1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Liên quan giữa acid uric huyết thanh với tổn thương cơ quan đích ở bệnh nhân tăng huyết áp

9 76 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 318,28 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu của nghiên cứu nhằm tìm tỉ lệ tăng acid uric huyết thanh ở bệnh nhân tăng huyết áp. Tìm mối liên quan giữa tăng acid uric huyết thanh và các tổn thương cơ quan đích ở tim, mạch máu và thận của tăng huyết áp. Tìm mối liên quan giữa tăng acid uric huyết thanh và các tổn thương cơ quan đích ở tim và mạch máu của tăng huyết áp không có hội chứng chuyên hóa.

Trang 1

LIÊN QUAN GIỮA ACID URIC HUYẾT THANH VỚI TỔN THƯƠNG CƠ QUAN ĐÍCH Ở BỆNH NHÂN TĂNG HUYẾT ÁP

Lý Huy Khanh*, Đôn Thị Thanh Thủy*, Nguyễn Đức Công**

TÓM TẮT

Mở đầu: Acid uric là một yếu tố nguy cơ của bệnh tim mạch: tăng huyết áp, nhồi máu cơ tim và đột

quỵ Acid uric máu là một xét nghiệm thường quy ở bệnh nhân tăng huyết áp trong hầu hết các khuyến cáo

về tăng huyết áp Tuy nhiên, vấn đề Acid uric máu tăng có liên quan tổn thương cơ quan đích của tăng huyết áp là do đề kháng insulin mà chính là hội chứng chuyển hóa hay không và việc điều trị tăng acid uric máu đơn thuần vẫn còn nhiều bàn cải

Mục tiêu: Tìm tỉ lệ tăng acid uric huyết thanh ở bệnh nhân tăng huyết áp Tìm mối liên quan giữa tăng

acid uric huyết thanh và các tổn thương cơ quan đích ở tim, mạch máu và thận của tăng huyết áp Tìm mối liên quan giữa tăng acid uric huyết thanh và các tổn thương cơ quan đích ở tim và mạch máu của tăng huyết áp không có hội chứng chuyên hóa

Phương pháp: Mô tả cắt ngang

Kết quả: Khảo sát trên 668 bệnh nhân tăng huyết áp Tuổi trung bình 61,0 ± 10,0 Nữ chiếm 60,8% Acid uric huyết thanh trung bình 341,9 ± 90,6 µmol/L, ở nam cao hơn ở nữ Tỉ lệ tăng acid uric huyết thanh

27,5% Tuổi, vòng bụng, BMI, tỉ số eo mông, triglycerid, HDL Cholesterol, Hs_CRP, tỉ số albumin/Creatinine niệu trung bình ở nhóm có tăng acid uric cao hơn nhóm không tăng acid uric Độ lọc cầu thận trung bình ở nhóm có tăng acid uric thấp hơn nhóm không tăng acid uric Nam giới, cao tuổi, tăng triglycerid, giảm HDL Cholesterol, hội chứng chuyển hóa có liên quan tăng acid uric Tăng acid uric huyết thanh ở người tăng huyết áp làm tăng nguy cơ rối loạn chức năng tâm trương thất trái 2,05 lần (OR = 2,05 [1,44 - 2,93]), và tăng nguy cơ hẹp – xơ vữa động mạch cảnh 1,92 lần (OR = 1,92 [1,32 - 2,79]), suy thận 3,29 lần (OR = 3,92 [2,60 - 5,89]),tổn thương cơ quan đích giai đoạn 3 của tăng huyết áp OR = 1,79 [1,14 – 2,82] Không tìm thấy mối liên quan tăng acid uric với phì đại thất trái, và biến đổi điện tim kiểu thiếu máu hay nhồi máu cơ tim, tiểu đạm Người tăng huyết áp không có hội chứng chuyển hóa, tăng acid uric huyết thanh làm tăng nguy cơ rối loạn chức năng tâm trương thất trái 2,59 lần (OR = 2,59 [1,58 - 4,25]),tăng nguy cơ hẹp – xơ vữa động mạch cảnh 2,21 lần (OR = 2,21 [1,32 - 3,70]), suy thận 3,87 lần (OR = 3,87 [2,22 - hot6,73]), tổn thương cơ quan đích giai đoạn 3 của tăng huyết áp (OR=1,92[1,05- 3,51]) Không tìm thấy mối liên quan tăng acid uric với phì đại thất trái, và biến đổi điện tim kiểu thiếu máu hay nhồi máu cơ tim, tiểu đạm

Kết lụân: Tỉ lệ lưu hành tăng acid uric huyết thanh ở người tăng huyết áp chiếm 1/4, làm tăng nguy cơ

tổn thương cơ quan đích của tăng huyết áp Ở không có hội chứng chuyển hóa, sự liên quan của tăng acid uric với tổn thương cơ quan đích của tăng huyết áp vẫn giữ nguyên giá trị.

Từ khóa: Tăng huyết áp, acid uric, tổn thương cơ quan đích

ABSTRACT

ASSOCIATION OF PLASMA URIC ACID WITH TARGET ORGAN DAMAGE

IN PRIMARY HYPERTENSION

Ly Huy Khanh*, Don Thi Thanh Thuy*, Nguyen Duc Cong

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 18 - No 3- 2014: 325-333

Background: Hyperuricemia is a risk factor for cardiovascular disease: hypertension, myocardial

* Bệnh viện Cấp cứu Trưng Vương ** Bệnh viện Thống Nhất Tp HCM

Trang 2

infarction and stroke Uric acid is a routine test in hypertensive patients in most hypertension guidelines However, increased plasma uric acid problems may be caused by insulin resistance which is the metabolic

syndrome and the treatment hyperuricemia is still controversial

Objectives: Find the rate of hyperuricemia in patients with primary hypertension Find the relationship

between hyperuricemia and target organ damage in hypertension: Heart, Blood vesssels and renal Find the relationship between hyperuricemia and target organ damage in hypertension: Heart, Blood vesssels and renal in patients without metabolic syndrome

Methods: Cross-sectional study

Results: Survey on 668 patients with hypertension The mean age was 61.0 ± 10.0 Women 60.8 %

The mean plasma uric acid was 341.9 ± 90.6 µmol/L, highers value in males than in females Hyperuricemia was 27.5% The mean of Age, waist circumference, BMI, waist hips ratio, triglycerides, HDL cholesterol, Hs_CRP, rate albumin/creatinine urine was higher in the group hyperuricemia The mean glomerular filtration rate was lower in the group hyperuricemia Men, elderly, hypertriglyceridemia , hypo_HDL_cholesterolemia, metabolic syndrome was associated with hyperuricemia Hyperuricemia in hypertension increased the risk of left ventricular relaxation disorder 2.05 times (OR = 2.05 [ 1.44 to 2.93 ]), carotid atherosclerosis 1.92 times (OR = 1.92 [ 1.32 to 2.79 ]), kidney failure 3.29 times (OR = 3.92 [ 2.60 to 5.89 ]), and target organ damage in hypertension (OR=1.79[1.41- 2,82]) No found association between hyperuricemia with left ventricular hypertrophy, changes of ECG ischemic or myocardial infarction type, microalbuminuria In person hypertension hasn’t metabolic syndrome, hyperuricemia in hypertension increased the risk of left ventricular relaxation disorder 2.59 times (OR = 2.59 [ 1.58 to 4.25 ]), carotid atherosclerosis 2.21 times (OR = 2.21 [ 1.32 to 3.70 ]), kidney failure 3.87 times (OR = 3.87 [ 2.22 to 6.73 ]), and target organ damage in hypertension (OR = 1.92 [1.05- 3.51]) No found association between hyperuricemia with left ventricular hypertrophy, changes of ECG ischemic or myocardial infarction type, microalbuminuria

Conclusion: The prevalence of hyperturicemia in hypertension was 27.5%, increased risk of target

organ damage in hypertension Without metabolic syndrome, the hyperuricemia associated with target organ damage of hypertension, the value remain the same

Keywords: hypertension, plasma uric acid, hyperuricaemia, target organ damage

ĐẶT VẤN ĐỀ

Acid uric là một yếu tố nguy cơ của bệnh

tim mạch: tăng huyết áp, nhồi máu cơ tim và

đột quỵ acid uric máu là một xét nghiệm

thường quy ở bệnh nhân tăng huyết áp trong

hầu hết các khuyến cáo về tăng huyết áp Tuy

nhiên, acid uric máu tăng có thể gây tổn

thương cơ quan đích của tăng huyết áp hay do

đề kháng insulin mà chính là hội chứng

chuyển hóa vẫn còn đang bàn cải Tăng acid

uric huyết thanh thường thấy ở người tăng

huyết áp không được điều trị và liên quan với

giảm dòng máu thận và xơ hóa thận Tăng acid

uric huyết thanh liên quan với bệnh mạch

vành và tăng huyết áp

Các thuốc điều trị tăng huyết áp, một số

tiểu; một số thuốc có tác dụng giảm aicd uric huyết thanh qua việc tăng thải acid uric qua thận: Losartan giảm 63µmol/L, ibersartan giảm

12 µmol/L sau 8 tuần điều trị Losartan có hiệu quả giảm acid uric huyết thanh; trong khi valsartan, telmisartan, candesartan, và olmesartan không có lợi trong giảm acid uric trong nhiều nghiên cứu(11) Losartan, fenofibrate, acid ascorbic làm giảm acid uric huyết thanh qua việc tăng thải acid uric qua nước tiểu

Ngoài ra, vấn đề điều trị tăng acid uric máu đơn thuần vẫn còn nhiều bàn cải, khi tăng acid uric máu ở người có nguy cao cơ bệnh mạch vành việc điều trị tăng acid uric là cần thiết Điều trị giảm acid uric huyết thanh với allopurinol được xem là một trong những

Trang 3

nhân tố mới trong điều trị suy tim14; Sử dụng

allopurinol 30 ngày làm giãn mạch, cải thiện

dòng chảy ở người có hay không tăng acid uric

không có đái tháo đường, rối loạn chuyển hóa

mỡ, béo phì và tăng huyết áp(7) Các thuốc điều

trị tăng huyết áp tùy loại thuốc có thể làm tăng

hay giảm acid uric máu, do đó sử dụng thuốc

điều trị tăng huyết áp cần biết giá trị acid uric

ở bệnh nhân để lựa chọn thuốc

Xác định tỉ lệ tăng acid uric huyết thanh ở

bệnh nhân tăng huyết áp và mối liên quan của

tăng acid uric với tổn thương cơ quan đích,

cũng như xác định tăng acid uric có liên quan

với các tổn thương cơ quan đích ở người

không có hội chứng chuyển hóa giúp khẳng

định việc điều trị tăng acid uric là có cần thiết

hay không ở bệnh nhân tăng huyết áp và định

hướng sớm điều trị và lựa chọn thuốc sử dụng

hợp lý

Mục tiêu

- Tìm tỉ lệ tăng acid uric ở bệnh nhân tăng

huyết áp

- Tìm mối liên quan giữa tăng acid uric và

các tổn thương cơ quan đích ở tim và

mạch máu của tăng huyết áp

- Tìm mối liên quan giữa tăng acid uric và

các tổn thương cơ quan đích ở tim và

mạch máu của tăng huyết áp không có

hội chứng chuyển hóa

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

Đối tượng

Bệnh nhân tăng huyết áp nguyên phát đến

khám và điều trị tại Bệnh viện Cấp cứu Trưng

Vương trong thời gian từ 2/2012 đến 7/2012

Phương pháp nghiên cứu

Mô tả cắt ngang

Cỡ mẫu

n = t2 x JI (1_JI)/d2

t = 2,58 (độ tin cậy 99%)

JI = 63% (Tỉ lệ tăng acid uric ở người tăng

huyết áp(1))

d = 5% (Sai số cho phép)

vậy: n = 2,582*0,63*0,37/0,052 = 620 Phương pháp chọn mẫu

Tất cả các bệnh nhân tăng huyết áp đến khám bệnh tại phòng khám của Bệnh viện Cấp cứu Trưng Vương

Tiêu chí chọn mẫu

Bệnh nhân được chẩn đoán THA chưa điều trị hoặc đã điều trị đồng ý tham gia nghiên cứu

Tiêu chí loại trừ

Nhiễm trùng cấp; các bệnh hệ thống; nghiện rượu; suy giáp, cường giáp

Kỹ thuật đo

* Xác định tăng huyết áp: bệnh nhân được

đo huyết áp ít nhất 2 lần cách nhau ít nhất 5 phút có trị số huyết áp ≥ 140/90mmHg Nếu có

sự chênh lệch giữa 2 lần đo > 5 mmHg thì lấy huyết áp trung bình của 2 lần đo Hoặc bệnh nhân đã được chẩn đoán tăng huyết áp

* Tăng Acid uric: Acid uric ≥ 360µmol/L ở

nữ và ≥ 420µmol/L ở nam

* Giai đoạn tăng huyết áp: theo WHO 1993: Phân giai đoạn tăng huyết áp theo tổn thương

cơ quan đích

* Hội chứng chuyển hóa (HCCH) theo tiêu chuẩn của chương trình Giáo dục Quốc gia về Cholesterol hướng dẫn điều trị cho người lớn lần III của Hoa Kỳ (National Cholesterol Education Program Adult Treatment Panel III; NCEP ATP III) năm 2004, xác định khi có 3/5 tiêu chuẩn:

- Vòng eo (VE) > 90 cm đối với nam và > 80cm đối với nữ;

- Triglyceride (TG) ≥ 150 mg /dl;

- HDL- Cholesterol (HDL- C) < 40 mg/dl đối với nam và < 50 mg /dl đối với nữ ;

- Huyết áp (HA) ≥ 130/85 mmHg;

- Đường huyết (ĐH) lúc đói ≥ 100 mg/dl

* Chức năng thận: Theo Kidney Disease Outcomes Quality Initiative 2002 và Kidney Disease Improving Global Outcomes 2005 Tiểu đạm:

Trang 4

Tiểu albumin vi lượng: Tỉ số

Albumin/Creatinine trong nước tiểu ≥ 30 mg/g

và <300 mg/g

Tiểu albumin đại lượng: Tỉ số

Albumin/Creatinine trong nước tiểu ≥ 300

mg/g

Độ lọc cầu thận: GFR (mL/min/1.73 m2) =

186 * (SCr)(-1.154) * (Tuổi)(-0.203) * 0.742 (nếu nữ)

Chúng tôi chọn mốc: độ lọc cầu thận <

60ml/ph/1,73 m2 da để đánh giá suy thận

*Tăng cholesterol toàn phần: Cholesterol

toàn phần ≥ 5,7 mmol/L Tăng LDL

Cholesterol: LDL Cholesterol ≥ 1,13 mmol/L

Tăng Triglycerid: Triglycerid ≥ 1,7 mmol/L

Giảm HDL Cholesterol: HDL Cholesterol ≤ 0,9

mmol/L

* Phì đại thất trái: Trên siêu âm: Theo

hướng dẫn Hội tăng huyết áp và Hội tim mạch

Châu Âu năm 2013: phì đại thất trái được xác

định khi:

LVM= 0,832[(IVS-LVID-PW)3-(LVID)3]+0,6

LVMI ( g/m2) = LVM (g) / BSA (m2)

Với: LVMI : Left Ventricular Mass Idex:

Chỉ số khối cơ thất trái BSA: Diện tích cơ thể

LVM: Khối cơ thất trái LVMI ≥125 g/m2 đối

với nam, LVMI ≥110 g/m2 đối với nữ

* Rối loạn chức năng tâm trương thất trái:

Rối loạn thư dãn thất trái: Phân loại theo

APPLETON: Type 1: E/A < 1 + triền xuống

sóng E chậm lại Thời gian thư giãn đồng thể

tích kéo dài (làm gia tăng sự đóng góp của nhĩ trong giai đoạn đổ đầy tâm trương)

* Tổn thương động mạch cảnh: Dày – xơ vữa – Hẹp động mạch cảnh: Theo hướng dẫn Hội tăng huyết áp và Hội tim mạch Châu Âu

năm 2013:

Siêu âm động mạch cảnh chung:

Đo đường kính lòng mạch: vị trí đo dưới chổ chia Động mạch cảnh trong và ngoài 1cm Đơn vị là tính mm

Đo độ dày nội trung mạc bằng siêu âm 2D cắt dọc Động mạch cảnh chung (ĐMCC) + Đánh giá độ nội trung mạc động mạch cảnh chung

Bình thường: khi độ dày nội tâm mạc < 0,9

mm

Tăng độ dày nội tâm mạc: khi độ dày nội tâm mạc 0,9 - 1,5 mm

Có mảng xơ vữa: khi độ dày nội tâm mạc > 1,5 mm

Hẹp: theo mức độ mảng xơ vữa và đỉnh vận tốc tâm thu (peak systolic velocity)

Xử lý thống kê

So sánh giữa các nhóm với nhau bằng χ2 Tính OR So sánh các số trung bình bằng Student test

KẾT QUẢ Đặc điểm chung của dân số nghiên cứu:

Khảo sát trên 668 bệnh nhân tăng huyết áp Tuổi trung bình 61,0 ± 10,0 Nữ 60,8%

Bảng 1: Acid uric huyết thanh ở người tăng huyết áp

Chung (n = 668) Nam (n = 262) Nữ (n = 406)

Trung bình (mmol/L) 341,9 ± 90,6 313,5 ± 77,2 313,5± 77,2 0,001

Nhận xét: Nồng độ trung bình acid uric

huyết thanh ở người tăng huyết áp: nam cao

hơn nữ có ý nghĩa thống kê Nam giới có tỉ lệ

tăng cao hơn nữ có ý nghĩa thống kê

Có sự khác nhau giữa 2 nhóm tăng acid

uric về:

Tuổi, vòng bụng, BMI, tỉ số eo mông, triglycerid, HDL Cholesterol, Hs_CRP, tỉ số albumin/Creatinine niệu trung bình ở nhóm có tăng acid uric cao hơn nhóm không tăng acid uric

Độ lọc cầu thận trung bình ở nhóm có tăng acid uric thấp hơn nhóm không tăng acid uric

Trang 5

Nam giới, cao tuổi, tăng triglycerid, giảm

HDL Cholesterol, hội chứng chuyển hóa có

liên quan tăng acid uric

Bảng 2: Đặc điểm chung của dân số nghiên cứu

Có (n = 184) Không (n = 484)

Giới Nam n, (%) 184 (27,5) 88(47,8) 174 (36,0) 0,007 Tuổi

Cao tuổi (≥60) n,(%)

61,0 ± 10,0

361 (54,0)

62,9 ± 10,9

115 (62,5)

60,3 ± 9,6

246 (50,8)

0,002 0,005 Vòng bụng (cm)

Tăng n, (%)

84,9 ± 9,2

80 (12,0)

87,0 ± 9,8

31 (16,8)

84,2 ± 8,9

49 (10,1)

0,000 0,017 BMI Kg/m2 24,2 ± 3,2 24,6 ± 3,6 23,9 ± 3,1 0,024

Tì số eo mông 0,9 ± 0,1 0,91 ± 0,06 0,89± 0,06 0,017 Rối lọan đường huyết đói hay Đái tháo đường 251 (37,6) 73 (39,7) 178 (36,8) 0,49

Triglycerid(mmol/L) Tăng n, (%)

2,2 ± 1,7

381 (57,0)

2,9 ± 2,7

133 (72,3)

1,9 ± 0,9

248 (51,2)

0,000 0,000 HDL-Cholesterol (mmol/L)

Giảm n, (%)

1,2 ± 0,3

124 (18,6)

1,1 ± 0,4

52 (28,3)

1,2 ± 0,3

72 (14,9)

0,021 0,000 hs_CRP (mg/dl) 2,8 ± 4,2 3,3 ± 5,0 2,2 ± 3,8 0,022 HCCH n, (%) 246 (36,8) 94 (51,1) 152 (31,4) 0,000 Chỉ số khối lượng cơ thất trái (g/ m2) 102,4±22,7 104,8±24,8 101,5±21,8 0,098

Độ lọc cầu thận (ml/ph/1,73m2) 73,1 ± 15,1 65,3 ± 17,0 76,0± 13,2 0,000 Albumin/Creatinin niệu (mg/g) 52,5±111,8 67,0±143,3 46,9±96,8 0,038

Bảng 3: Mối 1iên quan giữa một số tổn thương cơ quan đích của tăng huyết áp với tăng acid uric

Tăng acid uric

p, OR

Có n = 184 Không n = 484 Tổng n = 668

Giai đoạn THA

3 156 (84,8) 366 (75,6) 522 (78,1) p = 0,010

OR = 1,79 [1,14 – 2,82]

1 và 2 28 (15,2) 118 (24,4) 146 (21,9)

Rối loạn chức năng tâm trương

thất trái n, (%)

Có 124 (67,4) 243 (50,2) 367 (54,9) p = 0,000;

OR = 2,05 [1,44 - 2,93] Không 60 (32,6) 241 (49,8) 301 (45,1)

Phì đại thất trái n, (%) Có 45 (24,5) 112 (23,1) 157 (23,5) p = 0,720

Không 139 (75,5) 372 (76,9) 511 (76,5) Biểu hiện thiếu hay nhồi máu

cơ tim trên điện tâm đồ n, (%)

Có 40 (21,7) 109 (22,5) 149 (22,3)

p = 0,828 Không 144 (78,3) 375 (77,5) 519 (77,7)

Hẹp - Xơ vữa động mạch cảnh

n, (%)

Có 135 (73,4) 285 (58,9) 420 (62,9) p = 0,000;

OR = 1,92 [1,32 - 2,79] Không 49 (26,6) 199 (40,1) 248 (37,1)

Suy thận Có 64 (34,8) 58 (12,0) 122 (18,3) p = 0,000;

OR = 3,92 [2,60 - 5,89] Không 120 (65,2) 426 (88,0) 546 (81,7)

Tiểu đạm Có 67 (36,4) 175 (36,2) 142 (36,2) p = 0,951

Không 117 (63,6) 309 (63,8) 426 (63,8)

Nhận xét: tăng acid uric làm tăng nguy cơ

tổn thương cơ quan đích của tăng huyết áp, rối

loạn chức năng tâm trương thất trái, hẹp – xơ vữa động mạch cảnh, suy thận

Bảng 4: Mối 1iên quan giữa một số tổn thương cơ quan đích của tăng huyết áp với tăng acid uric ở bệnh

nhân không có hội chứng chuyển hóa

Tăng acid uric

p, OR

Có n = 90 Không n = 332 Tổng n = 422

Giai đoạn THA 3 75 (83,3) 240 (72,3) 315 (74,6) p = 0,032

OR = 1,92 [1,05 – 3,51]

1 và 2 15 (16,7) 92 (27,7) 146 (25,4)

Trang 6

Tăng acid uric

p, OR

Có n = 90 Không n = 332 Tổng n = 422

Rối loạn chức năng tâm trương

thất trái n, (%)

Có 62 (68,9) 153 (46,1) 215 (50,9) p = 0,000;

OR = 2,59 [1,58 - 4,25] Không 28 (31,1) 179 (53,9) 207 (49,1)

Phì đại thất trái n, (%) Có 27 (30,0) 82 (24,7) 109 (25,8) p = 0,308

Không 63 (70,0) 250 (75,3) 313 (74,2) Biểu hiện thiếu hay nhồi máu

cơ tim trên điện tâm đồ n, (%)

Có 23 (25,6) 73 (22,0) 96 (22,7)

p = 0,474 Không 67 (74,4) 259 (78,0) 326 (77,3)

Hẹp - Xơ vữa động mạch cảnh

n, (%)

Có 66 (73,3) 184 (55,4) 250 (59,2) p = 0,002;

OR = 2,21 [1,32 - 3,70] Không 49 (26,6) 199 (40,1) 248 (37,1)

Suy thận n, (%) Có 30 (33,3) 38 (11,4) 68 (16,1) OR = 3,87 [2,22 - 6,73] p = 0,000;

Không 60 (66,7) 294 (88,6) 354 (83,9) Tiểu đạm n, (%) Có 29 (32,2) 115 (34,6) 144 (34,1) p = 0,668

Không 61 (67,8) 217 (65,4) 278 (65,9)

Nhận xét: Ở bệnh nhân không có hội

chứng chuyển hóa, tăng acid uric làm tăng

nguy cơ tổn thương cơ quan đích của tăng

huyết áp, rối loạn chức năng tâm trương thất

trái, hẹp – xơ vữa động mạch cảnh, suy thận

BÀN LUẬN

Đặc điểm chung và acid uric huyết thanh

Mẫu nghiên cứu có tuổi trung bình 61,0 ±

10,0 Giới nữ chiếm 60,8%, Các nghiên cứu về

dịch tễ học tăng huyết áp cho thấy tỉ lệ THA

gia tăng theo tuổi và ở giới nam cao hơn giới

nữ, do nữ mất tác dụng bảo vệ của estrogen,

nhưng sau tuổi 50 thì tỉ lệ gần như tương

đương ở 2 giới do sự gia tăng tần suất THA ở

phụ nữ mãn kinh Như vậy, có thể nam giới ít

đến khám và điều trị tăng huyết áp trong

nghiên cứu của chúng tôi

Acid urid máu trung bình là 341,9 ±

90,6µmol/L, tăng 27,5% Nam giới có nồng độ

acid uric trung bình cao hơn nữ giới, nồng độ

acid uric trung bình cũng cao theo tuổi Trong

nghiên cứu của Châu Ngọc Hoa (2009) (2), nồng

độ acid uric trung bình ở bệnh nhân tăng

huyết áp trên 40 tuổi là 394 ± 72,2 µmol/L, tăng

theo tuổi và ở nam cao hơn nữ Và nghiên cứu

của Nguyễn Đức Công (2006), 371,3±85,7

µmol/l; ở nam cao hơn hẳn ở nữ; tỷ lệ tăng

nồng độ acid uric là 51,2% Về tỷ lệ tăng acid

uric ở bệnh nhân THA thì kết quả khác nhau

giữa các nghiên cứu, theo Lê Thanh Vân và

Trần Văn Độ tỷ lệ này là 20%, Nguyễn Trọng

Hữu tỷ lệ này là 68,6% và Nguyễn Đức Công

là 51,2%(10) Tỷ lệ và nồng độ acid uric khác biệt chủ yếu là do khác biệt về dân số nghiên cứu Hội chứng chuyển hóa có liên quan tăng acid uric huyết thanh Tương tự như Onho I (2011)( 12), Hồ Thị Ngọc Dung (2009) (3), khảo sát

194 bệnh nhân tăng huyết áp nguyên phát điều trị không liên tục, nồng độ acid uric ở nhóm có hội chứng chuyển hóa cao hơn nhóm không có hội chứng chuyển hóa, tăng acid uric song hành với hội chứng chuyển hóa Các thành phần của hội chứng chuyển hóa: Rối loạn đường huyết đói hay đái tháo không có

sự khác biệt giữa 2 nhóm có hay không tăng acid uric Vòng bụng, chỉ số khối cơ thể, tỉ số

eo mông ở nhóm tăng acid uric cao hơn nhóm không tăng acid uric Béo phì liên quan với tăng acid uric Tương tự như các nghiên cứu: Nguyễn Đức Công (2006) (10), nồng độ acid uric

ở người thừa cân cao hơn người không thừa cân; Krishnan E (2014) (6), cân nặng trung bình cao hơn ở nhóm tăng acid uric HDL Cholesterol trung bình giảm và Triglycerid tăng ở nhóm tăng acid uric Tăng triglyceride máu có thể kết tập các chất béo xâm nhập và lắng đọng trong ống thận, dẫn đến tổn thương ống thận mô kẻ tiến triển

Tỉ số albumin/creatinine niệu trung bình ở nhóm tăng acid uric cao hơn nhóm không tăng acid uric Jung E.L et al (2006) (5), khảo sát 6.671 người không tăng huyết áp hay đái tháo đường, acid uric liên quan với tiểu đạm vi

Trang 7

lượng ở người tiền tăng huyết áp Tương tự

như nghiên cứu của Châu Ngọc Hoa (2009) (1)

Độ lọc cầu thận trung bình ở nhóm tăng

acid uric thấp hơn nhóm không tăng acid uric

Tương tự như Nghiên cứu của Châu Ngọc

Hoa (2009) (2)

Mối 1iên quan giữa một số tổn thương cơ

quan đích của tăng huyết áp với tăng acid

uric huyết thanh

Tăng acid uric huyết thanh làm tăng nguy

cơ rối loạn thư giãn thất trái OR = 2,05 [1,44 -

2,93] Tương tự như nghiên cứu của Oreste

(2013) trên 118 người có nguy cơ tim mạch, 85

nam, trung bình 69,3 tuổi, rối loạn chức năng

tâm trương liên quan tăng acid uric huyết

thanh(13)

Phì đại thất trái ở người có tăng acid uric

huyết thanh (24,5%) cao hơn không tăng

(23,1%), khác biệt không có ý nghĩa thống kê,

cũng như chỉ số khối lượng cơ thất trái ở nhóm

tăng acid uric 104,8±24,8 cao hơn không tăng

acid uric 101,5±21,8, tuy nhiên chưa có ý nghĩa

thống kê Có nhiều nghiên cứu cho thấy có liên

quan giữa dày thất trái với tăng acid uric

huyết thanh (2,6) Arika Furata (2005) (1), phì đại

thất trái liên quan với tăng acid uric huyết

thanh ở nam, không thấy liên quan ở nữ

Nghiên cứu của chúng tôi khác với các nghiên

cứu khác chủ yếu ở mẫu nghiên cứu.Phì đại

thất trái là tổn thương đầu tiên của tăng huyết

áp ở tim Phì đại thất kết hợp hoạt hóa hệ thần

kinh –nội tiết làm rối loạn chức năng tâm

trương của tim Khi tăng huyết áp có dày thất

trái, có thể bị bệnh tim mạch sớm hoặc tử vong

nhiều gấp hai lần so với những người không

có dày thất trái

Tăng acid uric huyết thanh làm tăng nguy

cơ Hẹp - Xơ vữa động mạch cảnh OR = 1,92

[1,32 - 2,79] Tương tự như Mutluay R (2012) (8)

khảo sát 67 người tăng huyết áp và 30 người

khỏe mạnh: tuổi và acid uric tương quan độc

lập với bề dày lớp nội trung mạc động mạch

cảnh Viazzi (2005) (15), khảo sát 425 người tăng

huyết áp không được điều trị, sau khi điều chỉnh theo tuổi, BMI, HLC_Cholesterol và độ thanh thải creatinin, tăng acid uric làm tăng nguy cơ tổn thương động mạch cảnh gấp 2 lần

đa trung tâm, khảo sát liên quan của acid uric

và bệnh tim mạch, xơ vữa động mạch: 4.866 người tham gia, acid uric và siêu âm động mạch cảnh được đánh giá (54% phụ nữ, tuổi trung bình 52 tuổi, có chỉ số khối cơ thể 27,6)

Sự kết hợp của acid uric máu với xơ vữa động mạch cảnh tăng với mức độ acid uric máu ngày càng tăng, thể hiện rõ ở nam[OR 1.0, 1.29, 1.61, 1.75, cho acid uric <5 , 5 đến <6, 6 đến < 6,8, ≥ 6,8 mg/dl, p = 0,002], các liên quan tương

tự được tìm thấy ở những người không có yếu

L.(4), các nhà khảo cứu đã theo dõi acid uric cho 417.734 bệnh nhân ở Stockhom, Thụy Điển, nguy cơ nhồi máu cơ tim cấp tính, tai biến mạch máu não và suy tim tăng cao khi lượng acid uric trong máu tăng

Biến đổi điện tâm đồ kiểu thiếu máu hay tổn thương cơ tim không khác nhau ở nhóm tăng hay không tăng acid uric Hạn chế của chúng tôi chưa thực hiện các phương pháp khác để đánh giá thiếu máu hay tổn thương cơ tim Nghiên cứu của Holme L.(4), theo dõi acid uric cho 417.734 bệnh nhân ở Stockhom, Thụy Điển Kết quả cũng cho thấy là nguy cơ nhồi máu cơ tim cấp tính, tai biến mạch máu não và suy tim tăng cao khi lượng acid uric trong máu tăng Tuy nhiên, theo nghiên cứu của Palmer T.M, tăng acid uric huyết thanh liên quan với bệnh mạch vành và tăng huyết áp, sự liên quan này do chỉ số khối cơ thể quyết định (14) Tăng acid uric huyết thanh làm tăng nguy

cơ suy thận OR = 3,92 [2,60 - 5,89] Tương tự như Châu Ngọc Hoa (2009) (2), nồng độ acid uric tương quan với độ lọc cầu thận Khoảng 70% acid uric được thải qua thận, acid uric tăng khi suy thận Tuy nhiên, những nghiên cứu gần đây cho thấy acid uric liên quan chặt với huyết áp và điều trị tăng acid uric bằng

Trang 8

allopurinol làm giảm huyết áp, cũng như làm

giảm tiến triển của suy thận (12)

Tỉ lệ tiệu đạm ở người tăng hay không tăng

acid uric không có sự khác biệt Tuy nhiên, với

tỉ số albumin/creatinine niệu trung bình ở

nhóm tăng acid uric cao hơn nhóm không tăng

acid uric, có thể có giá trị khác để xác định sự

liên quan giữa tỉ số albumin/Creatinine niệu

Tăng acid uric huyết thanh làm tăng nguy

cơ tổn thương cơ quan đích (giai đoạn 3) của

tăng huyết áp OR = 1,79 [1,14 – 2,82] Cách

phân giai đoạn tăng huyết áp của chúng tôi có

khác phân giai đoạn tăng huyết áp của các

nghiên cứu của Châu Ngọc Hoa (2009) (2), Hồ

Thị Ngọc Dung (2009) (3), các nghiên cứu cho

kết quả tương tự như của chúng tôi: nồng độ

acid uric ở nhóm tăng huyết áp độ 2 cao hơn

nhóm tăng huyết áp độ 1

Mối 1iên quan giữa một số tổn thương cơ

quan đích của tăng huyết áp với tăng acid

uric huyết thanh ở người không có hội

chứng chuyển hóa

Ở người không có hội chứng chuyển hóa,

các giá trị liên quan các tổn thương cơ quan

đích của tăng huyết áp không thay đổi: Tăng

acid uric huyết thanh làm tăng nguy cơ rối

loạn thư giãn thất trái OR = 2,59 [1,58 - 4,25];

Phì đại thất trái ở người có tăng acid uric

huyết thanh (30,0%) cao hơn không tăng

(24,7%), tuy nhiên không có ý nghĩa thống kê;

Tăng acid uric huyết thanh làm tăng nguy cơ

Hẹp - Xơ vữa động mạch cảnh OR = 2,21 [1,32 -

3,70]; Biến đổi điện tâm đồ kiểu thiếu máu hay

tổn thương cơ tim không khác nhau ở nhóm

tăng hay không tăng acid uric; Tăng acid uric

huyết thanh làm tăng nguy cơ suy thận OR =

3,87 [2,22 - 6,73]; Tỉ lệ tiệu đạm ở người tăng

hay không tăng acid uric không có sự khác

biệt; Tăng acid uric huyết thanh làm tăng nguy

cơ tổn thương cơ quan đích (giai đoạn 3) của

tăng huyết áp OR = 1,92 [1,05 – 3,51]

Một số các nghiên cứu cho thấy tăng acid

uric liên quan các tổn thương cơ quan đích của

tăng huyết áp mà không có hội chứng chuyển

hóa can dự: Năm 2009, NeoGi T và cộng sự (9),

của acid uric và bệnh tim mạch, xơ vữa động mạch: 4.866 người tham gia, acid uric và siêu

âm động mạch cảnh được đánh giá (54% phụ

nữ, tuổi trung bình 52 tuổi, có chỉ số khối cơ thể 27,6) Sự kết hợp của acid uric máu với xơ vữa động mạch cảnh tăng với mức độ acid uric máu ngày càng tăng, thể hiện rõ ở nam[OR 1.0, 1.29, 1.61, 1.75, cho acid uric <5 , 5 đến <6, 6 đến < 6,8, ≥ 6,8 mg/dl, p = 0,002], các liên quan tương tự được tìm thấy ở những người không

có yếu tố nguy cơ tim mạch; Một nghiên cứu Nhật Bản cho thấy là có sự liên hệ giữa acid uric trong huyết thanh, hội chứng chuyển hóa

và bệnh xơ vữa động mạch Mức acid uric trong huyết thanh có liên quan mảng xơ vữa động mạch cảnh, không lệ thuộc những nguy

cơ khác gây xơ vữa động mạch ở nam không

có hội chứng chuyển hóa; Krishnan E (2014)

(6), ở người không có hội chứng chuyển hóa, không tăng CRP, tăng acid uric liên quan với tăng huyết áp

Tăng acid uric gây bệnh tim mạch qua cơ chế acid uric xâm nhập tế bào nội mạch và cơ trơn mạch máu, nơi acid uric kích hoạt hệ thống viêm và tăng sinh tế bào Ở tế bào nội

mô, có sự giảm nồng độ Nitric oxide và giảm tăng sinh Ở tế bào cơ trơn, có sự kích hoạt tăng sinh và phản ứng viêm Cũng có sự kích hoạt hệ thống renin – angiotensin Nitric oxite thấp cũng có thể có vai trò trung tâm trong việc gây đề kháng Insulin, Insulin đòi hỏi nitricoxite cho hoạt động của nó bằng cách kích thích lượng máu đến cơ xương

KẾT LUẬN

Khảo sát trên 668 bệnh nhân tăng huyết áp Tuổi trung bình 61,0 ± 10,0 Nữ chiếm 60,8% Acid uric huyết thanh trung bình 341,9 ± 90,6,

ở nam cao hơn ở nữ Tỉ lệ tăng acid uric huyết thanh 27,5% Tuổi, vòng bụng, BMI, tỉ số eo mông, triglycerid, HDL Cholesterol, Hs_CRP,

tỉ số albumin/Creatinine niệu trung bình ở nhóm có tăng acid uric cao hơn nhóm không tăng acid uric Độ lọc cầu thận trung bình ở nhóm có tăng acid uric thấp hơn nhóm không tăng acid uric Nam giới, cao tuổi, tăng

Trang 9

triglycerid, giảm HDL Cholesterol, hội chứng

chuyển hóa có liên quan tăng acid uric

Tăng acid uric huyết thanh ở người tăng

huyết áp làm tăng nguy cơ rối loạn chức năng

tâm trương thất trái 2,05 lần (OR = 2,05 [1,44 -

2,93]), và tăng nguy cơ hẹp – xơ vữa động

mạch cảnh 1,92 lần (OR = 1,92 [1,32 - 2,79]), suy

thận 3,29 lần (OR = 3,92 [2,60 - 5,89]) Không

tìm thấy mối liên quan tăng acid uric với phì

đại thất trái, rối loạn chức năng tâm thu thất

trái và biến đổi điện tim kiểu thiếu máu hay

nhồi máu cơ tim, tiểu đạm

Người tăng huyết áp không có hội chứng

chuyển hóa, tăng acid uric huyết thanh làm

tăng nguy cơ rối loạn chức năng tâm trương

thất trái 2,59 lần (OR = 2,59 [1,58 - 4,25]),tăng

nguy cơ hẹp – xơ vữa động mạch cảnh 2,21 lần

(OR = 2,21 [1,32 - 3,70]), suy thận 3,87 lần (OR =

3,87 [2,22 - 6,73]) Không tìm thấy mối liên

quan tăng acid uric với phì đại thất trái, rối

loạn chức năng tâm thu thất trái và biến đổi

điện tim kiểu thiếu máu hay nhồi máu cơ tim,

tiểu đạm

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Akira K et all (2005), “Sex related differences in relation of

uric acid to left ventricular hypertrophy and remodeling

in Japanese hypertensive patients.” Hypertens Res 2005

Feb;28(2):133-9

2 Châu Ngọc Hoa, Lê Hoài Nam (2009), “Khảo sát ngồng độ

acid uric huyết thanh ở người tăng huyết áp và người bình

thường”, Y Học TP Hồ Chí Minh * Số 13 – Phụ san số 1 -

2009: 87 – 91

3 Hồ Ngọc Dung, Châu Ngọc Hoa (2009), “Nồng độ acid

uric huyết thanh ở bệnh nhân tăng huyết áp”, Y Học TP

Hồ Chí Minh * Số 13 – Phụ san số 6 - 2009: 41 – 46

4 Holme L et al (2009), " Uric acid and risk of myocardial

infarction, stroke and congestive heart failure in 417 734

men and women in the apolipoprotein mortality risk

study (AMORIS)”, Journal of Internal Medicine 266; 558–

570 559

5 Jung EL et al (2006), “Serum Uric Acid Is Associated With Microalbuminuria in Prehypertension”, Hypertension 2006; 47: 962-967

6 Krishnan E (2014), “Interaction of Inflammation, Hyperuricemia, and the Prevalence of Hypertension Among Adults Free of Metabolic Syndrome: NHANES 2009-2010”, J Am Heart Assoc 2014 Mar 13;3(2):e000157 doi: 10.1161/JAHA.113.000157

7 Meléndez-Ramírez G et al (2012), “Effect of the treatment with allopurinol on the endothelial function in patients with hyperuricemia.”, Endocr Res 2012;37(1):1-6 doi: 10.3109/07435800.2011.566235 Epub 2011 Oct 6

8 Mutluay R et al (2012), “Uric acid is an important predictor for hypertensive early atherosclerosis”, Adv Ther 2012 Mar;29(3):276-86

9 Neogi T et al (2009), “Serum Uric Acid Is Associated with

Carotid Plaques”, J Rheumatol 2009 February ; 36(2): 378–

384

10 Nguyễn Đức Công (2006), “ Liên quan giữa nồng độ acid uric với huyết áp ở bệnh nhân THA nguyên phát.”, Tạp chí tim mạch học Việt Nam Số 43, tháng 1/2006, 56:60

11 Nisida Y et al (2013), “Comparative effect of angiotensin II type I receptor blockers on serum uric acid in hypertensive patients with type 2 diabetes mellitus: a retrospective observational study”, Cardiovasc Diabetol 2013 Nov 4;12(1):159 doi: 10.1186/1475-2840-12-159

12 Onho I (2011), “Relationship between hyperuricemia and chronic kidney desease” Nucleosides, Nucleotid and Nucleic Acids, 30:12, 1039:1044

13 Oreste F.T et al (2013), “Hyperuricemia in patients with left diastolic ventricular dysfuntion”, Acta Medica

Mediterranea, 2013, 29: 493

14 Palmer T.M et al (2013), “Association of plasma uric acid with ischaemic heart disease and blood pressure: mendelian randomisation analysis of two large cohorts”, BMJ 2013;347:f4262

15 Viazzi F et al (2005), “Serum uric acid and target organ damage in primary hypertension.”, Hypertension 2005 May;45(5):991-6

Ngày đăng: 20/01/2020, 06:09

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w