Mục tiêu nghiên cứu của bài viết nhằm tìm hiểu giá trị của phương pháp cho điểm từng vùng tưới máu cơ tim theo sơ đồ định chuẩn 16 vùng bằng phần mềm siêu âm Doppler tim. Mời các bạn cùng tham khảo nội dung chi tiết của tài liệu.
Trang 197
ĐÁNH GIÁ RỐI LOẠN VẬN ĐỘNG THÀNH TIM BẰNG SIÊU ÂM DOPPLER TIM Ở BỆNH NHÂN THIẾU MÁU CƠ TIM CỤC BỘ
Hoàng Đình Anh*
TÓM TẮT
Nghiên cứu đánh giá rối loạn vận động thành tim và cho điểm bằng phần mềm siêu âm ở 51 bệnh nhân (BN) bệnh tim thiếu máu cục bộ (BTTMCB), tuổi trung bình 64,4 ± 9,4, nam 33, nữ 18 Kết quả: siêu âm tim Doppler màu có giá trị phát hiện rối loạn vận động thành ở 80,4% BN BTTMCB, điểm và chỉ số vận động thành tăng cao giúp tiên lượng mức độ bệnh, định hướng nhánh động mạch vành (ĐMV) tổn thương theo vùng cơ tim
* Từ khóa: Bệnh tim thiếu máu cục bộ; Siêu âm Doppler tim; Rối loạn vận động thành
EVALUATION OF DYSKINETIC WALL MOTION OF HEART BY
DOPPLER ECHOCARDIOGRAPHY IN PATIENTS
WITH ISCHEMIC HEART DISEASE
Summary
We studied dyskinetic wall motion by Doppler echocardiography in 51 patients with ischemic heart diseases, average age 64.4 ± 0.4 (33 men, 18 women) The results showed that: Doppler echocardiography found out 80.4% of dyskinetic wall motion in ischemic heart diseases Wall motion score (WMS) and wall motion score index (WMSI) increased will help to evaluate situation of ischemic heart disease and find out injury brand of conory artery
* Key words: Ischemic heart disease; Doppler echocardiography; Wall motion score
ĐẶT VẤN ĐỀ
Bệnh tim thiếu máu cục bộ là tình trạng
thiếu máu một phần hoặc hoàn toàn lượng
máu cho một vùng cơ tim, nguyên nhân
chính do bệnh lý ĐMV
Trên thế giới, tỷ lệ mắc bệnh khá cao, từ
5 - 10% Ở Việt Nam, bệnh có xu hướng
tăng lên theo sự phát triển kinh tế, xã hội
Theo thống kê tại Viện Tim mạch Quốc gia
Việt Nam, BTTMCB chiếm 9,5% tổng số BN
điều trị
Có nhiều phương pháp chẩn đoán
BTTMCB, như lâm sàng dựa vào cơn đau
thắt ngực, biến đổi sóng điện tim và cuối cùng để chẩn đoán xác định là chụp ĐMV Hiện nay, một số quan điểm cho rằng, cần đưa thêm tiêu chuẩn rối loạn vận động thành vào chẩn đoán BTTMCB Như vậy, phương pháp siêu âm Doppler tim có vai trò quan trọng trong đánh giá rối loạn vận động từng vùng cơ tim, có thể quan sát trên siêu
âm 2D ở một số mặt cắt cơ bản hoặc sử dụng phương pháp siêu âm Doppler mô cơ tim (TDI), phương pháp siêu âm tim gắng sức (Stress echo)
* Bệnh viện 103
Người phản hồi (Corresponping): Hoàng Đình Anh
anhhoangc9@gmail.com
Trang 2Trong phạm vi nghiên cứu này, chúng tôi
sử dụng phần mềm siêu âm đánh giá điểm
và chỉ số vận động thành ở BN BTTMCB
nhằm: Tìm hiểu giá trị của phương pháp
cho điểm từng vùng tưới máu cơ tim theo
sơ đồ định chuẩn 16 vùng bằng phần mềm
siêu âm Doppler tim
ĐỐI TƯƠNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHÊN CỨU
1 Đối tượng nghiên cứu
51 BN BTTMCB có cơn đau thắt ngực
điển hình và tiêu chuẩn điện tim có thiếu
máu cơ tim cục bộ như đoạn ST chênh
xuống ≤ 1 mm hoặc ST chênh lên ≥ 2 mm ở
V1 - V4 hoặc chênh lên ≥ 1 mm ở các đạo
trình khác, sóng T (-) đối xứng có thể có
xuất hiện sóng q sâu ≥ 4 mm
- BN được ghi ECG và siêu âm Doppler
tim tại Bộ môn - Khoa Chẩn đoán Chức
năng, Bệnh viện 103 với hệ thống máy siêu
âm hãng Philips HD -15 (Mỹ)
2 Phương pháp nghiên cứu
- Đánh giá cho điểm vận động thành
(Wall motion score - WMS) và chỉ số vận
động thành (Wall motion score index -
WMSI) theo sơ đồ 16 vùng của Hội Siêu âm
Mỹ (1986), theo sơ đồ phần mềm khi được
đánh dấu có rối loạn vận động thành, máy
sẽ tự động đánh dấu và cho điểm
Trước vách
1
Vùng vách Thành trước
6 7 2
12 16 13 8
5 11 15 14 9 3
Thành dưới sau Thành bên
10
4
Thµnh sau
Hình 1: Sơ đồ mặt cắt trục ngang qua thất
trái theo Schiller (1989)
Hình 2: Cho điểm vận động thành theo
phần mềm siêu âm (máy siêu âm
Philips HD-15)
Trang 3100
* Tiêu chí cho điểm: vận động bình thường:
1 điểm; giảm vận động (hypokynetic): 2 điểm;
không vận động (akinetic): 3 điểm; rối loạn
vận động (dyskinetic): 4 điểm; phình thành
tim (aneurysm): 5 điểm Điểm vận động
thành (WMS) là tổng điểm các vùng được
đánh giá
Chỉ số vận động thành (WMSI) tính bằng
WMS chia cho số vùng được quan sát, bình
thường WMSI = 1
- Đánh giá vùng cơ tim tổn thương (%)
- Dự đoán ĐMV tổn thương
- Thống kê xử lý số liệu theo chương
trình SPSS 15.0 (WHO)
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
VÀ BÀN LUẬN
Bảng 1: Đặc điểm tuổi, giới nhóm nghiên
cứu
Tuổi trung
bình 63,6 9,9 65,7 8,5 64,4 9,4 > 0,05
BN BTTMCB có tuổi trung bình khá cao
(64,4 9,4), thấp nhất 45 tuổi, cao nhất 84
tuổi Bệnh thường liên quan với quá trình
vữa xơ động mạch nói chung, trong đó, có
tổn thương vữa xơ ĐMV, chủ yếu gặp ở
người cao tuổi Một số nghiên cứu trong và
ngoài nước thấy: bệnh thường gặp ở lứa
tuổi > 58, tuổi trung bình cả 2 giới không có
sự khác biệt, nhưng tỷ lệ bệnh ở nam gặp
nhiều hơn nữ (64,7% so víi 35,3%), tỷ lệ
nam/nữ lµ 1,8 Điều này phù hợp với nghiên
cứu của Đào Tiến Mạnh [3]: nam có nhiều
yếu tố nguy cơ mắc bệnh ĐMV hơn nữ, như
nghiện thuốc lá, uống rượu, tăng huyết áp
Bảng 2: Vị trí thiếu máu cơ tim trên điện
tim đồ thường quy
VÙNG TỔN THƯƠNG
SỐ VÙNG TỔN THƯƠNG (67 vùng/51 BN)
TỶ LỆ
%
Tất cả BN đều được ghi điện tim trước khi siêu âm, tìm ra vùng thiếu máu hoặc nhồi máu cần khảo sát kỹ khi siêu âm BN
có đoạn ST > 2 mm hoặc ST 1 mm hoặc
có thay đổi sóng T và/hoặc có sóng Q sâu, định hướng có tổn thương thiếu máu, nhồi máu cơ tim Có những BN có tới 2 - 3 vùng tổn thương, như vậy, số vùng tổn thương gặp 67/51 BN Tổn thương ĐMV trái ở các vùng trước vách, thành bên và trước rộng chiếm tỷ lệ cao (47/67 BN = 70,1%), tổn thương ĐMV phải thấp hơn so với thành sau dưới chỉ gặp 20/67 BN (29,9%) Theo Đào Tiến Mạnh [3]: chủ yếu gặp tổn thương thiếu máu và nhồi máu ở thành trước bên
do ĐMV trái chi phối
Đây là điều thuận lợi khi siêu âm cho điểm vận động và đánh giá chỉ số vận động thành, vì vùng trước bên thường dễ quan sát hơn, đánh giá chính xác hơn, vùng thành sau khi có rối loạn vận động thành, rất khó đánh giá, mức độ tổn thương nhẹ hơn
Bảng 3: Điểm vận động thành và chỉ số
vận động thành
KẾT QUẢ SIÊU
51 BN
Không có rối loạn
Có rối loạn vận động thành 26,8 ± 7,4 1,68 ± 0,49 41 80,4 Tất cả BN được làm siêu âm Doppler màu đánh giá chức năng tim, mức độ hở
Trang 4van, áp lực động mạch phổi, đặc biệt tập
trung đánh giá rối loạn vận động thành trên
4 mặt cắt cơ bản: mặt cắt trục dọc, mặt 4
buồng tim, 2 buồng tim và trục ngang vùng
nền, giữa, mỏm, cho điểm theo phân bố 16
vùng của Hiệp hội Siêu âm Mỹ
Kết quả cho thấy: 10 BN (19,6%) không
có rối loạn vận động thành, mặc dù điện tim
có thay đổi đoạn ST - T, 41 BN (80,4%) có
rối loạn vận động thành tim Những BN
không có rối loạn vận động thành trên siêu
âm đa số có thiếu máu thành sau trên điện
tim Vì vậy, đánh giá điểm vận động thành
khó khăn hoặc do tăng vận động bù của
vùng cơ tim lành cạnh tổn thương tạo ra
nhận định âm tính giả, số BN này cần được
siêu âm gắng sức để xác định chính xác
hơn
41 BN có rối loạn vận động thành cho
điểm theo thang điểm từ 1 - 5, đánh dấu
vào sơ đồ phần mềm định sẵn trên máy
theo từng mặt cắt, khi hiện hình mặt cắt
khác, nếu vùng nào đã được cho điểm sẽ
hiện hình mã hoá màu để tránh cho điểm
trùng nhau, bảo đảm độ chính xác
Điểm vận động thành trung bình ở BN
khá cao, với WMS: 26,8 ± 7,9 điểm và chỉ
số vận động thành WMSI: 1,68 ± 0,49, bình
thường điểm WMS là 16 điểm, WMSI là 1
Như vậy, BN có rối loạn vận động thành
trong nghiên cứu của chúng tôi có WMS,
WMSI gần gấp 2 lần bình thường Nhiều
tác giả nhận thấy: chỉ số vận động thành
WMSI càng cao, tổn thương cơ tim càng
lớn Theo Nashimura, khi WMSI > 2, tiên
lượng nặng, độ đặc hiệu 90%
Bảng 4: Đánh giá vùng có rối loạn vận động
thành theo nguồn cung cấp máu của ĐMV
(70/41 BN)
Tỷ lệ
% Động mạch liên thất trước (vùng
số 1, 2, 7, 8, 12, 13, 14, 15, 16) 34 47,6 Động mạch mũ (vùng số 3, 4,
Trong 41 BN xác định có rối loạn vận động thành trên siêu âm, chủ yếu gặp rối loạn vận động vùng ĐMV trái chi phối (72,9%), ĐMV phải ít hơn (27,1%), cơ bản cũng phù hợp kết quả biến đổi ST - T trên điện tim đồ (70,1% vùng thành trước - bên
do ĐMV trái chi phối) Kết quả này hoàn toàn phù hợp với nghiên cứu của Hồ An Bình và Trần Văn Dương [1, 2] khi chụp ĐMV nhận thấy chủ yếu gặp tổn thương ĐMV trái (68,9%)
Bảng 5: Số ĐMV tổn thương xác định
trên siêu âm
thương ĐMV
Không có tổn thương
Dựa vào vùng có rối loạn vận động thành tim với số điểm và chỉ số vận động thành tăng hơn bình thường, khi đối chiếu với nhánh ĐMV cấp máu thấy, 31,4% BN
có tổn thương 1 nhánh động mạch, 48,9%
BN có tổn thương đa nhánh (2, 3 nhánh)
Có tới 70 nhánh/41 BN có tổn thương Như vậy, sẽ có nhiều BN tổn thương đa nhánh, khi có tổn thương đa nhánh, số điểm và chỉ
số vận động thành sẽ tăng cao, tổn thương diện rộng làm giảm chức năng tim nhiều, cần có chỉ định chụp và can thiệp vành sớm
KẾT LUẬN
- Bệnh nhân BTTMCB có tuổi trung bình cao (> 60 tuổi), thường gặp nam giới (64,7%)
Trang 5102
- Siêu âm tim Doppler màu có giá trị phát
hiện rối loạn vận động thành (80,4%), cho
điểm và chỉ số vận động thành tim giúp tiên
lượng mức độ tổn thương
- Xác định vị trí vùng rối loạn vận động
thành trên siêu âm giúp chỉ ra nhánh ĐMV
và số lượng nhánh ĐMV bị tổn thương
TÀI LIỆU THAM KHẢO
thương ĐMV qua chụp mạch và sự tương quan
rối loạn lipid ở BN suy vành Tạp chí Tim mạch
2004, số 37, tr.119-126
Phạm Gia Khải Vai trò của chụp ĐMV trong
chẩn đoán và điều trị bệnh ĐMV Kỷ yếu Đại hội
Tim mạch lần 8 2000
3 §µo Tiến Mạnh Nghiên cứu giá trị chẩn đoán
BTTMCB bằng phương pháp xạ hình tưới máu
cơ tim Luận án Tiến sỹ Y học Học viện Quân y 2006
4 Nahimura RA Role of two - dimensional
echocardiogrphy in the prediction of in hospital complications after acute myocardial infarction J
Am Coll Cardial 19846, pp.1080-1089
5 Joselina LM, Thiago JS, Thaiana Chronotropic
incompitence and a higher frequency of myocardial ischemia in exercise echocardiography Cardivasc Ultrasound 2007, 5, p.38
Ngày nhận bài: 4/4/2013 Ngày phản biện đánh giá bài báo: 24/5/2013
Ngày bài báo được đăng: 26/5/2013