1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Điều trị gãy trên hai lồi cầu xương cánh tay ở trẻ em bằng nắn kín dưới siêu âm và xuyên kim qua da

9 88 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 513,2 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nội dung bài viết với mục tiêu xác định tính khả thi và đánh giá hiệu quả của phương pháp. Nghiên cứu thực hiện ở 61 ca gãy trên hai lồi cầu xương cánh tay có di lệch gartland 2 hoặc 3 tại bệnh viện Nhi Đồng Đồng Nai, được điều trị bằng nắn kín dưới siêu âm và xuyên kim qua da.

Trang 1

ĐIỀU TRỊ GÃY TRÊN HAI LỒI CẦU XƯƠNG CÁNH TAY Ở TRẺ EM  BẰNG NẮN KÍN DƯỚI SIÊU ÂM VÀ XUYÊN KIM QUA DA 

Vũ Công Tầm*, Nguyễn Bá Minh Phước*, Phạm Anh Tuấn* 

TÓM TẮT 

Mục tiêu: Xác định tính khả thi và đánh giá hiệu quả của phương pháp. 

Phương pháp nghiên cứu: Tiền cứu 61 ca gãy trên hai lồi cầu xương cánh tay có di lệch Gartland II hoặc 

III tại bệnh viện Nhi Đồng Đồng Nai, được điều trị bằng nắn kín dưới siêu âm và xuyên kim qua da. 

Kết quả: Trong thời gian 11/2009 – 9/2011, chúng tôi thực hiện tiền cứu, thống kê mô tả 61 ca gãy trên hai 

lồi cầu xương cánh tay có di lệch độ Gartland II & III tại bệnh viện Nhi Đồng Đồng Nai, thời gian theo dõi trung  bình 10,8 tháng (6‐18 tháng). Không tai biến và ít biến chứng. 

Kết  luận:  Điều trị gãy trên hai lồi cầu xương cánh tay bằng nắn kín dưới siêu âm là khả thi và an toàn, 

không có tai biến, ít biến chứng, không nhiễm tia X. Phương pháp này mang lại nhiều kết quả tốt đẹp cho bệnh  nhân: Không bị mổ hở, không mất máu, xương gãy được nắn về vị trí giải phẫu, hình dáng và chức năng của tay  gãy đạt kết quả xuất sắc và tốt 94,8%, sẹo mổ 1 mm x 2 đạt yêu cầu thẩm mỹ cao, hậu phẫu ít đau, không bị tai  biến  tổn  thương  thần  kinh  và  mạch  máu  do  xuyên  đinh.  Chỉ  3  ca  (5%)  ướt  chân  đinh,  không  nhiễm  khuẩn  xương khớp, không biến dạng khuỷu, không vẹo khuỷu, không bó bột, không cứng khớp. Vận động sớm, ít đau  sau mổ, thời gian nằm viện ngắn 3,4 ngày, được thân nhân và bệnh nhân hài lòng cao (98,3%). Tiết kiệm nhiều  mặt: Chi phí điều trị thấp, thời gian điều trị ngắn, ngân sách đầu tư thấp. Chỉ định cho toàn bộ các bệnh nhân bị  gẫy trên hai lồi cầu xương cánh tay có di lệch, không có biến chứng mạch máu, thần kinh trước mổ, không có 

mảnh xương thứ 3. 

Từ khoá: Gãy trên hai lồi cầu xương cánh tay. 

ABSTRACT 

TREAT DISPLACED SUPRACONDYLAR HUMERAL FRACTURE IN CHILDREN BY CLOSED 

REDUCTION UNDER ULTRASOUND AND PERCUTANEOUS PIN FIXATION 

Vu Cong Tam, Nguyen Ba Minh Phuoc, Pham Anh Tuan 

* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 17 ‐ Supplement of No 3 ‐ 2013: 214 ‐ 222 

Object: Cornfirm feasibility and evaluate effects of surgery. 

Method: Prospective and descriptive 61 cases of displaced supracondylar humerous fracture Gartland II, III 

in children at Dong Nai children’s hospital by closed reduction under ultrasound and percutaneous pin fixation. 

Result:  From  November  2009  to  September  2011,  we  had  performed  a  prospective  study  in  61  cases  of 

displaced  supracondylar  humeral  fractures  (  Gartland  II  or  III)  in  children  at  Dong  Nai  children’s  hospital. 

Average time of follow up 10.8 months (6‐18 m). No accidents and less complications.  

Conclusion:  Treat  displaced  supracondylar  humeral  fractures  in  children  by  closed  reduction  under 

Ultrasound and percutaneous pin fixation is feasible, safety, non‐accident, few complication, unexposed X ray.  The  technique  enhances  many  good  effects  for  patient:  No  open  surgery,  no  bleed,  reduction  displacements  of  fracture is same of normal anatomy, excellence and good Flynn’s result classification is 94.8%, cosmetic scar 1 

* Bệnh viện Nhi Đồng Đồng Nai. 

Tác giả liên lạc: Bs Vũ Công Tầm   ĐT:0913850813  Email: bstambvn@yahoo.com. 

Trang 2

mm x 2, light pain in post operation, short stay hospital 3.4 day, satisfy parent and patient 98.3%, ecomic effects:  low  fee,  low  investment  fun,  non‐accident  of  Brachial  artery  or  Ulna  nerve,  non  ossa‐arthro  infection,  no  deformed elbow, no plaster cast, no stiff arthrosis, early movement, only 3 cases superficial infection. Indicated all 

of displaced supracondylar humeral fractures that has not vascular or nervous injury before surgery. 

Key word: Supracondylar humerous fracture. 

ĐẶT VẤN ĐỀ 

Gãy trên 2 lồi cầu xương cánh tay ở trẻ em là 

1 loại gãy rất thường gặp. Việc chẩn đoán không 

khó. Điều trị có nhiều phương pháp: Nắn kín bó 

bột,  kéo  xương  liên  tục,  mổ  kết  hợp  xương  hở, 

đặc biệt trong những năm gần đây các nước có y 

học phát triển trên thế giới áp dụng nắn kín và 

xuyên kim qua da dưới X quang tăng sáng (máy 

C‐arm)  có  những  ưu  điểm:  Không  mở  ổ  gẫy, 

không  bó  bột,  duy  trì  kết  quả  nắn  bằng  xuyên 

kim qua da, tránh di lệch thứ phát, đảm bảo kết 

quả  về  chức  năng  và  thẩm  mỹ,  ít  biến  chứng, 

thời gian nằm viện ngắn hiệu quả kinh tế, xã hội 

cao(14).  Để  bệnh  nhân  được  hưởng  các  ưu  điểm 

này và hơn nữa là không phải tiếp xúc nhiều với 

tia X chúng tôi thực hiện đề tài: Điều trị gãy trên 

hai lồi cầu xương cánh tay trẻ ẻm bằng nắn kín 

dưới siêu âm và xuyên kim qua da. 

Mục tiêu nghiên cứu 

Mục tiêu tổng quát  

Xác định tính  khả  thi  và  đánh  giá  hiệu  quả 

của phương pháp. 

Mục tiêu cụ thể  

Đánh giá hiệu quả của phương pháp. 

Đề  xuất  chỉ  định  và  kỹ  thuật  của  phương 

pháp. 

Nêu các tai biến và biến chứng. 

Đề  xuất  tiêu  chuẩn  đánh  giá  kết  quả  theo 

siêu âm. 

PHƯƠNG PHÁP ‐ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU  

Tiền  cứu  61  ca  gãy  trên  hai  lồi  cầu  xương 

cánh tay có di lệch Gartland II hoặc III tại bệnh 

viện  Nhi  Đồng  Đồng  Nai,  được  điều  trị  bằng 

nắn kín dưới siêu âm và xuyên kim qua da. 

Thống kê mô tả. 

Xử lý số liệu bằng phần mềm SPSS 10.0. 

Đối tượng nghiên cứu 

Các BN bị gãy trên 2 lồi cầu xương cánh tay 

di lệch (độ Gartland II hoặc III) do chấn thương,  điều  trị  tại  bệnh  viện  Nhi  Đồng  Đồng  Nai  từ  11/2009 ‐ 09/2011. 

Tiêu chuẩn loại trừ 

Bệnh  nhân  có  tổn  thương  mạch  máu  hoặc  thần kinh trước mổ. 

Bệnh  nhân  phải  đổi  phương  pháp  điều  trị  khác. 

Đánh  giá  kết  quả  điều  trị  theo  thang  điểm  Flynn JC và Webb AJ(5) 

Bảng 1. Thang điểm đánh giá kết quả của Flynn JC 

& Webb AJ 

Kết quả Thẩm mỹ

Mất góc mang

Chức năng Mất vận động

Tốt 6-10º 6-10º

Nhận xét: Chúng tôi sử dụng bảng phân loại  của Flynn 1974 và được bổ sung bởi Webb 1989 

để  xếp  loại  kết  quả  điều  các  bệnh  nhân.  Đánh  giá  riêng  từng  yếu  tố  chức  năng  và  thẩm  mỹ  nhưng  kết  quả  chung  thì  chọn  theo  yếu  tố  nào 

có xếp loại xấu hơn. Ví dụ: Yếu tố chức năng xếp  loại tốt, yếu tố thẩm mỹ xếp loại khá thì kết quả  chung là khá. 

Các  bước  tiến  hành  phẫu  thuật  nắn  kín  dưới siêu âm & xuyên đinh qua da 

Dùng  siêu  âm  đánh  giá  di  lệch  của  xương  gẫy trước khi kéo nắn. 

Kéo nắn kín xương gẫy như hướng dẫn của  Wilkins. 

Kiểm tra kết quả nắn kín bằng siêu âm, nếu  tốt  thì  làm  vững  ổ  gãy  tạm  thời  như  Wilkins:  Gấp  khuỷu  tối  đa  và  xấp  cẳng  tay,  rồi  dùng  băng  thung  cuốn  cổ  tay  vào  đầu  trên  xương 

Trang 3

cánh  tay  để  duy  trì  tư  thế  gấp  khuỷu  chuẩn  bị 

xuyên đinh. 

Dùng  siêu  âm  định  vị  trí  của  xương  lên  da 

giúp cho việc xuyên đinh qua da được dễ dàng 

và chính xác hơn. 

Rửa  da,  sát  khuẩn,  trải  khăn  cách  ly  vùng 

xuyên đinh. 

Tiến hành xuyên đinh theo Wilkins. Đối với 

kim  phía  trong  chúng  tôi  áp  dụng  theo  Võ 

Thành  Phụng,  Phan  Quang  Trí,  Lê  Hữu  Phúc, 

Huỳnh  Mạnh  Nhi:  Xuyên  2  ‐  3  kim  từ  lồi  cầu 

ngoài nếu bất động vững thì không xuyên  kim 

phía  trong,  hoặc  bộc  lộ  hoặc  cách  ly  thần  kinh 

trụ để dự phòng tổn thương thần kinh trụ(7,10) . 

Siêu  âm  kiểm  tra  nếu  đạt  yêu  cầu  thì  đặt 

máng bột cánh bàn tay khuỷu gấp 90 độ. 

X quang sau xuyên đinh để đối chứng.  

Vận động nhẹ khớp khuỷu sau mổ 1 tuần. 

Theo dõi lành xương và di lệch sau mổ bằng 

siêu âm có đối chứng X quang mỗi tuần. 

Kỹ  thuật  nắn  kín  dưới  siêu  âm  và  xuyên 

đinh qua da 

Các  bệnh  nhân  được  gây  mê  thực  hiện  thủ 

thuật nắn kín trước tiên dùng máy siêu âm với 

đầu dò linear tần số 7‐10 MHz xác định di lệch 

trước nắn, siêu âm 4 mặt của xương, tại 6 vị trí: 

Mặt trước: 2 vị trí SA, 1 đường cắt dọc qua 

lồi cầu ngoài, 1 đường cắt dọc qua ròng rọc. Mặt 

sau:  2  vị  trí  SA,  dọc  mặt  sau  trụ  ngoài  và  dọc 

mặt sau trụ trong của đầu dưới xương cánh tay.  Mặt trong: 1 vị trí SA, dọc theo bờ trong xương  cánh tay đi qua mỏm trên ròng rọc, sẽ cho chúng 

ta hình ảnh bờ trong xương cánh tay. Mặt ngoài 

1 vị trí SA, dọc bờ ngoài xương cánh tay đi qua  mỏn trên lồi cầu ngoài sẽ cho chúng ta hình ảnh 

bờ ngoài xương cánh tay. SA trong gãy trên 2 lồi  cầu xương cánh tay sử dụng các đường cắt dọc  theo chiều dài của xương 

SA  mặt  trước  và  sau  của  đầu  dưới  xương  cánh  tay  giúp  đánh  giá  các  di  lệch  xoay,  trước,  sau, gập góc ra trước‐sau. SA mặt trong và ngoài  giúp  đánh  giá  các  di  lệch  bên,  gập  góc  mở  ra  ngoài hoặc vào trong 

SA mặt trước ở cả 2 cạnh của đầu dưới XCT  (lồi cầu trong và lồi cầu ngoài). Bình thường sẽ 

có hình ảnh của đường cánh tay trước: Mặt cong  của 2 lồi cầu nhô cao, bờ trước xương cánh tay 

đi qua 1/3 giữa của lồi cầu. SA mặt sau: Qua trụ  trong  và  trụ  ngoài  là  2  đường  thẳng.  SA  mặt  ngoài qua mỏm trên 2 lồi cầu ngoài là 1 đường  cong  giải  phẫu,  mềm  mại.  SA  mặt  trong  qua  mỏm  trên  ròng  rọc  là  1  đường  cong  giải  phẫu,  mềm mại 

Khi  xương  gãy  hình  ảnh  SA  các  bờ  xương  này bị mất liên tục. Đoạn gãy di lệch về phía nào  thì hình SA mặt đó có hình bậc thang. Chúng ta 

đo  khoảng  cách  chênh  lệch  của  bậc  thang  sẽ  được số đo di lệch của xương gãy. 

Hình SA đầu dưới XCT. 

Hình 1. SA cắt dọc bờ 

trước lồi cầu‐mỏm Vẹt 

Hình 2. Cắt dọc bờ trước 

lồi cầu‐đầu xương quay 

Hình 3. SA bờ ngoài và bờ trong đầu dưới XCT bình 

thường: Đường cong giải phẫu 

Trang 4

     

Hình 4. SA bờ ngoài bị gẫy,di lệch 

vào trong 1,1 mm. Bờ trong bị gẫy 

và di 8 lệch vào trong 5,8 mm 

Hình 5. SA mặt sau trụ trong & 

trụ ngoài bị gập góc ra sau 

Hình 6. SA mặt sau trụ trong & 

trụ ngoài đã đươc nắn thẳng 

Bắt đầu kéo nắn, 1 người nắn phía trên của 

cánh tay, 1 người nắm cổ tay kéo thẳng, tư thế 

khuỷu ngửa, sửa di lệch chồng, sửa di lệch bên, 

rồi  sửa  di  lệch  trước‐sau.  kiểm  tra  lâm  sàng  sơ 

bộ rồi dùng SA kiểm tra lại các di lệch, nếu hết 

di lệch thì cố định ổ gãy tạm thời bằng cách gập 

khuỷu  tối  đa  và  sấp  bàn  tay.  Để  duy  trì  tư  thế 

gấp  khuỷu  chúng  tôi  dùng  băng  thung  cuốn 

quanh  cổ  tay  vào  đầu  trên  cánh  tay.  Rửa  vùng 

khuỷu,  rồi  trải  khăn  che  phủ  như  1  cuộc  mổ. 

Phẫu thuật viên rửa tay, mặc áo mang găng và 

xuyên  kim  qua  da.  Như  vậy  sau  khi  nắn  kín 

dưới SA đạt yêu cầu chúng tôi làm đúng các yêu 

cầu  về  vô  trùng  mới  bắt  đầu  xuyên  đinh  nên 

phẫu thuật đảm bảo vô trùng.  

Kỹ  thuật  xuyên  đinh:  Xuyên  2  đinh  từ  lồi 

cầu ngoài, song song và cách nhau 1 cm 

Bệnh nhân nằm ngửa trên bàn mổ, khuỷu ở 

tư thế gấp tối đa, cánh tay  dạng  90º,  mặt  trước 

cánh  tay  hướng  lên  trên.  Đặt  1  cây  đinh 

Steinman dọc mặt sau cánh tay làm trục dọc của 

xương cánh tay giúp cho việc định hướng xuyên 

kim được dễ dàng. 

Xuyên kim từ lồi cầu ngoài: Xác  định  mỏm 

trên  lồi  cầu  ngoài,  trong  những  ca  không  sưng 

thì  dễ  dàng  xác  định  bằng  sờ  nắn.  Những 

trường hợp sưng to không sờ tìm trực tiếp được, 

chúng tôi dùng phương pháp đối xứng với bên 

tay lành, tìm tương quan vị trí giữ mỏm khuỷu 

với  mỏm  trên  lồi  cầu  ngoài  bên  tay  lành.  Đo 

khoảng  cách  từ  mỏm  khuỷu  đến  mỏm  trên  lồi 

cầu  ngoài  và  chênh  lệch  độ  cao  giữa  mỏm 

khuỷu với mỏm trên lồi cầu ngoài. Dùng các số 

đo  này  để  đinh  vị  mỏm  trên  lồi  cầu  ngoài  bên  tay gãy. 

Đặt  mũi  kim  vào  đúng  mỏm  trên  lồi  cầu  ngoài, hợp với trục của xương cánh tay (trục của  đinh  Steinman  đã  nói  ở  trên)  góc  300 trong  mặt  phẳng  trán  và  hơi  chếch  ra  sau.  Bắt  đầu  xuyên  cảm giác đinh chắc khi đi qua đoạn gãy xa, cảm  giác nhẹ khi đinh qua ổ gẫy rồi chắc và cứng khi  đinh  đến  thành  xương  bên  kia.  Ngưng  xuyên  kim khi đinh vừa  xuyên  qua  vỏ  xương  bên  kia  (cảm giác nhẹ). 

Xuyên  kim  từ  lồi  cầu  trong:  Định  vị  mỏm  trên ròng rọc bằng sờ nắn hoặc bộc lộ trực tiếp  rồi xuyên kim vào trung tâm mỏm trên ròng rọc.  Dùng  ngón  tay  cái  chặn  thần  kinh  trụ  ra  sau  hoặc dùng dụng cụ hướng dẫn đinh. Đinh hợp  với trục xương cánh tay trên mặt phẳng trán 300,  hơi chếch ra trước. 

Sau khi xuyên kim, băng kín chân đinh, tháo  băng thung, kiểm tra mạch quay và SA kiểm tra 

4 mặt xương cánh tay, nếu hết các di lệch thì kết  thúc. Đặt máng bột cánh bàn tay tư thế gập 900,  cẳng tay tư thế trung tính. Khi bệnh nhân tỉnh, 

ổn định sẽ chụp X quang kiểm tra. 

KẾT QUẢ  

Bắt đầu từ 11/2009 đến 9/2011 chúng tôi thực  hiện nắn kín dưới SA và xuyên kim qua da cho.  Những BN gẫy trên 2 lồi cầu xương cánh tay 

có  di  lệch  độ  II  ‐  III  Gartland,  không  có  biến 

chứng  thần  kinh  mạch  máu  trước  mổ.  Tổng  số 

BN 61 ca, trong đó di lệch độ Gartland II: 21 ca,  Gartland III: 40 ca. Kết quả được đánh giá theo 

Trang 5

thang điểm Flynn và Webb. Thời  gian  theo  dõi 

trung bình: 10,8 tháng (từ 6 ‐ 18 tháng). 

Các  đặc  điểm  chung  của  bệnh  nhân  gãy 

xương 

Độ  di  lệch  Gartland  II  21  ca,  Gartland  III 

40  ca,  mục  tiêu  của  chúng  tôi  là  áp  dụng 

phương  pháp  điều  trị  này  cho  các  đối  tượng 

gẫy  có  di  lệch  nên  không  thu  thập  các  ca  di 

lệch Gartland độ I.  

Xếp loại kết quả điều trị theo Flynn JC và 

Webb AJ 

Bảng 2. Kết quả điếu trị theo Flynn JC & Webb AJ. 

Kết quả Xuất sắc Tốt Trung bình Kém

Trong  lô  nghiên  cứu  có  3  ca  chuyển  sang 

mổ hở với như lý do sau: 

Ca  I:  Trong  thời  gian  đầu  mới  triển  khai 

nghiên cứu, kinh nghiệm đọc siêu âm còn yếu 

nên bệnh nhân này di lệch gập góc ra trước 80 

độ.  SA  trong  lúc  nắn  xương  có  phát  hiện  lồi 

cầu  nhô  cao  ra  phía  trước  nhưng  cho  là  chấp 

nhận  được  nên  kết  thúc  sớm.  Từ  sau  ca  này 

chúng  tôi  rút  kinh  nghiệm  sử  dụng  thêm  2  vị 

trí  SA  ở  mặt  sau  trụ  trong  và  trụ  ngoài,  giúp 

cho việc kiểm soát di lệch gập góc ra trước‐sau 

rất hiệu quả. Đây là ca thất bại do kinh nghiệm 

SA  của  tác  giả  lúc  khởi  đầu  nhưng  đã  được 

khắc phục. 

Ca II: Do ổ gãy không vững. 

Ca III: Do ổ gãy bị chèn màng xương. 

3  ca  mổ  hở  này  chúng  tôi  không  đưa  vào 

đánh giá kết quả vì phương pháp  điều  trị  phải 

thay đổi, không nằm trong mục tiêu của đề tài. 

So sánh kết quả nắn kín và xuyên kim qua 

da dưới SA của chúng tôi với các tác giả khác 

thực hiện nắn kín và xuyên đinh qua da dưới 

X quang tăng sáng chúng tôi thấy rằng nắn kín 

dưới siêu âm không thua kém X quang. 

Bảng 3. So sánh kết quả nghiên cứu với các tác giả 

trên thế giới 

Kết quả Tác giả Xuất sắc Tốt T.Bình Kém

Khảo sát kết quả nắn kín dưới siêu âm 

Chúng tôi đo các di lệch sau nắn trên SA và 

cả trên phim X quang và lập bảng tổng kết theo  từng nhóm phân loại kết quả điều trị BN. 

Nhóm BN có kết quả xuất sắc n= 46 ca 

Bảng 4. Di lệch sau nắn của nhóm BN xuất sắc 

Loại di lệch Số đo trên SA Số đo trên XQ

DL trước: TB Nhỏ nhất-lớn nhất

0,2 mm 0-5 mm

0,2 mm 0-5 mm

DL sau: TB Nhỏ nhất-lớn nhất

0,5 mm 0-9 mm

0,3 mm 0-4 mm

DL trong: TB Nhỏ nhất-lớn nhất

0,2 mm 0-3 mm

0,09 mm 0-2 mm

DL ngoài: TB Nhỏ nhất-lớn nhất

0,3 mm 0-4 mm

0,7 mm 0-6 mm ĐCTTQLC: TB

Nhỏ nhất-lớn nhất

50,2% của lồi cầu 50-60% của lồi cầu

Góc Baumann:TB Nhỏ nhất lớn nhất

12,3º 5-23º Góc thân-lồi cầu: TB

Nhỏ nhất - lớn nhất

39,5º 18-58º

Trong  nhóm  này  hầu  hết  các  BN  được  nắn  sửa hết di lệch. Đặc biệt các thông số của DL gập  góc trong mặt phẳng dọc (sagital) nằm trong trị 

số  bình  thường,  đường  cánh  tay  trước  đi  qua  tâm của lồi cầu (ĐCTTQLC: 50,2% của lồi cầu),  góc thân ‐ lồi cầu: 39,50. 

Nhóm  này  không  có  di  lệch  gập  góc  trong  mặt phẳng trán: Đường cong giải phẫu (ĐCGP)  của bờ trong và bờ ngoài hiện diện ở hầu hết các 

ca, chỉ số góc Baumann: 12,30 nằm trong giới hạn  bình thường.  

Trang 6

Trong nhóm kết quả tốt: chúng tôi nhận thấy 

gần như trong nhóm kết quả xuất sắc, các di lệch 

trước sau, trong ngoài khoảng 0, nhưng xấu hơn 

ở  chỉ  số  về  sự  gập  góc  trong  mặt  phẳng  dọc: 

ĐCTTQLC: 56,1% của lồi cầu và góc thân lồi cầu 

42,2º. Chính vì thế ảnh hưởng nhẹ đến tầm hoạt 

động của khớp khuỷu. 

Nhóm BN có kết quả trung bình n = 2 

Trong nhóm kết quả trung bình này thì các 

di  lệch  trước‐sau,  trong‐ngoài  còn  tồn  tại  cao 

hơn hai nhóm trên và hai chỉ số của di lệch gập 

góc  trong  mặt  phẳng  dọc  cũng  cao  hơn, 

ĐCTTQLC=  75%  của  lồi  cầu,  góc  thân‐lồi  cầu 

61º. 

Nhóm BN có kết quả xấu n=1 

Trong nhóm này chỉ có 1 BN, theo các số đo 

di  lệch  trên  SA  và  XQ  thấy  cũng  khá  tốt  ngoại 

trừ góc thân lồi cầu 31º, với di lệch này theo lý 

luận về cơ học thì BN có thể hạn chế gấp, nhưng 

trên thực tế BN lại hạn chế duỗi. Theo chúng tôi 

kết  quả  xấu  ở  BN  này  không  do  hạn  chế  của 

phương  pháp  nắn  kín  dưới  SA  và  xuyên  kim 

qua  da  mà  do  đây  là  1  BN  kém  phát  triển  tâm 

thần,  cháu  gần  như  không  biết  gì,  không  trao 

đổi  bằng  ngôn  ngữ  được,  không  thực  hiện  các 

mệnh  lệnh,  nhưng  cơ  thể  thì  rất  phát  triển  to 

khỏe.  Cánh  tay  của  BN  to  gấp  1,5  lần  tay  của 

PTV,  vì  thế  không  thể  ép  buộc  nếu  BN  không 

chịu hợp tác. Ví dụ tập vật lý trị liệu thụ động. 

Mẹ  của  BN  than  phiền  BN  không  chịu  tập  vận 

động  khuỷu  và  thân  nhân  cũng  không  thể 

cưỡng bức BN tập. Cho nên đây là nguyên nhân 

chính dẫn đến kết quả này.   

Tiêu chuẩn đánh giá kết quả theo siêu âm 

Tiêu  chuẩn  hết  di  lệch  trên  siêu  âm  của  gẫy 

trên 2 lồi cầu xương cánh tay (2LCXCT) 

Di lệch sang bên: Hình ảnh siêu âm dọc  ở 

bờ trong và bờ ngoài đầu dưới XCT không còn 

hình  ảnh  bậc  thang,  tạo  được  2  đường  cong 

giải phẫu mềm mại (tương đương với góc thân 

hành xương 90 độ, góc Baumann bình thường 

trên X quang). 

Di lệch trước sau: Hình ảnh siêu âm dọc mặt  trước XCT không còn hình bậc thang. Hình ảnh  siêu  âm  mặt  sau  trụ  trong  và  trụ  ngoài  không  còn hình bậc thang. 

Di lệch gập góc trên mặt phẳng dọc (gập góc 

ra trước hoặc ra sau): Hình ảnh siêu âm dọc mặt  trước qua lồi cầu ngoài và ròng rọc thì bờ trước  thân xương cánh tay đi qua 1/3 giữa của lồi cầu 

và ròng rọc (đường cánh tay trước). Di lệch gập  góc có thể kiểm soát bằng 2 mặt cắt siêu âm mặt  sau trụ trong  và  trụ  ngoài  của  hai  lồi  cầu,  bình  thường là 2 đường thẳng mầu trắng, không gập  góc, không đứt đoạn, không chênh nhau. 

Di  lệch  gập  góc  trên  mặt  phẳng  trán  (vẹo  trong,  vẹo  ngoài):  hình  ảnh  SA  bờ  trong,  bờ  ngoài  của  đầu  dưới  xương  cánh  tay  là  những  đường  cong  đều,  mềm  mại,  không  bị  gập  góc  chúng tôi gọi đó là “đường cong giải phẫu”. 

Di lệch xoay: Dựa vào di lệch trước‐sau của  trụ  trong  và  trụ  ngoài  chúng  tôi  xác  định  có  di  lệch  xoay  không  ?  Xoay  nhiều  hay  ít  ?  Di  lệch  xoay theo chiều hoặc ngược chiều kim đồng hồ.  Dựa vào những hình ảnh này nên SA có ưu thế  hơn  X  quang  trong  kiểm  soát  di  lệch  xoay.  SA  biết  đích  xác  trụ  trong  hoặc  trụ  ngoài  di  lệch  xoay và xoay nhiều hay ít. Để xác định mức độ  xoay  nhiều  hay  ít  chúng  tôi  dựa  vào  số  đo  di  lệch trước sau của hai trụ.  

Qua  đó  chúng  tôi  đề  nghị  tiêu  chuẩn  để  đánh giá kết quả nắn trên SA như sau: 

Bảng 8. Thang điểm đánh giá kết quả nắn kín theo 

siêu âm. 

Xếp loại

Di lệch Xuất sắc Tốt

Trung bình Xấu

Đánh giá hiệu quả của xuyên đinh qua da  Cal xương trung bình 2,3 tuần, chậm nhất 8 

tuần, sớm nhất 1 tuần. 

Xuyên đinh: Chúng tôi chủ trương xuyên 2 

đinh  đơn  thuần  từ  lồi  cầu  ngoài  113  đinh/115  đinh  (98,3%),  chỉ  xuyên  đinh  từ  lồi  cầu  trong  2 

Trang 7

đinh/115  đinh  (1,7%)  để  hạn  chế  tối  đa  tổn 

thương thần kinh trụ. Kết quả của chúng tôi 0%. 

Như  vậy  xuyên  đinh  từ  lồi  cầu  ngoài  đã  đảm 

bảo an toàn cho thần kinh trụ. 

Bảng 9: So sánh tỷ lệ tổn thương thần kinh trụ. 

Tác giả Tổn thương TK Trụ

Chúng  tôi  để  đinh  lộ  ngoài  da,  băng  kín 

chân đinh và chăm sóc vết thương này bằng bôi 

thuốc  sát  khuẩn  Povidin  mỗi  ngày.  Chúng  tôi 

không  có  nhiễm  khuẩn  nặng  (viêm  xương 

khớp), chỉ có 3ca (5%) bị ướt chân đinh.  

Bảng 10. So sánh tỷ lệ nhiễm khuẩn. 

Tác giả Nhiễm khuẩn

bề mặt (%)

Viêm xương khớp (%)

Việc để đinh lộ ngoài da còn thuận tiện cho 

việc  rút  đinh.  Chúng  tôi  chỉ  mất  5  phút,  chích 

thuốc tê và rút 2 cây đinh lộ ngoài da.  

Di  lệch  thứ  phát:  7ca/58  ca  (12%).  Không 

DLTP 51 ca (88%). Trong 7 ca có di lệch thứ phát 

đều di lệch ít, không phải xử lý gì thêm. Nguyên 

nhân  gây  di  lệch  thứ  phát  do  các  đinh  xuyên 

không  đạt  yêu  cầu.  Chúng  tôi  nhận  thấy  nếu 

xuyên cả 2 đinh từ lồi cầu ngoài đạt yêu cầu thì 

khả  năng  cố  đinh  ổ  gãy  vững  chắc.  Khi  2  đinh 

xuyên song song và cách nhau 1 cm thì di lệch 

xoay cũng khống chế được.  

Sẹo mổ: 95% BN có 2 sẹo mổ rất nhỏ 1 mm, 

phai mờ sau khi rút đinh 1 tháng.  

Mất máu trong mổ: 0 ml. Tất cả BN hầu như 

không bị chảy máu trong mổ, chỉ 1‐2 giọt máu rỉ 

qua chân đinh.  

Các biến chứng nặng của xuyên kim 

0 ca. 

Toàn  bộ  BN  trong  lô  nghiên  cứu  không  bị 

biến  chứng.  Chứng  tỏ  độ  an  toàn  của  phương 

pháp. Để đạt được kết quả này, chúng tôi xuyên 

đinh qua da dựa vào mốc giải phẫu và áp dụng  thêm các biện pháp hỗ trợ: 

Dùng siêu âm định vị xương trên mặt da. 

Chủ trương chỉ xuyên 2 đinh từ lồi cầu ngoài  cho đa số bệnh nhân. 

Rạch  da  xác  định  trực  tiếp  mỏm  trên  ròng  rọc khi xuyên đinh từ lồi cầu trong. 

Bảng 12. Biến chứng do xuyên kim. 

Biến chứng do xuyên kim Số ca

Viêm xương khớp 0 Vẹo khuỷu 0

Di chứng 

1 ca hạn chế duỗi 15 độ trên bệnh nhân thiểu  năng trí tuệ, trong quá trình lành xương bị động  kinh té 2 lần làm cong đinh gây di lệch thứ phát,  rồi  sau  khi  tháo  đinh  BN  không  tập  vận  động  khuỷu. Hiện nay BN này khuỷu còn trong tầm  vận động hữu ích 15 ‐ 110 độ, không vẹo, không  biến  dạng  khuỷu.  Các  ca  còn  lại  không  bị  di  chứng 

Nhiễm khuẩn  

Chúng  tôi  có  3  ca  (5%)  bị  ướt  chân  đinh,  được điều trị bằng kháng sinh uống Cephalexin 

và  bôi  thuốc  sát  khuẩn  Povidin.  Nhiễm  khuẩn  nặng  (viêm  xương  tủy,  viêm  khớp)  0%.  Để  có  được  kết  quả  này  chúng  tôi  áp  dụng  kinh  nghiệm quí báu của tác giả PQ Trí (14). sau khi SA  nắn  kín  đạt  kết  hoàn  hảo  hoặc  kết  quả  chấp  nhận được trong những ca khó nắn, chúng tôi cố  định  ổ  gẫy  tạm  thời  rồi  mới  thực  hiện  thao  tác  xuyên đinh như 1 ca phẫu thuật xương hở, với  đầy  đủ  các  bước  rửa,  sát  trùng  vùng  mổ,  phẫu  thuật viên rửa tay mang găng mặc áo, trải khăn  che phủ vùng mổ.  

Tiết kiệm so với những phương pháp khác  

Thời gian nằm viện: Trung bình 3,4 ngày (từ  2‐  11  ngày).  Thời  gian  phẫu  thuật  trung  bình  55,2 phút (20 ‐ 110 phút). Thời gian dùng kháng  sinh 3,5 ngày. 

Tiết kiệm lớn trong đầu tư: nắn kín dưới SA 

và xuyên kim qua da bước đầu đã mang lại kết 

Trang 8

quả  khả  quan,  không  có  tai  biến  nào  trong  lô 

nghiên  cứu,  nếu  phương  pháp  này  được  ứng 

dụng  rộng  rãi  sẽ  tiết  kiệm  được  1  khoản  ngân 

sách: 

Máy C‐arm (khoảng 5 tỷ đồng 2010). 

Chi phí lót chì phòng mổ ( khoảng 200 triệu 

đồng 2010). 

Các bảo hộ khác: Áo giáp chì, kính chì. 

Tiền độc hại cho nhân viên có tiếp xúc tia X. 

Việc  dùng  SA  thay  cho  máy  C‐  arm  không 

chỉ là tiết kiệm ngân sách, mà còn không nhiễm 

tia xạ cho mọi người và cho môi trường. Trong 

lô nghiên cứu này có 5 BN đã được nắn thường 

1  lần  không  đạt  kết  quả,  có  ca  di  lệch  1  thân 

xương  nhưng  trong  lúc  nắn  không  có  phương 

tiện chẩn đoán hình ảnh tại chỗ nên ca nắn thất 

bại.  Chúng  tôi  phải  nắn  lại  với  phương  pháp 

nắn  kín  dưới  SA  và  xuyên  kim  qua  da  cho  kết 

quả tốt đẹp. 

Đánh  giá  sự  chấp  nhận  của  người  bệnh 

98,3% thân nhân và người bệnh hài lòng với kết 

quả điều trị. Chỉ có 1 ca (1,7%) lo ngại vì cal sù 

lúc mới lành xương. 

Rút đinh: Thời gian trung bình lúc rút đinh 

4,1  tuần.  Thực  tế  những  ca  sau  chúng  tôi  rút 

đinh  lúc  3  tuần,  không  có  trường  hợp  nào  tai 

biến. 

Vận động sau mổ: Các bệnh nhân của chúng 

tôi vận động ngón tay, bàn tay ngay từ ngày hậu 

phẫu  II,  vận  động  nhẹ  khớp  khuỷu  sau  khi 

xuyên  đinh  1  tuần.  Vận  động  sớm  là  nhờ 

phương  pháp  nắn  kín  dưới  SA  và  xuyên  kim 

qua  da  xâm  phạm  cơ  thể  ít,  bất  động  ổ  gãy 

vững. Từ ưu điểm này mang lại nhiều ưu điểm 

khác trong điều trị gãy xương. 

KẾT LUẬN  

Điều trị gãy trên hai lồi cầu xương cánh tay 

bằng nắn kín dưới siêu âm là khả thi và an toàn, 

không  có  tai  biến,  ít  biến  chứng,  không  nhiễm 

tia X . 

Phương pháp này mang lại nhiều kết quả tốt 

đẹp cho bệnh nhân: Không bị mổ hở, không mất 

máu,  xương  gãy  được  nắn  về  vị  trí  giải  phẫu,  hình dáng và chức năng của tay gãy đạt kết quả  xuất sắc và tốt 94,8%, sẹo mổ 1 mm x 2 đạt yêu  cầu thẩm mỹ cao, hậu phẫu ít đau, không bị tai  biến  tổn  thương  thần  kinh  và  mạch  máu  do  xuyên đinh. Chỉ 3 ca (5%) ướt chân đinh, không  nhiễm  khuẩn  xương  khớp,  không  biến  dạng  khuỷu, không vẹo khuỷu, không bó bột, không  cứng khớp. Bệnh nhân vận động sớm, ít đau sau 

mổ,  thời  gian  nằm  viện  ngắn  3,4  ngày,  được  thân  nhân  và  bệnh  nhân  hài  lòng  cao  (98,3%).  Tiết kiệm nhiều mặt: Chi phí điều trị thấp, thời  gian điều trị ngắn, ngân sách đầu tư thấp. 

Chỉ  định  cho  toàn  bộ  các  bệnh  nhân  bị  gãy  trên hai lồi cầu xương cánh tay có di lệch, không 

có  biến  chứng  mạch  máu,  thần  kinh  trước  mổ,  không có mảnh xương thứ 3. 

Tiêu chuẩn đánh giá kết quả theo siêu âm. 

Bảng 13. Tiêu chuẩn đánh giá kết quả theo siêu âm 

Xếp loại

Di lệch Xuất sắc Tốt

Trung bình Xấu

KIẾN NGHỊ 

Phương  pháp  điều  trị  gãy  trên  hai  lồi  cầu  bằng nắn kín dưới siêu âm và xuyên kim qua da  được  giới  thiệu  và  nhân  rộng.  Trang  bị  thêm  máy siêu âm thường trực tại phòng nắn xương 

và phòng mổ chỉnh hình, để mọi bệnh nhân nắn  xương đều có phương tiện chẩn đoán hình ảnh  kiểm  tra  tức  thì  sẽ  hạn  chế  được  số  bệnh  nhân  phải nắn xương lại. 

TÀI LIỆU THAM KHẢO 

1 Bashyal RK, Chu JY, Schoennecker PL, Dobb MB, Luhmann 

SJ,  Gordon  JE  (2009).  Complications  after  pinning  of  suppracondylar  distal  humerus  fractures.  J  Pediatr  Orthop  Oct‐Nov;29(7): pp 704‐8.  

2 Blad  E,  Geibler  W,  Rokitandky  A  (1999).  Sonographic  management  of  infantile  clavicular  fracture.  Pediatr  surg  int.15: pp 251‐254. 

3 Cramer  KE,  Devito  DP,  Green  NE  (1992).  Comparison  of  closed  reduction  and  percutaneous  pinning  versus  open  reduction  and  percutaneous  pinning  in  displaced  supracondylar fractures of the humerus in children. J Orthop  Trauma;6(4): pp 407‐12. 

Trang 9

4 Durston  W,  Swartzentruber  R  (2000).  Ultrasound  guided 

reduction  of  pediatric  forearm  fractures  in  the  ED.  Am  J 

Emerg Med. Jan; 18(1): pp 72‐7. 

5 Eksioglu  F,  Altinok  D,  Uslu  MM,  Gudemez  E  (2003). 

Ultrasonographic  fingdings  in  pediatric  fractures.  Turkey  J 

Pediatr. Apr‐June: 45(2): pp 136‐40.  

6 Flynn  JC,  Mathews  JG,  Benoit  RL  (1974).  Blind  pinning  of 

displaced supracondylar fractures of the humerus in children. 

Sixteen  years’  experience  with  long  term  follow‐up.  J  bone 

joint surg [Am]; 56: pp 263‐72. 

7 Huỳnh  Mạnh  Nhi,  Phan  Quang  Trí  (2007).  Xuyên  kim  đơn 

thuần phía lồi cầu ngoài để giảm liệt thần kinh trụ khi điều trị 

gẫy trên 2 lồi cầu xương cánh tay ở trẻ em bằng phương pháp 

nắn kín và xuyên kim qua da. Kỷ yếu hội nghị chỉnh hình nhi 

lần XIII, tr 6‐8. 

8 Jiang  X,  Tang  X,  Wang  D,  Peng  M,  Cheng  X,  Liu  L  (2010). 

Operative treatment of Gartland III humeral suppracondylar 

fractures  in  children  with  minimal  invasive  incision  and 

percutaneous  pinning.  Zhonguo  Xiu  Fu  Chong  Jian  Wai  Ke 

Za Zhi, 24(6): tr 677‐9.  

9 Karapinar  L,  Ozturk  H,  Altay  T,  Kose  B  (2005).  Closed 

reduction  and  percutaneous  pinning  with  three  Kirschner 

wires  in  children  with  type  III  displaced  supracondylar 

fractures of the humerus]. Acta Arthop traumatol Turc. 39(1): 

pp 23‐9.  

10 Lê Hữu Phúc, Võ Thành Phụng, Đỗ Phước Hùng (2006). Dự 

phòng liệt thần kinh trụ do xuyên kim điều trị gãy trên 2LC 

trẻ em, kỷ yếu hội nghị thường niên CTCH lần thứ XIII,;40: 

pp 256‐260. 

11 Mayr J, Grechenig W, Peicha G, Tesch NP (2002). Untrasonic 

anatomy of pediatric joints. Orthopade; 31(2): pp 135‐42.  

12 Nguyễn Phương Nam (2008). Một số nhận xét trong điều trị 

gẫy trên hai lồi cầu trẻ em. Hội nghi khoa học mạng lưới chấn 

thương chỉnh hình lần XI; tr73‐80. 

13 Nguyễn Thái Sơn (2005). Nhân 10 trường hợp ghim đinh qua 

da ĐT gãy trên lồi cầu xương cánh tay ở trẻ em tại bệnh viện 

Sanh Pon. Kỉ yếu hội nghi khoa học chỉnh hình nhi toàn quốc 

lần thứ 5: tr 1‐6. 

14 Phan Quang Trí (2009). Điều trị gãy trên 2 lồi cầu xương cánh 

tay ở trẻ em bằng nắn kín và xuyên kin qua da dưới màn tăng 

sáng.  Kỷ  yếu  hội  nghị  thường  niên  hội  Chấn  thương  chỉnh 

hình TPHCM lần thứ XVI, hội thảo chấn thương chỉnh hình  Việt Lào Campuchia lần thứ 3, 25‐28/06/2009; 28:tr 202‐209. 

15 Piton  C,  Laville  JM  (1993).  Ulnar  nerve  palsy  after  percutaneous  crossed  pinning  of  supracondylar  fractures  of  the humerus in children. Rev chir Orthop Reparatrice Appar  Mot.;79(5): pp 415‐7. 

16 Ponce BA, Hedequist DJ,Zurakowski D, Atkinson CC, Waters 

PM (2004) Complications and timing of follow‐up after closed  reduction  and  percutaneous  pinning  of  supracondylar  humerus  fractures:  follow‐up  after  percutaneous  pinning  of  supracondylar humerus fractures. J pediatr Orthop; 24(6): pp  610‐4.  

17 Shoaib M, Sultan S, Sahibzada SA, Ali A (2004). Percutaneous  pinning  in  displaced  supracondylar  fracture  of  humerus  in  children. J. Avub Med Coll Abbottabad; 16(4): pp 48‐50.  

18 Tabak AY (2003). Closed reduction and percutaneous pinning 

in  displaced  supracondylar  fractures  of  the  humerus  and  ipsilateral  fractures  of  the  forearm  in  children.  J.  Bone  joint  suger Br;85(8): pp 1169‐72.  

19 Vũ Công Tầm (2005). Kết quả bước đầu đóng đinh Rush nội  tủy  xương  đùi  dưới  siêu  âm  không  mở  ổ  gẫy.  Kỷ  yếu  hội  nghị chỉnh hình Nhi toàn quốc, tr 28‐33. 

20 Vũ Công Tầm (2005). Sử dụng siêu âm phát hiện và hướng  dẫn nắn sưa di lệch trong điều trị gẫy xương không mổ ở trẻ 

em (nắn xương dưới siêu âm). Kỉ yếu hội nghi khoa học chỉnh  hình nhi toàn quốc lần thứ 5: tr12‐20. 

21 Vũ Công Tầm (2006). Kết quả bước đầu đóng đinh Rush nội  tủy xương đùi dưới siêu âm không mở ổ gẫy. Hội Y học ‐ Hội  Chấn  thương  chỉnh  hình,  Kỷ  yếu  hội  nghị  thường  niên  lần  thứ XIII tháng 6/2006, tr 350‐356. 

22 Wilkins  KE  (1997).  Supracondylar  fractures:  what’s  new?  J  Pediatr Orthop B; 6:pp 110‐116. 

23 Wilkins  KE  (2009).  Supracondylar  fractures  of  the  distal  humerus, basic principles and complications; 6:pp 74‐124. 

 

03/05/2013. 

Ngày phản biện nhận xét bài báo  20/07/2013.  Ngày bài báo được đăng:     15–09‐2013. 

 

Ngày đăng: 20/01/2020, 05:23

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w