quan này được xác định bằng những quan sát trên lâm sàng và mẫu hàm của bệnh nhân Nhưng kể từ năm 1931, người ta nhận thấy có thể xác định chính xác tương quan xương giữa hai hàm theo chiều trước-sau một

* Khoa Răng Hàm Mặt, ĐH Y Dược, TP.Hồ Chí Minh

Trang 2

cách chính xác hơn, dựa trên các số đo góc hay

số đo kích thước được đo đạc trên phim sọ

nghiêng(1) Trong đó, số đo góc ANB (Riedel)(15)

và số đo Wits AO-BO (Jacobson)(10) là những

thông số thường được sử dụng nhất Tuy nhiên,

một số nghiên cứu về hình thái sau đó đã chỉ ra

vài yếu tố ảnh hưởng lên giá trị của chúng(7,9) và

nhiều tác giả đã khuyên nên sử dụng phối hợp

số đo góc ANB và số đo Wits (Jacobson(10);

Ishikawa(8), Nanda(13))

Các nhà nghiên cứu luôn mong muốn tìm

ra những thông số khác xác định được chính

xác tương quan xương hàm theo chiều

trước-sau, Yang và cs(17) sử dụng góc FABA hợp bởi

mặt phẳng AB và mặt phẳng FH Năm 1987,

Chang(5) đề nghị dùng kích thước AF-BF dựa

trên mặt phẳng FH thay vì AO-BO Vào năm

2004, Baik và Ververidou(3) giới thiệu góc Beta

và gần đây là đề nghị sử dụng góc W của

Bhad và cs năm 2011(4)

Tại Việt Nam, Đống Khắc Thẩm (2010)(6) phát

hiện tứ giác sọ mặt NSBaMe (tứ giác H) có tổng

số đo hai góc NSBa và SBaMe luôn không thay

đổi và Lữ Minh Lộc (2011)(12) nhận thấy giá trị

trung bình của tổng số đo hai góc trên và tỷ số

giữa chiều dài hiệu quả của xương hàm dưới và

chiều dài hiệu quả của tầng giữa mặt

(CoGn/CoA) khác biệt có ý nghĩa giữa ba nhóm

xương hạng I, II, III Điều này gợi ý hai số đo

trên có thể có giá trị trong việc phân loại kiểu

hình xương theo chiều trước-sau

Tại Việt Nam có rất ít nghiên cứu về các số

đo góc và kích thước nêu trên Vì vậy, chúng

tôi thực hiện nghiên cứu này để xác định giá

trị và mối tương quan giữa các số đo góc và

kích thước (góc ANB, góc FABA, góc Beta, góc

W, góc ACoGn, tổng hai góc (NSBa+SBaMe),

kích thước AO-BO, kích thước AF-BF, tỷ số

CoGn/CoA) nhằm có một cái nhìn bao quát

hơn về các số đo này

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP

Mẫu nghiên cứu được chọn từ nhóm các

bệnh nhân độ tuổi 15-35 được chụp phim lần

đầu khi đến khám và điều trị chỉnh hình tại khoa Răng Hàm Mặt trường ĐHYD TPHCM, 138 phim sọ nghiêng được chia thành ba nhóm dựa vào tiêu chuẩn phân loại hạng xương theo số đo góc ANB (theo Tweed và Steiner(16)) và số đo Wits (theo Profitt(14)) cụ thể như sau:

Nhóm 1: kiểu hình xương hạng I với góc ANB từ 0°-4° và số đo Wits từ -4mm đến 2,1mm Nhóm 2: kiểu hình xương hạng II với góc ANB>4° và số đo Wits>2,1 mm

Nhóm 3: kiểu hình xương hạng III với góc ANB<0° và số đo Wits<-4mm

Tiêu chuẩn chọn mẫu

Là người Việt Nam, dân tộc Kinh

Có đầy đủ 28 răng vĩnh viễn (không kể răng 8) đã mọc, không có răng mọc kẹt

Không có điều trị chỉnh hình trước đó

Không có những chấn thương hàm mặt, các bất thường hàm mặt do bệnh lý

Đã qua đỉnh tăng trưởng (hình ảnh đốt sống cổ trên phim sọ nghiêng ở giai đoạn CS6(2) trở lên)

Góc SN-GoGn= 32±5º (theo Riedel(15))

Chiều dài nền sọ trước trong giới hạn bình thường (theo Lữ Minh Lộc(12)):

SN = 73,81±2,76 mm ở nam

SN = 67,6±3,01 mm ở nữ

Trang thiết bị

Loại phim sử dụng: Phim tia X hiệu Kodak Dental Film cỡ 8×10 inch (T,MarTM CAT 2589852) (20,3×25,4 cm) được tăng cường độ nhạy của phim với tia X bằng cassette hiệu Kodak Lanex Regular Screen 8×10 inch có chứa cửa sổ để ghi

mã số của đối tượng nghiên cứu

Máy chụp phim: hiệu PANEX-EC số hiệu X100 EC-9405 (Nhật), với loại ống đầu dài 65

KVP, 10mA trong thời gian từ ½ đến 1½ giây

Kỹ thuật chụp phim

Đối tượng được chụp phim ở tư thế đứng, với đầu ở tư thế tự nhiên, hai môi khép kín, răng

Trang 3

ở cắn khít trung tâm Đầu bên trái của đối tượng

nghiên cứu tiếp xúc với phim để giảm độ phóng

đại và méo lệch Chùm tia X đi qua tai ngoài và

thẳng góc với phim Khoảng cách từ đầu côn đến

mặt phẳng dọc giữa của đối tượng nghiên cứu là

1,52m, Bệnh nhân được mặc áo chì bảo hộ khi

chụp phim

Tất cả các phim được chụp bởi một kỹ thuật

viên tại bộ môn tia X, khoa Răng Hàm Mặt, đại

học Y Dược TPHCM

Vẽ nét phim sọ nghiêng

Tất cả các phim sọ nghiêng đúng tiêu chuẩn

nghiên cứu (chụp rõ nét, khớp cắn ở tư thế cắn

khít trung tâm, thấy đầy đủ hình ảnh các đốt

sống cổ C2, C3, C4) đều do một người vẽ nét trên

giấy vẽ nét chuyên dùng trong chỉnh hình răng

mặt với viết chì đường kính nhỏ 0,5mm

Để vẽ nét, đặt phim lên hộp xem phim với

mặt bệnh nhân trên phim quay sang phải Sử

dụng giấy can 0,003 matte và viết chì đầu nhọn

0,5mm đồ lại các cấu trúc cần nghiên cứu theo

phương pháp vẽ nét đã được thống nhất trên thế

giới (nếu cấu trúc có hai hình ảnh, vẽ theo đường

giữa của hai hình ảnh)

Các giá trị đo đạc

Các số đo góc

- Góc ANB: góc tạo bởi hai đường thẳng NA

và NB

- Góc FABA: góc tạo bởi mặt phẳng AB và

mặt phẳng FH

- Góc Beta: góc tạo bởi đường thẳng vuông

góc với BC qua A và đường thẳng AB

- Góc W: góc tạo bởi đường thẳng vuông góc

với SG qua M và đường thẳng MG (với M là

điểm giữa xương tiền hàm hàm trên và G là tâm

của vòng tròn lớn nhất tiếp xúc với bề mặt phía

dưới trong, phía trước và phía sau của phần cằm

xương hàm dưới)

- Góc ACoGn: góc tạo bởi hai đường thẳng

CoA và CoGn

- (NSBa+SBaMe): tổng góc nền sọ và góc nền

sọ-hàm dưới

Các số đo kích thước

- Kích thước AO-BO (số đo Wits): kích thước giữa hình chiếu của A và B lên mặt phẳng khớp cắn chức năng

- Kích thước AF-BF: kích thước giữa hình chiếu của A và B lên mặt phẳng FH

- CoGn/CoA: tỷ số giữa chiều dài hiệu quả của xương hàm dưới và chiều dài hiệu quả của

tầng giữa mặt

Cách đo

- 138 phim sọ nghiêng được vẽ nét và scan vào máy vi tính

- Chuẩn hóa hình ảnh đã scan vào máy vi tính theo tỷ lệ 1:1 so với bản vẽ nét

- Dùng phần mềm AutoCad 2010 để vẽ các đường thẳng, mặt phẳng, các góc độ và tiến hành đo đạc các góc độ và kích thước theo mục tiêu đã đề ra

- Sau 4 tuần, tiến hành chọn ra ngẫu nhiên 20 phim sọ nghiêng trong mẫu nghiên cứu, người

vẽ vẽ nét lại phim sọ nghiêng và người đo tiến hành chuẩn hóa và đo lại lần thứ hai (phương pháp kiểm–tái kiểm) Đối với mỗi số đo, tính toán hệ số tương quan ICC (intra-class correlation) giữa hai lần đo Độ kiên định được chấp nhận khi r ≥ 0,8 Hệ số ICC tính giữa hai lần

đo ở từng biến số trong nghiên cứu này đều có giá trị > 0,98 Như vậy, các phép đo có độ kiên

định cao, đảm bảo tính tin cậy của số liệu

Xử lý số liệu

- Các số liệu, dữ kiện thu thập được nhập vào máy vi tính và lưu lại

- Sử dụng phần mềm SPSS 19,0 để phân tích

và xử lý số liệu đã thu thập

- Thống kê mô tả: xác định giá trị nhỏ nhất, giá trị lớn nhất, giá trị trung bình và độ lệch chuẩn của mỗi biến số nghiên cứu

- Thống kê suy lý: xác định sự khác biệt nếu

có của các biến số nghiên cứu giữa nam và nữ

Trang 4

trong từng kiểu hình xương và giữa ba loại kiểu

hình xương

- Dùng đường cong ROC để xác định điểm

cắt phân loại hạng xương I, II, III của các số đo

góc và kích thước mới và giá trị trong phân loại

hạng xương của chúng

- Xác định độ nhất trí của các phương pháp

phân loại hạng xương bằng hệ số Kappa

- Đo lường hệ số tương quan giữa các biến số

nghiên cứu bằng tương quan Pearson

KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN

Trong nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng

phim sọ nghiêng để đo lường các số đo góc và

kích thước đánh giá tương quan xương giữa hai

hàm theo chiều trước-sau Thời điểm tăng

trưởng của xương hàm trên và xương hàm dưới

khác nhau Do đó, tương quan xương theo chiều

trước-sau gữa hai hàm được xác định chính xác khi chiều dài của hai xương hàm đạt được kích thước tối đa, là thời điểm mà xương hàm dưới

đã phát triển hoàn tất

Việc đánh giá các giai đoạn trưởng thành đốt sống cổ có thể giúp cho việc đánh giá mức độ trưởng thành của các xương hàm(2) Sự tăng trưởng chậm dần lại và gần như hoàn tất vào giai đoạn CS6 (tức là sau đỉnh tăng trưởng từ

15-24 tháng)(14) Vì vậy, chúng tôi chọn mẫu nghiên cứu bao gồm những đối tượng có hình ảnh đốt sống cổ trên phim sọ nghiêng từ giai đoạn CS6 nhằm đảm bảo xương hàm trên và xương hàm dưới của cả nam và nữ đều đạt được sự ổn định

về kích thước

Bảng 1: So sánh giá trị trung bình các số đo góc và kích thước đánh giá tương quan xương theo chiều trước-sau ở

ba hạng xương

ANB ( ) 2,59 ± 0,82 6,81 ± 1,45 -3,47 ± 2,14 <0,001*** FABA ( ) 83,94 ± 2,86 75,12 ± 4,22 95,95 ± 6,04 <0,001*** Beta ( ) 35,67 ± 2,77 28,95 ± 3,62 47,36 ± 5,11 <0,001***

W ( ) 58,32 ± 2,33 54,27 ± 2,76 65,01 ± 3,49 <0,001*** AO-BO (mm) -1,85 ± 1,53 3,88 ± 1,52 -12,43 ± 4,06 <0,001*** AF-BF (mm) 4,43 ± 2,21 11,04 ± 3,45 -4,65 ± 4,40 <0,001*** CoGn/CoA 1,32 ± 0,05 1,28 ± 0,05 1,44 ± 0,07 <0,001*** ACoGn ( ) 29,86 ± 1,98 31,57 ± 2,53 26,76 ± 2,37 <0,001*** (NSBa + SBaMe) ( ) 229,20 ± 2,50 231,63 ± 4,05 227,20 ± 3,24 <0,001***

p: Phân tích ANOVA một yếu tố

***: sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,001

Chúng tôi sử dụng đồng thời số đo góc ANB

và số đo Wits để phân loại hạng xương theo

chiều trước-sau Bên cạnh đó, nhằm làm tăng độ

tin cậy khi sử dụng góc ANB để phân loại hạng

xương, chúng tôi chọn những đối tượng có chiều

dài nền sọ trước (SN) bình thường và độ

nghiêng của hàm dưới so với mặt phẳng SN (góc

SN-GoGn) trong giới hạn bình thường

Kết quả cho thấy tất cả các số đo góc và kích

thước trong nghiên cứu đều có giá trị trung bình

khác biệt có ý nghĩa giữa ba nhóm kiểu hình xương hạng I, II, III (bảng 1)

Các số đo góc FABA, góc Beta, góc W và tỷ

số CoGn/CoA có giá trị trung bình tăng dần theo thứ tự kiểu hình xương hạng II < hạng I < hạng III, Số đo góc ACoGn, tổng hai góc (NSBa+SBaMe) và kích thước AF-BF có giá trị trung bình tăng dần theo thứ tự kiểu hình xương hạng III < hạng I < hạng II

Khi so sánh giữa hai giới trong từng hạng xương, không có sự khác biệt có ý nghĩa giữa

Trang 5

nam và nữ ngoại trừ số đo góc W và tỷ số

CoGn/CoA ở hạng III xương

Như vậy, số đo kích thước AF-BF và góc FABA

có giá trị trong việc đánh giá tương quan xương giữa

hai hàm theo chiều trước-sau Điều này củng cố cho

ý kiến của Chang(5) và Kannan(11) đề nghị sử

dụng số đo AF-BF và góc FABA trong phân loại

hạng xương Nó giúp loại bỏ việc sử dụng mặt

phẳng khớp cắn chức năng nên có thể áp dụng

cho tất cả bệnh nhân không quan tâm đến tình

trạng răng của họ như thế nào(5) Kannan và cs(11)

kết luận rằng sử dụng góc FABA để đánh giá

tương quan xương hàm theo chiều trước-sau

chính xác hơn so với các số đo góc và kích thước

khác Tuy nhiên, khó xác định mặt phẳng FH

trên phim sọ nghiêng và lưu ý khi khoảng cách

theo chiều đứng giữa hai điểm A, B giảm, độ lớn

góc FABA cũng giảm và ngược lại

Góc Beta sử dụng ba điểm trên xương hàm: điểm A, điểm B và điểm trục lồi cầu C Góc W sử dụng ba điểm chuẩn ổn định là S, M và G Hình thái của góc Beta và góc W có ưu điểm là vẫn giữ giá trị độ lớn của góc tương đối ổn định khi có sự xoay của xương hàm hay sự tăng trưởng theo chiều đứng Vì thế, góc Beta và góc W là những

số đo hữu ích trong việc xác định tương quan xương giữa hai hàm theo chiều trước-sau, đặc biệt ở những bệnh nhân có sự xoay cùng của các xương hàm cũng như trong giai đoạn chuyển tiếp khi sự tăng trưởng mặt theo chiều đứng đang diễn ra Chúng có thể được sử dụng để đánh giá tiến trình điều trị vì phản ánh được những thay đổi thật sự theo chiều trước-sau hai xương hàm

Hình 1: Góc Beta tương đối ổn định ngay cả khi xương

hàm bị xoay (3)

Hình 2: Góc W giữ độ lớn tương đối ổn định khi

xương hàm xoay (4)

Kết quả nghiên cứu tương đồng với nghiên

cứu của Lữ Minh Lộc(12) khi kết luận rằng tỷ số

CoGn/CoA tăng dần và góc ACoGn giảm dần từ

xương hạng II đến hạng I đến hạng III với sự

khác biệt rất có ý nghĩa giữa ba hạng xương;

tổng số đo hai góc (NSBa + SBaMe) cũng khác

biệt có ý nghĩa giữa ba hạng xương (bảng 1)

Như vậy, đó là những số đo mới có ý nghĩa

trong việc phân loại hạng xương theo chiều trước-sau

Y văn cho thấy hầu hết các số đo đánh giá tương quan xương giữa hai hàm theo chiều trước-sau đều có nhược điểm riêng Vì vậy, chúng tôi phân tích tương quan giữa từng cặp số

đo nhằm xác định những số đo nào có mối tương quan chặt chẽ với nhau, hỗ trợ nhau trong chẩn đoán Kết quả tính hệ số tương quan

Trang 6

Pearson giữa từng cặp biến số nghiên cứu cho

thấy tất cả các biến số nghiên cứu đều có tương

quan có ý nghĩa với nhau theo từng cặp ở các

mức độ khác nhau (bảng 2)

Bảng 2: Hệ số tương quan Pearson (r) giữa các số đo góc và kích thước trong cả 3 nhóm (n=138),

ANB AO-BO (NSBa+ SBaMe) CoGn/ CoA ACoGn FABA AF-BF Beta W

ANB Hệ số r 1 0,948

**

0,525** -0,823** 0,736** -0,941** 0,936** -0,925** -0,900** Giá trị p 0,000 0,000 0,000 0,000 0,000 0,000 0,000 0,000

**

-0,835** 0,684** -0,905** 0,903** -0,933** -0,876** Giá trị p 0,000 0,000 0,000 0,000 0,000 0,000 0,000

**

0,657** -0,586** 0,601** -0,370** -0,343** Giá trị p 0,005 0,000 0,000 0,000 0,000 0,000

**

0,792** -0,770** 0,927** 0,933**

**

0,811** -0,634** -0,620**

**

0,916** 0,876**

**

-0,862**

**

Giá trị p

Bảng 3: Giá trị điểm cắt phân loại hạng xương I, II,

III của các số đo góc và kích thước đánh giá tương

quan xương giữa hai hàm theo chiều trước-sau

phân biệt Giá trị Độ nhạy

Độ đặc hiệu

Góc Beta ( ) Hạng I và II 32,77 0,891 0,946

Hạng I và III 39,38 0,978 0,957

Góc W ( ) Hạng I và II 56,13 0,804 0,946

Hạng I và III 60,55 0,913 0,913

Góc FABA ( ) Hạng I và II 79,94 0,913 0,967

Hạng I và III 88,78 0,935 0,978

Tỷ số CoGn/CoA Hạng I và II 1,33 0,870 0,717

Hạng I và III 1,36 0,891 0,902 Tổng hai góc

(NSBa+SBaMe) ( )

Hạng I và II 230,28 0,609 0,728

Hạng I và III 226,33 0,478 0,880

Góc ACoGn ( ) Hạng I và II 29,49 0,826 0,696

Hạng I và III 28,73 0,870 0,804 Kích thước AF-BF

(mm)

Hạng I và II 8,09 0,848 1,000

Hạng I và III 0,82 0,957 0,989

Kết quả ứng dụng đường cong ROC đã

giúp xác định được các điểm cắt phân loại

kiểu hình xương hạng I, II, III của các biến số

nghiên cứu (bảng 3) Điều này giúp cho việc

áp dụng các số đo góc và kích thước trong

nghiên cứu dễ dàng và thuận tiện hơn

Khi thực hiện so sánh độ nhạy, độ đặc hiệu

của các biến số nghiên cứu trong việc phân

loại kiểu hình xương, chúng tôi so sánh diện

tích dưới đường cong (Area Under the Curve:

AUC) Biến số nào có AUC lớn nhất sẽ có giá

trị cao nhất để phân loại kiểu hình xương Kết quả nghiên cứu cho thấy các số đo FABA,

AF-BF, Beta, W có diện tích dưới đường cong cao hơn ba biến số còn lại (bảng 4) Điều này có nghĩa là các số đo góc FABA, kích thước

AF-BF, góc Beta, góc W có giá trị phân biệt giữa kiểu hình xương hạng I và II; hạng I và hạng III cao hơn so với tỷ số CoGn/CoA, góc ACoGn và tổng hai góc (NSBa + SBaMe)

Bảng 4: Giá trị diện tích dưới đường cong của các số

đo góc và kích thước trong việc phân biệt kiểu hình xương giữa hạng I và II, giữa hạng I và III

Biến số Diện tích dưới đường cong (AUC)

Tỷ số CoGn/CoA 0,862 0,940 Tổng hai góc

(NSBa+SBaMe) 0,731 0,736

Kích thước AF-BF 0,981 0,988

Từ các điểm cắt phân loại xương hạng I, II, III

đã xác định của các biến số nghiên cứu, chúng tôi phân loại hạng xương lại theo các biến số này

và so sánh với cách phân loại hạng xương như ban đầu của nghiên cứu bằng cách tính hệ số

Trang 7

Kappa Hệ số Kappa cho biết mức độ đồng

thuận giữa hai cách phân loại kiểu hình xương

Theo kết quả nghiên cứu, phân loại kiểu

hình xương theo các số đo AF-BF, FABA, Beta có

hệ số Kappa > 0,8, số đo góc W có Kappa > 0,7,

tức là có mức độ nhất trí cao và khá cao so với

cách phân loại kiểu hình xương kết hợp số đo

góc ANB và số đo Wits (bảng 5) Kết quả trên có

ý nghĩa trong việc chẩn đoán tương quan xương

giữa hai hàm theo chiều trước-sau vì sẽ đơn giản

hóa được bước chẩn đoán khi chỉ sử dụng một

số đo góc hoặc kích thước (kích thước AF-BF,

góc FABA, góc Beta, góc W) mà có thể cho kết

quả nhất trí cao/khá cao so với việc sử dụng kết

hợp đồng thời số đo ANB và Wits

Bảng 5: Hệ số Kappa giữa các cách phân loại hạng

xương với nhau,

Phân loại dựa vào Góc ANB + số đo Wits

Tỷ số CoGn/CoA 0,533

Tổng hai góc (NSBa+SBaMe) 0,283

Kích thước AF-BF 0,891

KẾT LUẬN

Qua nghiên cứu này, chúng tôi nhận thấy:

1 Các số đo góc FABA, góc Beta, góc W,

góc ACoGn, tổng hai góc (NSBa+SBaMe), kích

thước AF-BF và tỷ số CoGn/CoA có giá trị

trung bình khác biệt có ý nghĩa giữa ba nhóm

kiểu hình xương hạng I, II, III Không có sự

khác biệt có ý nghĩa giữa nam và nữ trong

từng hạng xương ngoại trừ số đo góc W và tỷ

số CoGn/CoA ở hạng III xương

2 Các số đo góc FABA, kích thước AF-BF,

góc Beta, góc W có giá trị phân biệt giữa kiểu

hình xương hạng I và II; hạng I và hạng III cao

hơn so với tỷ số CoGn/CoA, góc ACoGn và

tổng hai góc (NSBa+SBaMe)

3 Tất cả các số đo góc và kích thước trong

nghiên cứu đều có tương quan có ý nghĩa

thống kê với nhau theo từng cặp Các số đo có

mối tương quan chặt chẽ với nhau có thể thay

thế cho nhau trong việc xác định tương quan

xương giữa hai hàm theo chiều trước-sau

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Athanasiou A.E (1995), Orthodontic Cephalometry,

Mosby-Wolfe, pp.63-187

2 Baccetti T (2005), “The cervical veterbral maturation (CVM) method for the assessment of optimal treatment timing in

dentofacial orthopedics”, Semin Orthod, vol 11, pp.119-129

3 Baik CY, Ververidou M, (2004), “A new approach of assessing

sagittal discrepancies: the Beta angle”, American journal of

Orthodontics and Dentofacial Orthopedics, vol 126(1), pp.100-105

4 Bhad WA, Nayak S., Doshi UH (2011), “A new approach of

assessing sagittal dyplasia: the W angle”, European Journal of

Orthodontics, pp.1-5

relationships”, Am J Orthod Dentofacial Orthop, vol 92, pp.117-122

6 Đống Khắc Thẩm (2010), Mối liên hệ giữa nền sọ hệ thống sọ-mặt

trong quá trình tăng trưởng: nghiên cứu dọc trên phim X quang sọ nghiêng ở trẻ từ 3-13 tuổi, Luận án Tiến sĩ y học, Đại học Y

Dược TPHCM

7 Hussels W., Nanda R.S (1984), “Analysis of factors affecting

angle ANB”, Am J Orthod, vol 85, pp.411-423

8 Ishikawa H et al (2000), “Seven parameters describing anteroposterior jaw relationships: Postpubertal prediction

accuracy and interchangeability”, Am J Orthod Dentofacial

Orthop, vol 117, pp.714-720

9 Jacobson A (1988), “Update on the Wits appraisal”, Angle

Orthodontist, vol 25, pp.205-219

10 Jacobson A (1995), Radiographic cephalometry: from basics to

videoimaging, Quintessence Publishing Co, Inc, pp.64-119

11 Kannan S., Goyaliya A, Gupta R (2012), “Comparative assessment of sagittal maxillo-mandibular jaw relationship –

A cephalometric study”, Journal of Oral Health Community

Dentistry, vol 6(1), pp.14-17

12 Lữ Minh Lộc (2011), Đặc điểm hình thái nền sọ trong các sai hình

xương (hạng I, II, III): nghiên cứu trên phim sọ nghiêng, Luận văn

Thạc sĩ y học, Đại học Y Dược TPHCM

13 Nanda RS, Merrill R.M (1994), “Cephalometric assessment of

sagittal relationship between maxilla and mandible”, Am J

Orthod Dentofacial Orthop, vol 105, pp.328-344

14 Proffit W (2007), Contemporary Orthodontics, Mosby Elsevier,

4 th edition, pp.167-233

15 Riedel R.A (1952), “The relation of maxillary structures to

cranium in malocclusion and in normal occlusion”, The Angle

Orthodontist, vol 22(3), pp.142-145

16 Steiner C.C (1959), “Cephalometrics in clinical practice”, The

Angle Orthodontist, vol 29(1), pp.8-29

17 Yang S.D., Suhr C.H (1995), “FH to AB plane angle (FABA)

for assessment of anteroposterior jaw relationships”, Angle

Orthodontist, vol 65(3), pp.223-232

Ngày đăng: 20/01/2020, 06:23

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w