Mục đích của nghiên cứu nhằm đánh giá hiệu quả và an toàn của sử dụng mặt nạ thanh quản proseal với gây mê nồng độ đích propofol cho những bệnh nhân được phẫu thuật cắt hạch thần kinh giao cảm đoạn ngực T2, T3 và T4.
Trang 1ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ VÀ AN TOÀN CỦA SỬ DỤNG MẶT NẠ THANH
QUẢN PROSEAL VỚI GÂY MÊ TĨNH MẠCH KIỂM SOÁT
NỒNG ĐỘ ĐÍCH PROPOFOL CHO PHẪU THUẬT CẮT HẠCH THẦN KINH GIAO CẢM NGỰC NỘI SOI
Phạm Văn Hùng*, Nguyễn Anh Tuấn*, Phan Tôn Ngọc Vũ*
TÓM TẮT
Mục đích nghiên cứu: Nhằm đánh giá hiệu quả và an toàn của sử dụng mặt nạ thanh quản proseal với gây
mê nồng độ đích propofol cho những bệnh nhân được phẫu thuật cắt hạch thần kinh giao cảm đoạn ngực T2, T 3
và T4
Phương pháp nghiên cứu: Mô tả và cắt ngang Từ tháng 5/2011 đến 12/2011, tại Bệnh viện Đại học Y
dược, 41 bệnh nhân được gây mê nồng độ đích với Propofol và sử dụng mặt nạ thanh quản Proseal cho phẫu thuật đốt hạch giao cảm đoạn ngực T2, T3, T4 Thu thập các số liệu về mạch, huyết áp tâm thu, huyết áp tâm trương và SpO2, áp lực dò khí và nồng độ Propofol tại các thời điểm trong và sau gây mê
Kết quả: Tất cả bệnh nhân trong nhóm nghiên cứu được đảm bảo thông khí trong quá trình phẫu thuật,
không có trường hợp nào chúng tôi phải đặt ống nội khí quản hay ống nội phế quản hai nòng và cũng không phải đặt ống thông dạ dày vì chướng hơi do quá trình thông khí với mặt nạ thanh quản Sử dụng TCI Propofol đảm bảo độ mê ổn định trong quá trình phẫu thuật
Kết luận: Gây mê nồng độ đích propofol và sử dụng mặt nạ thanh quản cho phẫu thuật cắt hạch thần kinh
giao cảm ngực nội soi được thực hiện an toàn và hiệu quả
Từ khóa: Cắt hạch thần kinh giao cảm, nội soi, mặt nạ thanh quản proseal, gây mê nồng độ đích
ABSTRACT
EVALUATION OF SAFETY AND EFFICACY OF PROSEAL LARYNGEAL MASK
AND TCI PROPOFOL IN ANESTHESIA FOR ENDOSCOPIC THORACIC SYMPATECTOMIE
Pham Van Hung, Nguyen Anh Tuan, Phan Ton Ngoc Vu
* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 16 - Supplement of No 2 - 2012: 84 - 89
Objectives: To evaluate the safety and efficacy of proseal laryngeal mask and TCI Propofol in anesthesia for
T2, T3, T4 endoscopic thoracic sympatectomie
Methods: Descriptive and cross-sectional study From 5/2011 – 12/2011, forty patients scheduled for T2,
T3, T4 endoscopic thoracic sympatectomie received TCI Propofol anesthesia with mask laryngeal proseal in UMC Pulse rate (PR), systolic blood pressure (SBP), diastolic blood pressure (DBP) and SpO2, ‘leak test’ and concentrations of Propofol were recorded during and after anesthesia
Results: All patients were successfully ventilated through the assigned laryngeal mask during operation We
didn't have to change from a laryngeal mask to an endotracheal tube or a double lumen endotracheal tube No patient needed an insertion of stomach tube to prevent abdominal distention due to the movement of the air from artificial ventilatiion with laryngeal mask The depth of anaesthesia is stable and controllable during TCI Propofol.
Conclusions: use of proseal laryngeal mask and TCI Propofol in anesthesia for endoscopic thoracic
Bệnh Viện Đại Học Y Dược TP.HCM
Tác giả liên lạc: ThS Phan Tôn Ngọc Vũ, ĐT: 0908883458, Email: vuphan 682003@yahoo.com
Trang 2sympatectomie is safe and efficacious
Key words: sympathectomy, colioscopie, the proseal laryngeal mask, Target Controlled Infusion (TCI)
MỞ ĐẦU
Phương pháp phẫu thuật cắt hạch giao cảm
ngực nội soi thường được chỉ định cho những
bệnh nhân bị tăng tiết mồ hôi tay và nách, ngoài
ra còn chỉ định cho những bệnh nhân tăng tiết
mồ hôi vùng đầu mặt, bị hội chứng Raynaud,
hội chứng Buerger, hội chứng QT kéo dài, một
số trường hợp đau mạn tính, và chứng sợ đỏ
mặt Đây là một phương pháp phẫu thuật ít xâm
lấn và cho đến nay đã hoàn toàn thay thế cho
phương pháp phẫu thuật mở ngực kinh điển
Phương pháp này được thực hiện lần đầu tiên
vào năm 1942(7) Đến năm 1954, Kux đã báo cáo
hơn 1400 trường hợp(11) Tuy nhiên phương
pháp phẫu thuật cắt hạch thần kinh giao cảm
ngực qua nội soi vẫn còn chưa phổ biến cho đến
tận thập niên 80 khi mà kỹ thuật nội soi được
phổ biến trong phẫu thuật ngoại khoa
Để thực hiện được phẫu thuật cắt hạch giao
cảm ngực nội soi, phẫu thuật viên cần phải thấy
rõ chuỗi hạch giao cảm đoạn ngực trên ở tại vị
trí các cổ xương sườn Hầu hết các trường hợp
cần phải gây mê toàn thân, tuy nhiên một số
trường hợp thực hiện phẫu thuật với gây tê
ngoài màng cứng hoặc gây tê thần kinh gian cột
sống
Khuyến cáo đầu tiên về gây mê cho phẫu
thuật cắt hạch thần kinh giao cảm là nên sử
dụng phương pháp gây mê cân bằng toàn thân
với ống nội phế quản hai nòng Kỹ thuật này
cho phép xẹp phổi từng bên và tạo phẫu thường
tốt cho phẫu thuật viên Nếu sử dụng ống nội
phế quản hai nòng thì cần thiết phải kiểm tra vị
trí của ống sau khi đặt bằng ống nội soi mềm
Sau đó thì phương pháp gây mê nội khí quản
kết hợp với gây xẹp phổi chủ động từng bên
bằng cách bơm khí carbonic vào khoang lồng
ngực đã dần thay thế cho phương pháp gây mê
với ống nội phế quản hai nòng Một số trung
tâm sử dụng phương pháp gây mê với ống nội
khí quản kết hợp với bóng chẹn phế quản hoặc
phương pháp gây mê với mặt nạ thanh quản
proseal cho phẫu thuật cắt hạch giao cảm ngực nội soi(9,12)
Mặt nạ thanh quản cổ điển đã được sử dụng trong gây mê từ lâu, nhưng đặc điểm cấu tạo và
áp lực trong túi hơi chỉ khoảng 20cm nước, nên chỉ thích hợp cho những bệnh nhân tự thở và không ngăn ngừa được hít chất nôn ói Chỉ một thời gian sau thì mặt nạ thanh quản proseal đã
ra đời, với cấu tạo phù hợp và áp lực trong túi hơi đã lên tới 60 cm nước, nên có thể thông khí với áp lực dương và hạn chế tai biến hít phải chất nôn ói Với lý do này, việc sử dụng mặt nạ thanh quản để kiểm soát đường thở và thông khí cho phẫu thuật cắt hạch giao cảm ngực nội soi hoàn toàn có thể thực hiện được
Gây mê tĩnh mạch kiểm soát nồng độ đích
đã được sử dụng trong những năm gần đây và ngày càng tỏ rõ có nhiều ưu thế, đặc biết trong phẫu thuật lồng ngực khi mà phải gây xẹp phổi
để tạo phẫu trường thuận lợi cho phẫu thuật viên trong quá trình mổ(8)
Mục tiêu nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của chúng tôi nhằm đánh giá hiệu quả và an toàn của sử dụng mặt
nạ thanh quản proseal với gây mê tĩnh mạch kiểm soát nồng độ đích Propofol cho những bệnh nhân được phẫu thuật cắt hạch thần kinh giao cảm đoạn ngực T2, T 3 và T4 tại Bệnh viện Đại học Y Dược
ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Đối tượng
Những bệnh nhân có chỉ định phẫu thuật cắt hạch giao cảm ngực nội soi
Thời gian: từ tháng 5 năm 2011 đến tháng 12 năm 2011
Địa điểm: tại Bệnh viện Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh
Phương pháp
Mô tả, cắt ngang
Trang 3Bệnh nhân được theo dõi bằng các phương
tiện theo dõi tại phòng mổ như: theo dõi điện
tim, huyết áp không xâm lấn, độ bão hòa oxy
Sp02, nồng độ khí CO2 cuối thì thở ra và theo
dõi độ mê bằng BIS
Tất cả các bệnh nhân đều được gây mê toàn
thân và kiểm soát đường thở bằng mặt nạ thanh
quản Proseal, thuốc tiền mê: midazolam 1 mg,
giảm đau Fentanyl với liều 4mcg/kg cân nặng,
gây mê kiểm soát nồng độ đích Propofol với
nồng độ đích trong huyết thanh khi khởi mê là
6mcg/ml và duy trì mê với nồng độ đích
3mcg/ml và ngưng truyền khi kết thúc cuộc mổ,
giãn cơ với Esmeron với liều 0.3 mg/kg cân nặng
được tiêm tĩnh mạch 3 phút trước rạch da
Xử lý và phân tích số liệu
Lưu trữ và xử lý số liệu bằng phần mềm
SPSS 16.0
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Đặc điểm dịch tế học
Bảng 1: đặc điểm mẫu nghiên cứu
Nhỏ nhất Lớn nhất Trung bình
Bảng 2: sự phân bố về giới
Số bệnh nhân Tỷ lệ
Bảng 3: Sự phân bố về nghề nghiệp
Số bệnh nhân Tỷ lệ
Bảng 4: phân bố bệnh
Số bệnh nhân Tỷ lệ
Đổ mồ hôi hai bàn tay và hai
nách nách
Bảng 5: vị trí cắt hạch thần kinh giao cảm ngực
Vị trí hạch thần kinh giao cảm
Số lượng bệnh nhân
Tỷ lệ
Bảng 6: Thời gian và nồng độ Propofol tại các thời
điểm gây mê
Mất ý thức Thời gian mất y thức
(giây)
72,8 ± 33, 4 Nồng độ Propofol
(mcg/ml)
1,4 ± 0.2 Đặt mặt nạ thanh
quản
Thời gian dãn cơ hàm (giây)
77 ± 26 Nồng độ Propofol
(mcg/ml)
2,4 ± 0,6 Thời gian hồi
tỉnh (phút)
11,6 ± 4,3
Nồng độ Propofol (mcg/ml)
1,2 ± 0,7
Bảng 7: Thời gian gây mê và tổng liều các thuốc mê
Nhỏ nhất Lớn nhất Trung bình
Thời gian gây mê (phút)
Tổng liều Propofol (mg)
Tổng liều Esmeron (mg)
Tổng liều Fentanyl (mcg)
Bảng 8: Thay đổi huyết động: mạch, huyết áp
Thời điểm Mạch (lần/phút) Huyết áp tâm thu Huyết áp tâm trương Huyết áp trung bình
T1 (trước đặt mặt nạ TQ) 66,3 ± 9,4
Trang 4Thời điểm Mạch (lần/phút) Huyết áp tâm thu Huyết áp tâm trương Huyết áp trung bình
BÀN LUẬN
Mặt nạ thanh quản đảm bảo kiểm soát
đường thở trong phẫu thuật nội soi cắt hạch
thần kinh giao cảm ngực
Sử dụng mặt nạ thanh quản để kiểm soát
đường thở ít xâm lấn và ít gây chấn thương, ít
gây biến động huyết động hơn so với nội khí
quản kiểm soát đường thở dễ dàng hơn, kín
khít hơn và bảo vệ đường thở tốt hơn so với mặt
nạ ngoài Mặt nạ thanh quản cổ điển đã chứng
tỏ là một dụng cụ an toàn để kiểm soát đường
thở, tuy nhiên vần còn nguy cơ viêm phổi do hít
phải, dặt biệt là trên những bệnh nhân phải
phẫu thuật kéo dài hoặc thông khí với áp lực
dương cao Với sự ra đời của mặt nạ thanh quản
Proseal, những nhược điểm trên đã được hạn
chế tối đa, tức là có thể sử dụng trong những
phẫu thuật kéo dài và thông khí với áp lực
dương cao
Trong nghiên cứu của chúng tôi chỉ sử dụng
mặt nạ thanh quản cỡ số 3 và cỡ số 4 Thể tích
bơm hơi tối đa đối với cỡ số 3 là 20 ml khí và cỡ
số 4 là 30 ml khí Chúng tôi thường bơm khoảng
50% thể tích tối đa, sau đó chúng tôi kiểm tra
xem bóng hơi có ôm kín thanh môn bằng các
nghiệm pháp áp lực dò khí Chúng tôi đánh giá
mức độ dò khí thông qua đánh giá tiếng ồn ở
vùng miệng bệnh nhân khi thông khí với áp lực
dương, nghe bằng ống nghe để phát hiện tiếng
ồn của không khí đi vào dạ dày khi thông khí
nhân tạo Chúng tôi còn sử dụng nghiệm pháp
áp lực dò khí, nghiệm pháp này được thực hiện
đơn giản, để lưu lượng khí mới 3 lít/phút, đóng
van thở ra của máy thở và theo dõi áp lực
đường thở, khi áp lực đường thở đạt đến một
giá trị ổn định tức là mức độ khí bị rò bằng với
lưu lượng khí mới đưa vào Nghiệm pháp này
giúp tiên lượng trước khả năng có bị dò khí khi
thông khí với áp lực dương Nếu nghiệm pháp
áp lực dò khí vượt quá 40 cm H2O thì được xem
là thất bại Áp lực dò khí trong nghiên cứu của
chúng tôi là 24,4 cm H2O Kết quả này cùng tương tự như các kết quả nghiên cứu của các tác giả Nguyễn Văn Chừng, cũng như kết quả nghiên cứu của tác giả Keller và Brimacombe(10)
Tỷ lệ đặt thành công mặt nạ thanh quản trong nghiên cứu của chúng tôi là 100% Thời gian đặt mặt nạ thanh quản 25,7 giây Kết quả này cũng phù hợp với nghiên cứu của Nguyễn Văn Chừng Đây là phương pháp đặt đơn giản, thời gian đặt tương đối nhanh và ít kích thích
Sau khi đặt xong mặt nạ thanh quản, tất cả bệnh nhân được thông khí bằng máy thở với các chỉ số cài đặt VT 8ml/Kg cân nặng cơ thể, I/E =
½, f = 12 lần/phút, PEEP = 0 cmH2O Chúng tôi tiến hành nghiệm pháp áp lực dò khí, đồng thời đánh giá xem bệnh nhân có bị chướng hơi dạ dày khi thông khí với áp lực dương Áp lực đường thở tối đa trong nghiên cứu của chúng tôi khi thở máy cao nhất là 23 cmH2O Chúng tôi cũng ghi nhận không có trường hợp bệnh nhân không thông khí đủ trong quá trình phẫu thuật, cũng như không có trường hợp nào chúng tôi phải đặt ống thông dạ dày vì chướng hơi do quá trình thông khí với mặt nạ thanh quản
Bệnh nhân được mổ cắt hạch thần kinh giao cảm ngực qua ngã nội soi lồng ngực với tư thế Semi-Fowler Hạch thần kinh giao cảm ngực vị trí T2, T3, T4 nằm ở vị trí cao của lồng ngực Khi bệnh nhân ngừng thở và có sự thông thương giữa khoang màng phổi và khí trời sau khi đặt trocar đầu tiên thì phổi sẽ co lại tạo điều kiện tiếp cận vị trí hạch giao cảm cần đốt một cách thuận lợi Trong quá trình phẫu thuật, SpO2 của bệnh nhân có thể bị giảm do bệnh nhân phải ngưng thở quá lâu Chúng tôi thường thông khí cho bệnh nhân với bóp bóng bằng tay khi SpO2 dưới 90% Khi đã cắt được hạch giao cảm, các lỗ trocar sẽ được đóng lại sau khi đã đuổi khí trong khoang màng phổi nhờ một ống thông Việc này đòi hỏi phải cho bệnh nhân nở phổi
Trang 5nhờ bóp bóng bằng tay Khi thông khí bằng bóp
bóng cho bệnh nhân chúng tôi dựa vào lâm
sàng đánh giá mức độ di động của ngực và áp
lực đường thở của bệnh nhân Chúng tôi thường
giữ áp lực này dưới 30 cmH2O nhằm tránh thay
đổi vị trí của bóng hơi mặt nạ thanh quản và
đảm bảo được thông khí trong suốt cuộc mổ
Gây mê tĩnh mạch kiểm soát nồng độ đích
Propofol hiệu quả và an toàn trong phẫu thuật
nội soi cắt hạch giao cảm ngực
Phương pháp gây mê bằng đường tĩnh
mạch thường được lựa chọn cho các phẫu thuật
lồng ngực khi mà cần thiết phải thông khí một
phổi hoặc phải ngừng thở trong quá trình phẫu
thuật Ngoài việc tránh được sự thoát khí mê
bốc hơi từ hệ thống hô hấp cho bệnh nhân vào
trong môi trường phòng mổ, phương pháp gây
mê bằng đường tĩnh mạch còn ít ảnh hưởng đến
phản xạ co mạch máu phổi do thiếu oxy Đã có
nhiều nghiên cứu cho thấy, có sự tăng số lượng
shunt ở những vùng phế nang không được
thông khí trong quá trình gây mê với khí mê bốc
hơi so với khi gây mê bằng đường tĩnh mạch
Gây mê tĩnh mạch kiểm soát nồng độ đích
Propofol càng ngày càng chứng tỏ được ưu thế
của mình nhờ tính an toàn, dễ điều chỉnh, nồng
độ thuốc ổn định và không tích lũy và có thể dự
đoán được thời gian tỉnh khi ngưng truyền
thuốc(8)
Nồng độ Propofol ở não khi mất phản xạ mi
mắt và dãn cơ hàm là 1,4 ± 0,2 mcg/ml và 2,4 ±
0,6 mcg/ml Thời gian mất phản xạ mi mắt và
thời gian dãn cơ hàm là 72 ± 33,4 giây và 77 ± 26
giây Kết quả này cũng tương tự với kết quả
nghiên cứu của Mary Việc sử dụng phối hợp
với thuốc giảm đau tạo điều kiện thuận lợi cho
đặt mặt nạ thanh quản
Chúng tôi duy trì mê với nồng độ đích
3mcg/ml.Trong nhóm nghiên cứu của chúng tôi
có 12 bệnh nhân được theo dõi BIS trong mổ
một cách ngẫu nhiên, kết quả cho thấy với việc
duy trì với nồng độ đích như vậy thì BIS luôn
nằm trong vùng điều trị, giá trị BIS ở giai đoạn
duy trì mê trong nghiên cứu thấp nhất là 33 và
cao nhất là 64 Theo khuyến cáo của hiệp hội gây mê hồi sức Pháp thì cần thiết sử dụng phương tiện theo dõi độ mê cho bệnh nhân trong những trường hợp lâm sàng mà sự tương quan giữa nồng độ và tác dụng lâm sàng của các thuốc gây mê bị thay đổi Còn trong các trường hợp lâm sàng khác thì chưa có bằng chứng rõ ràng về lợi ích của phương tiện theo dõi độ mê BIS Chúng tôi sử dụng thuốc dãn cơ Esmeron trước khi rạch da với liều 0,3mg/kg cân nặng Việc sử dụng thuốc giãn cơ nhằm đảm bảo bệnh nhân bất động và không có nhịp tự thở trong suốt quá trình cắt hạch giao cảm ngực Trong nghiên cứu của chúng tôi có 4 bệnh nhân bị dính màng phổi, gây khó khăn trong quá trình phẫu thuật và thời gian phẫu thuật kéo dài, nên cần thiết phải dùng liều giãn cơ nhắc lại cho bệnh nhân Nghiên cứu của Nguyễn Quang Đình, trong số 59 bệnh nhân được phẫu thuật cắt hạch giao cảm ngực nội soi với gây mê nội khí quản, có 3 trường hợp bị dính màng phổi và
cả 3 trường hợp này đều được gỡ dính mà không cần phải chuyển sang gây mê với ống nội phế quản hai nòng Còn trong một nghiên cứu với số lượng bệnh nhân lớn hơn của Lê Phi Long, nghiên cứu trên 172 trường hợp được cắt hạch giao cảm ngực nội soi với gây mê ống nội phế quản hai nòng thì có 3 trường hợp không thể gỡ dính và phải ngừng phẫu thuật Như vậy gây mê với mặt nạ thanh quản cho phẫu thuật cắt hạch giao cảm ngực nội soi còn phụ thuộc vào kỹ thuật cũng như thói quen của phẫu thuật viên Đồng thời phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa bác sỹ gây mê và phẫu thuật viên trong quá trình phẫu thuật Trong những trường hợp phẫu thuật khó khăn đòi hỏi phải có một phẫu trường tối ưu thì việc lựa chọn ống nội phế quản hai nòng được ưu tiên
Thời gian hồi tỉnh của bệnh nhân trong nghiên cứu của chúng tôi là 11,6 ± 4,3 phút Kết quả này cũng phù hợp với các nghiên cứu của các tác giả khác(2,4) không có sự khác biệt đáng kể giữa thời gian hồi tỉnh của bệnh nhân và thời gian dự đoán tỉnh của máy TCI Đa số bệnh nhân của chúng tôi đều hồi tỉnh một cách êm
Trang 6dịu và không than phiền mệt hay nặng đầu
Nồng độ Propofol ở não lúc hồi tỉnh trong
nghiên cứu của chúng tôi là 1,2 ± 0,7 Kết quả
này cũng phù hợp với các tác giả khác(1,2,5)
Thường thì nồng độ Propofol trong não lúc hồi
tỉnh có giá trị gần với giá trị khi mất ý thức
Trong nghiên cứu của chúng tôi, tất cả bệnh
nhân đều mất ý thức nhanh và êm dịu khi khởi
mê
Về mặt huyết động, chúng tôi thấy huyết áp
có giảm sau khi khởi mê, nhưng việc giảm huyết
áp này không đáng kể và cũng không cần phải
can thiệp gì Có lẽ vì trong nhóm nghiên cứu đa
số là những người khỏe mạnh, có ASA I, II và
không có yếu tố gây thiếu khối lượng tuần hoàn
trước mổ(6).
KẾT LUẬN
Phương pháp gây mê tĩnh mạch kiểm soát
nồng độ đích propofol dụng mặt nạ thanh quản
proseal là một phương pháp gây mê có thể lựa
chọn cho cho phẫu thuật cắt hạch thần kinh giao
cảm ngực nội soi Vì gây mê tĩnh mạch kiểm
soát nồng độ đích vừa an toàn, tiện lợi và hiệu
quả Sử dụng mặt nạ thanh quản ít xâm lấn và ít
gây chấn thương, ít gây biến động huyết động
mà vẫn đảm bảo kiểm soát đường thở trong
phẫu
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Astra-Zeneca (1999) Target controlled infusion in anaesthetic practice, pp 1-20
2 Châu Thị Mỹ An, Nguyễn Ngọc Anh, Nguyễn văn Chừng Gây
mê tĩnh mạch toàn diện bằng Propofol kiểm soát nồng độ đích trong phẫu thuật bụng ISSN 1859-1779 P 179-185
3 Cook T.M, Nolan J.P(2002) The Pro-Seal laryngeal mask airway The Association of Anaesthetists of Great Britain and Ireland ; 57:288–289
4 Dương Anh Khoa, Nguyễn Quốc Kính (2008) Đánh giá vai trò của mặt nạ thanh quản Proseal trong gây mê nội soi ổ bụng Báo cáo khoa học, Đại hội gây mê hồi sức Việt Nam 2008, tr 110-113
5 Hoàng Văn Bách (2008) Khởi mê tĩnh mạch bằng kỹ thuật TCI-Propofol kết hợp theo dõi độ mê bằng Entropy; Đại hội gây mê hồi sức Việt Nam, Daklak, tr 235-7
6 Hug CC, McLeskey CH, Nahrrwold ML, et a(1993)l Hemodynamic effects of propofol: data from over 25,000 patients Anesth An;77: S21–9
7 Hughes J Endothoracic sympathectomy Proc R Soc Med 1942;35:585-6
8 Hunt-Smith J, Donaghy A, Leslie K, et al (1999) Safety and efficacy of target controlled infusion (Diprifusor) vs manually controlled infusion of propofol for anaesthesia Anaesth Intensive Care;27: 260–4
9 Jedeikin R, Olsfanger D, Shachor D, Mansoor K(1992) Anaesthesia for transthoracic endoscopic sympathectomy in the treatment of upper limb hyperhidrosis Br J Anaesth;69:349-51
10 Keller C, Brimacombe J, Keller K, Morris R(1999) A comparison
of four methods for assessing airway sealing pressure with the laryngeal mask airway in adult patients Br J Anaesth; 82: 286–7
11 Kux M (1978) Thoracic endoscopic sympathectomy in palmar and axillary hyperhidrosis Arch Surg;113:264-6
12 Lee LS, Lin CC, Chung HC, Au CF, Fang HT(2001) A survey on anaesthesia for thoracoscopic sympathetic surgery in treatment
of hyperhidrosis in Taiwan Ann Chir Gynaecol;90:209-11