1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Tình hình sức khỏe răng miệng của học sinh tại hai trường tiểu học có và không có nha học đường ở Quận 5 Thành phố Hồ Chí Minh

7 97 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 317,9 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề tài này được tiến hành với mục tiêu nhằm xác định tình hình sức khỏe răng miệng của học sinh tại một trường tiểu học có hoạt động nha học đường ở quận 5 và so sánh với một trường tiểu học khác ở cùng địa phương không có hoạt động này.

Trang 1

TÌNH HÌNH SỨC KHỎE RĂNG MIỆNG CỦA HỌC SINH

TẠI HAI TRƯỜNG TIỂU HỌC CÓ VÀ KHÔNG CÓ NHA HỌC ĐƯỜNG

Ở QUẬN 5 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thái Kim Châu*, Nguyễn Thị Thanh Hà**, Trần Đức Thành**

TÓM TẮT

Mục tiêu: Xác định tình hình sức khỏe răng miệng của học sinh tại một trường tiểu học có hoạt động nha

học đường ở quận 5 và so sánh với một trường tiểu học khác ở cùng địa phương không có hoạt động này

Phương pháp: Nghiên cứu cắt ngang mô tả, theo phương pháp chọn mẫu toàn bộ, khám ghi nhận tình trạng

răng miệng theo chỉ số SMT, CPI, OHI-S (WHO 1997) của 157 học sinh trường tiểu học Huỳnh Kiến Hoa (nơi

áp dụng chương trình nha học đường) và 107 học sinh trường tiểu học Huỳnh Mẫn Đạt (không có nha học đường) Phỏng vấn trực tiếp dựa trên bảng câu hỏi về kiến thức và cách dự phòng bệnh sâu răng, nha chu, thói quen chăm sóc SKRM Nghiên cứu thực hiện bởi các điều tra viên đã được chuẩn hóa Sử dụng phép kiểm χ2, kiểm định t cho 2 mẫu độc lập

Kết quả: Tỉ lệ sâu răng và SMT-R của học sinh trường Huỳnh Kiến Hoa và Huỳnh Mẫn Đạt đều thuộc loại

thấp nhưng có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về tỉ lệ sâu răng, SMT-R, chỉ số OHI-S giữa học sinh của hai trường này (p<0,001) Kiến thức về bệnh sâu răng, viêm nướu và các kiến thức cơ bản về SKRM của học sinh trường Huỳnh Kiến Hoa cũng tốt hơn có ý nghĩa thống kê so với trường Huỳnh Mẫn Đạt

Kết luận: Sức khỏe răng miệng của học sinh trường tiểu học Huỳnh Kiến Hoa không chỉ tốt hơn về mặt kiến

thức, thói quen và cách phòng ngừa bệnh sâu răng, nha chu mà còn tốt hơn về mặt lâm sàng so với trường tiểu học Huỳnh Mẫn Đạt

Từ khóa: Tăng cường sức khỏe răng miệng

ABSTRACT

THE ORAL HEALTH SITUATION OF SCHOOL-CHILDREN BETWEEN TWO PRIMARY SCHOOLS

AT DISTRICT 5 IN HOCHIMINHCITY

Thai Kim Chau, Nguyen Thi Thanh Ha, Tran Duc Thanh

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 18 - Supplement of No 2 - 2014: 137 - 143

Objectives: To determine the oral health situation of schoolchildren in the school-having the school based

oral health promotion programme , in comparing with a control one without having the model, in HoChiMinh city, Vietnam

Method: A cross-sectional study was conducted on 157 schoolchildren in 5th grade in the school with oral

health promotion program based on WHO principles (Group 1)and 107 schoolchildren in the control school with

no oral health promotion program (Group 2) Total sampling technique was used Clinical examinations for dental caries (WHO, 1997) and oral hygiene (OHI-S index) were carried-out Data regarding knowledge of dental caries/gum diseases and oral health care attitude were collected using a questionnaire with the Face to Face interview method Independent Sample T-test and Chi-Square test were applied

* Khoa RHM, Đại học Y Dược TP.HCM

Trang 2

Results: The prevalance of dental cariesamong the schoolchildren in two groups was low There were

statistical significant differences regarding percentage of caries free, mean of DMF-T, mean of OHI-S scores, mean of knowledge scores as well as attitude scores regarding caries prevention and gingivitis prevention among the schoolchildren between the 2 schools (p<0.001)

Conclusion: The oral health promotion program in primary school improved knowledge as well as attittude

regarding caries and gingivitis prevention but also clinical oral health for schoolchildren during their 5 years in the school

Keywords: oral health promotion program

MỞ ĐẦU

Mặc dù sức khỏe răng miệng (SKRM) của

học sinh đã được cải thiện đáng kể trong những

năm gần đây, nhưng sâu răng và bệnh mô nha

chu mà phổ biến là bệnh viêm nướu vẫn là

những vấn đề răng miệng lớn của xã hội Theo

kết quả điều tra SKRM toàn quốc trong năm

2001(10), tỷ lệ sâu răng và bệnh nha chu ở 12 tuổi

là 65 % và 71,4 % và chỉ số SMT-R là 1,89 Hội

nghị Ottawa đã đưa ra năm hoạt động chủ yếu

để tăng cường sức khỏe nói chung cũng như

SKRM nói riêng là xây dựng chính sách sức khỏe

cộng đồng, tạo môi trường thuận lợi, củng cố

hoạt động cộng đồng, phát triển kỹ năng cá nhân

và tái định hướng các dịch vụ nha khoa(9) Dựa

theo đó, chương trình chăm sóc răng miệng cho

trẻ em được thực hiện ở nhiều nước trên thế giới

Trường tiểu học Huỳnh Kiến Hoa là một trường

tiểu học ở quận 5, TPHCM đã phối hợp với Khoa

RHM Đại học Y Dược TPHCM thực hiện

chương trình Nha học đường từ nhiều năm nay

Chương trình kết hợp các biện pháp tăng cường

SKRM liên tục cho học sinh từ lớp 1 đến lớp 5

dựa trên các nguyên tắc của WHO, gồm các hoạt

động chính sau:

- Chăm sóc SKRM: khám răng định kì, điều

trị các bệnh răng miệng thông thường

- Thực hiện các biện pháp dự phòng bệnh

sâu răng và nha chu (trám bít hố rãnh, bôi gel

fluor)

- Thực hiện những buổi nói chuyện với phụ

huynh về các kiến thức cơ bản về răng miệng và

thông báo tình trạng SKRM hiện tại của các em

- Giáo dục nha khoa: truyền đạt kiến thức về bệnh sâu răng và nha chu, kiến thức về thói quen tốt và không tốt cho SKRM, cũng như các biện pháp chăm sóc và phòng ngừa bệnh lí về răng miệng

- Hướng dẫn thực hành chải răng cho học sinh

- Tổ chức các buổi tập huấn cho giáo viên các vấn đề về bệnh lí và SKRM

Mục tiêu nghiên cứu

Xác định tình hình sức khỏe răng miệng của học sinh lớp 5 ở trường tiểu học Huỳnh Kiến Hoa và trường tiểu học khác không có nha học đường

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Đối tượng nghiên cứu

Tất cả học sinh lớp 5 của trường tiểu học Huỳnh Kiến Hoa (HKH) có chương trình tăng cường SKRM kết hợp với nội dung Nha học đường và trường tiểu học Huỳnh Mẫn Đạt (HMĐ) cùng thuộc quận 5 TPHCM nhưng không có hoạt động này

Thiết kế nghiên cứu

cắt ngang mô tả

Phương pháp chọn mẫu

Chọn mẫu toàn bộ những học sinh học liên

tục từ lớp 1 đến lớp 5 tại hai trường, phụ huynh đồng ý cho phép tham gia nghiên cứu, có mặt tại thời điểm thu thập, có khả năng tham gia

Phương tiện nghiên cứu

- Bộ đồ khám (gương khám, kẹp gắp, thám trâm 23) và khay đựng dụng cụ

Trang 3

- Dung dịch sát khuẩn, gòn, găng tay, cây đo

túi

- Đèn pin nhỏ để soi răng khi ánh sáng tự

nhiên không đủ

- Phiếu khám lâm sàng, bảng câu hỏi phỏng

vấn các trẻ

Phương pháp thu thập dữ liệu

Số liệu được thu thập dựa trên khám lâm

sàng tình trạng sâu răng, nha chu và ghi nhận

vào phiếu điều tra dựa theo tiêu chí của WHO

1997 và bảng câu hỏi phỏng vấn trực tiếp các trẻ

về kiến thức, thói quen chăm sóc SKRM

Kiểm soát sai lệch thông tin

Tập huấn, định chuẩn đội điều tra, chỉ số

Kappa = 0,72

Xử lí số liệu

Mã hóa số liệu, xử lý và phân tích số liệu

bằng phần mềm SPSS for Window, dùng phép

kiểm thống kê: thống kê mô tả tỉ lệ %, chỉ số

SMT-R, CPI, OHI-S, điểm số trung bình về kiến

thức và thống kê phân tích: phép kiểm χ 2, kiểm

định t cho hai mẫu độc lập

KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN

Nghiên cứu thực hiện theo phương pháp

chọn mẫu toàn bộ học sinh lớp 5, với số lượng

học sinh trường HKH là 157 (59,47%), trường

HMĐ 107 học sinh (40,53%) Tỉ lệ giữa nam

(53,79%) và nữ (46,21%); giữa dân tộc Kinh

(57,95%) và Hoa (42,05%) trong mẫu không có sự

cách biệt có ý nghĩa

Tình trạng sâu răng

Tỷ lệ bệnh sâu răng:

Bảng 1: Tỉ lệ % học sinh bị sâu răng và không sâu

răng của mỗi trường

( * ): phép kiểm Chi bình

phương

- Tỉ lệ % học sinh bị sâu răng của hai trường khác biệt có ý nghĩa (p<0,001) và đều xếp vào loại thấp (WHO 2010) Tỷ lệ học sinh không sâu răng của trường HKH cao hơn (76,43%) so với trường HMĐ (23,57%), phù hợp với các kết quả nghiên cứu gần đây của học sinh 12 tuổi ở quận 5(8)

Chỉ số S (sâu) – M (mất) – T (trám): (Biểu đồ 1)

Biểu đồ 1: Trung bình S, M, T và chỉ số SMT-R của

học sinh lớp 5 ở hai trường

- SMT-R của học sinh lớp 5 của trường HKH thuộc loại rất thấp (<1,1); trường HMĐ thuộc loại thấp (1,1<SMT<2,6), khác biệt rất có ý nghĩa thống kê (p < 0,001) Số trung bình răng trám (T-R) của học sinh tại hai trường khác nhau không

có ý nghĩa thống kê (p > 0,05)

Biểu đồ 2: Nhu cầu điều trị sâu răng của học sinh lớp

5 ở hai trường *: p < 0,05 ***: p < 0,001 (Phép kiểm t cho 2 mẫu độc lập)

- Tỉ lệ học sinh không sâu răng và trung bình SMT-R giữa hai trường khác nhau rất có ý nghĩa thống kê, tỉ lệ sâu răng và SMT-R của trường HKH thấp hơn rất nhiều so với nghiên cứu trước(8), chứng tỏ chương trình tăng cường

***

***

***

Trang 4

SKRM đã tác động tích cực lên tình trạng sâu

răng của học sinh trong trường

* Nhu cầu điều trị bệnh sâu răng của mỗi

trường: (Biểu đồ 2)

- Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê

giữa hai trường (p> 0,05) về nhu cầu nhổ, trong

khi đó, nhu cầu trám một mặt, hai mặt và chữa

tủy khác biệt có ý nghĩa thống kê (p< 0,05)

Bảng 2: So sánh nhu cầu điều trị với nghiên cứu khác

mặt

Trám≥2 mặt

Điều trị

Huỳnh Kiến Hoa

Huỳnh Mẫn Đạt

Quận 5 (Nguyễn T

Tình trạng bệnh nha chu

- Sự phân bố về tỉ lệ % các mức độ tình trạng

mô nha chu theo chỉ số CPI khác nhau có ý nghĩa

(Bảng 3) Số trung bình sextant có vôi răng của

trường HKH thuộc loại thấp (0,49) khác biệt có ý

nghĩa (p<0,001) với trường HMĐ (1,34) xếp vào

loại trung bình Số trung bình sextant có mô nha

chu lành mạnh của trường HKH (3,08) cao hơn trường HMĐ (2,16) với p<0,001 Không có sự khác nhau về số trung bình sextant chảy máu nướu của giữa hai trường (Biểu đồ 3)

Biểu đồ 3: Số trung bình sextant lành mạnh và có

bệnh nha chu theo chỉ số CPI

Bảng 3: Tỉ lệ % bệnh nha chu của học sinh mỗi

trường theo chỉ số CPI

mạnh

Chảy máu nướu

Vôi răng trên hoặc dưới nướu

15

62,4 47,7

24,2 37,4 Huỳnh Mẫn Đạt

(*): phép kiểm Chi bình phương

Bảng 4: So sánh tỉ lệ bệnh nha chu và trung bình sextant có vôi răng lứa tuổi 12 với các nghiên cứu trong nước

và thế giới

Tình trạng vệ sinh răng miệng:

Bảng 5: Số trung bình sextant của các mức độ theo chỉ số PI của mỗi trường

0,87 ± 1,15

3,49 ± 1,64 2,81 ± 2,16

0,90 ± 1,21 0,88 ± 1,38

0,12 ± 0,40 1,40 ± 2,44 Huỳnh Mẫn Đạt

(*): Phép kiểm t cho 2 mẫu độc lập

- Số trung bình sextant không có mảng bám

(Mã số 0) của trường HKH cao hơn trường

HMĐ HMĐ có số trung bình sextant có mảng

bám phủ trên 2/3 bề mặt răng (Mã số 3) cao hơn

trường HKH Cả hai mức độ này đều khác nhau

có ý nghĩa về mặt thống kê (p < 0,001)

- HKH có số trung bình sextant không có vôi răng (5,55) nhiều hơn có ý nghĩa về mặt thống kê (p<0,001) so với trường HMĐ (4,65)

***

***

Trang 5

Bảng 6: Số trung bình sextant của các mức độ theo chỉ số CI của mỗi trường

(*): Phép kiểm t cho 2 mẫu độc lập

Biểu đồ 4: Chỉ số OHI-S của mỗi trường *** p < 0,001

; Phép kiểm t cho 2 mẫu độc lập

- Theo phân loại của WHO, OHI-S của

trường HKH được xếp loại tốt (OHI-S<1,2),

trường HMĐ xếp loại trung bình (1,2<OHI-S<3),

sự khác biệt có ý nghĩa về mặt thống kê cho cả

PI, CI và OHI-S (Biểu đồ 4)

Kiến thức về sức khỏe răng miệng

- 87,3 % học sinh trường HKH đạt chuẩn kiến thức về bệnh sâu răng, với điểm trung bình

là 38,73 ± 7,73; khác biệt có ý nghĩa thống kê so với trường HMĐ (67,3% , 34,43 ± 8,73) (p<0,001)

Số học sinh có kiến thức chuẩn về nguyên nhân, diễn tiến, hậu quả và cách phòng ngừa bệnh viêm nướu (≥ 25/40 điểm) của trường HKH cao hơn đáng kể (73,2 %, 28,47±8,1) so với trường HMĐ (48,6%, 22,55±9,24) Các kiến thức chuẩn

về bàn chải, thức ăn, thói quen tốt và không tốt cho SKRM, trường HMĐ có tỉ lệ % học sinh đạt được ít hơn đáng kể so với trường HKH (Biểu

đồ 5 và bảng 7)

Bảng 7: Điểm trung bình kiến thức về sức khỏe răng miệng

TB ± ĐLC

Huỳnh Mẫn Đạt

(*): Phép kiểm t cho 2 mẫu độc lập

Biểu đồ 5: Tỉ lệ % học sinh trả lời đạt kiến thức về SKRM của hai trường A: kiến thức bệnh sâu răng B: kiến thức bệnh viêm nướu C: kiến thức về thức ăn tốt và không tốt cho SKRM D: kiến thức về thói quen tốt và không tốt cho SKRM E: kiến thức về lựa chọn bàn chải

***

*

*

%

Trang 6

Thói quen chăm sóc sức khỏe răng miệng

Thói quen chải răng

- Số học sinh trường HKH chải răng trên 3

lần một ngày chủ yếu vào buổi tối và sau khi ăn

chiếm tỉ lệ 76,4%, trong khi đó trường HMĐ chỉ

chiếm 49,5%, sự khác biệt về các thời điểm chải

răng trong ngày rất có ý nghĩa thống kê với p <

0,001

Bảng 8: Thời điểm chải răng của học sinh lớp 5 ở hai

trường

Thời điểm chải răng

Huỳnh Kiến Hoa

Huỳnh Mẫn Đạt P ( * )

chỉ chải 1 lần/ngày (sáng

<0,001

chải ≥3 lần/ngày (sáng, tối và

(*): Kiểm định Chi bình phương

- Thời gian mỗi lần chải răng của học sinh

khác biệt không có ý nghĩa giữa hai trường (p>

0,05) So sánh với nghiên cứu của Nguyễn Thị

Cẩm Hồng(8) thì tỉ lệ học sinh chải răng vào buổi

tối và sau khi ăn thấp hơn rất nhiều so với

trường HKH và tương đương kết quả của

trường HMĐ là 48,86% Sự khác biệt có ý nghĩa

về thời điểm chải răng giữa trường HKH với

trường HMĐ là một ghi nhận mới, lạc quan cho

công tác dự phòng bệnh răng miệng ở học sinh

Bảng 9: Thời lượng chải răng của học sinh lớp 5 ở hai

trường

Thời lượng chải

răng

Huỳnh Kiến Hoa

Huỳnh Mẫn

0,126

(*): Kiểm định Chi bình phương

Khám răng định kì

- Đa số học sinh trường HKH được khám

răng thường xuyên (83,4%), khác biệt rất có ý

nghĩa thống kê so với trường HMĐ (37,4%) So

với các nghiên cứu khác trong nước(8,10) thì tỉ lệ

này cũng cao hơn rất đáng kể So với một số

nghiên cứu trên thế giới, trường HKH cũng chiếm tỉ lệ cao(1,3,5)

Bảng 10: Thói quen khám răng định kì của học sinh

lớp 5 ở hai trường

Khám răng định kì

Huỳnh Kiến Hoa

Huỳnh Mẫn Đạt P( * )

Thường xuyên khoảng

<0,001

Khi được mời xuống phòng

(*): Kiểm định Chi bình phương

KẾT LUẬN

SKRM của học sinh trường tiểu học Huỳnh Kiến Hoa không chỉ tốt hơn về mặt kiến thức, thói quen và cách phòng ngừa bệnh sâu răng, nha chu mà còn tốt hơn về mặt lâm sàng so với trường tiểu học Huỳnh Mẫn Đạt Hoạt động tăng cường sức khỏe răng miệng của trường tiểu học là một hoạt động tích cực, mang lại rất nhiều lợi ích cho học sinh, nhờ đó chất lượng cuộc sống của các học sinh cũng ngày càng được nâng cao

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

1 Athanase Emmanuel and Elizabeth Chang’endo (2010) Oral health related behavior, knowledge, attitudes and beliefs among

secondary school students in Iringa Municipality The

Dar-es-salaam Medical Students’ Journal, 9:24-30

2 César Mexia de Almeida, Poul Erik Petersen, Sónia Jesus André1 and António Toscano (2003) Changing oral health status of 6-

and 12-year-old schoolchildren in Portugal Community Dental

Health, 20(4): 6-11

3 Cheah Whye Lian (2010) Oral health knowledge, attitude and practice among secondary school students in Kuching, Sarawak

Archives of Orofacial Sciences, 5 (1): 9-16

4 Hồ Văn Dzi (2010) Tình hình sức khỏe răng miệng của học sinh 12

và 15 tuổi tại Thị Xã Thủ Dầu Một, Luận văn Thạc Sĩ Y học, Đại học Y Dược TPHCM

5 Lorna Carneiro (2011) Oral health knowledge and practices of

secondary school Students, Tanga, Tanzania International Journal

of Dentistry, Hindawi Publishing Corporation

6 Nanna Jürgensen and Poul Erik Petersen (2009) Oral health and the impact of socio-behavioural factors in a cross sectional

survey of 12-year old school children in Laos BMC Oral Health,

16: 9-29

7 Nguyễn Hoàng Anh (2000) Khảo sát tình hình sức khỏe răng miệng

của lứa tuổi 6, 12, 15 tại tỉnh Long An, Luận văn Thạc sĩ Y học, Đại học Y Dược TPHCM

8 Nguyễn Thị Cẩm Hồng (2010) Kiến thức, hành vi và tình trạng sâu

răng của học sinh lứa tuổi 12, 15 tại quận 5 TPHCM, Luận văn Thạc

Trang 7

9 Stella Y.L.Kwan, Poul Erik Petersen (2005) Health promoting

schools: an opportunity for oral health promotion Bulletin of the

World Health Organization 83: 677-685

10 Trần Văn Trường (2002) Điều tra SKRM toàn quốc 2001, NXB Y

học, Hà Nội, 17-51

Ngày nhận bài báo: 15/01/2014 Ngày phản biện nhận xét bài báo: 10/02/2014 Ngày bài báo được đăng: 20/03/2014

Ngày đăng: 20/01/2020, 05:15

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w