1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Nhiễm vi rút viêm gan A ở trẻ em từ 1-10 tuổi, tại thành phố Hồ Chí Minh, năm 2003

4 35 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 4
Dung lượng 181,87 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để xác định tỷ lệ tiếp xúc virus gây viêm gan A ở trẻ em và phân tích các yếu tố có thể ảnh hưởng đến sự lây nhiễm này, một thiết kế nghiên cứu cắt ngang đã được thực hiện tại Bệnh viện Nhiệt Đới từ tháng 3 đến tháng 8 năm 2003, qua việc khảo sát 179 trường hợp trẻ em từ 1 đến 10 tuổi chưa chích ngừa viêm gan A. kết quả cho thấy 7/179 (4%) trẻ trong nhóm tuổi này đã tiếp xúc với HAV. Mời các bạn tham khảo!

Trang 1

NHIỄM VI RÚT VIÊM GAN A Ở TRẺ EM TỪ 1-10 TUỔI,

TẠI TP HCM, NĂM 2003

Nguyễn Thế Hùng*, Cao Ngọc Nga*, Nguyễn Thị Thu Thảo*, Đinh Thế Trung*

TÓM TẮT

Để xác định tỷ lệ tiếp xúc virus gây viêm gan A ở trẻ em và phân tích các yếu tố có thể ảnh hưởng đến sự lây nhiễm này, một thiết kế nghiên cứu cắt ngang đã được thực hiện tại Bệnh viện Nhiệt Đới từ tháng 3 đến tháng 8 năm 2003, qua việc khảo sát 179 trường hợp trẻ em từ 1 đến 10 tuổi chưa chích ngừa viêm gan A kết quả cho thấy 7/179 (4%) trẻ trong nhóm tuổi này đã tiếp xúc với HAV

Các yếu tố: hoàn cảnh kinh tế của cha mẹ, người chăm sóc trực tiếp, trình độ học vấn của cha- mẹ, nuôi thú trong nhà, cách cho trẻ ăn, ăn thức ăn nấu tại nhà hay ăn quà rong không có mối liên quan với nhiễm HAV (p > 0,05) Chỉ có yếu tố “có hay không uống nước đun sôi” có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê: tất cả 7 trường hợp có anti HAV (+) đều không uống nước đun sôi, khác biệt với những trẻ có antiHAV (-) với p = 0,04 (OR: 1,07 (1,01-1,08)) Giáo dục vệ sinh thường thức trong nhân dân nên bỏ thói quen uống nước không đun sôi, có thể giúp tránh lây nhiễm HAV

SUMMARY

INFECTION WITH HEPATITIS A VIRUS IN 1-10 YEAR-OLD CHILDREN AT HCMC, 2003

Nguyen The Hung, Cao Ngoc Nga, Nguyen Thi Thu Thao, Dinh The Trung

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 9 * Supplement of No 1 * 2005: 158 - 162

To assess the frequency of children having exposed with hepatitis A virus, a cross sectional study was conducted at the Hospital for Tropical Diseases from March to August 2003 in 179 non HAV-immunized children aged 1 – 10 years old Results: There were 7 cases presenting antiHAV positive serum (4%) The following factors have no relationships with being HAV infected: parents’ outcome, parents’ education level, presence of a directly day care person, raising pets, the way of feeding children, eating at home or eating out The fact of “ drink or not drink boiled water” was the only significant factor showing difference among (+) and (-) antiHAV (p = 0.04) (OR: 1,07 (1,01-1,08))

Food and drink hygiene education in public mass, especially “the habit of drinking boiled water” should be emphasized to prevent HAV infection

ĐẶT VẤN ĐỀ

Viêm gan siêu vi là một bệnh nhiễm trùng

thường gặp và nguy hiểm do nhiều lọai siêu vi khác

nhau gây ra Các loại siêu vi này rất khác nhau nhưng

biểu hiện lâm sàng tương tự nhau Tuy nhiên, viêm

gan do siêu vi viêm gan A (HAV) là một tình trạng

nhiễm trùng không có biểu hiện lâm sàng trong đa số

các trường hợphoặc một số ít có biểu hiện lâm sàng

nhưng diễn biến thường nhẹ và tự giới hạn Người già

có thể có vàng da kéo dài Thể tối cấp hiếm xảy ra

Đường lây truyền chủ yếu của HAV qua đường tiêu hóa, qua thức ăn nước uống bị nhiễm trùng, nên ở các quốc gia có tình trạng vệ sinh môi cảnh kém khả năng tiếp xúc với HAV xuất hiện sớm Điều đáng chú

ý, sau nhiễm trùng không có trường hợp nào ghi nhận chuyển sang mãn tính như viêm gan siêu vi B Ngoài ra, cơ thể sẽ tạo ra kháng thể trung hòa có khả năng bảo vệ lâu dài cho cơ thể

Việt Nam thuộc vùng Đông Nam Á, và theo một số tài liệu, là một vùng lưu hành cao của viêm gan

A(13) Lứa tuổi thường bị lây nhiễm sớm là trẻ em nhỏ

* Bộ môn Nhiễm ĐHYD TpHCM

158

Trang 2

< 10 tuổi Chúng tôi muốn tìm hiểu tỷ lệ cụ thể của

tình trạng lây nhiễm HAV tại một thành phố lớn Và

tìm hiểu những yếu tố nào làm cho trẻ em dễ bị lây

nhiễm? Tỷ lệ nhiễm HAV có thể khác nhau tùy theo

từng địa phương, và xác định được tỷ lệ nhiễm HAV

để đề ra những chiến lược tiêm chủng vacxin Tìm

hiểu những yếu tố lây nhiễm có thể giúp đề ra những

biện pháp phòng ngừa thích hợp

Mục tiêu

Mục tiêu tổng quát

Khảo sát tình hình lây nhiễm HAV ở trẻ em từ 1

– 10 tuổi đến khám tại BV Bệnh Nhiệt Đới

Mục tiêu chuyên biệt

- Xác định tỷ lệ trẻ em 1-10 tuổi có tiếp xúc với

HAV tại TP HCM

- Phân tích các yếu tố có ảnh hưởng đến nhiễm

HAV ở trẻ này

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN

CỨU

Thiết kế nghiên cứu: nghiên cứu mô tả

Chọn mẫu:

Theo công thức của nghiên cứu mô tả cắt ngang

Z: lấy giá trị từ phân phối chuẩn, α: 0.05 => Z 1-α/2 = Z

0,95 = 1,96; P: tỷ lệ có antiHAV trong nhóm 1 -10 tuổi tại

TP HCM Trong trường hợp này không có số liệu có sẳn

nên p được tính là 0,5 và q là 0,5; D: sai số cho phép: 7%

Theo công thức trên, cở mẫu được tính là 196 mẫu

Tiêu chuẩn chọn mẫu

Trẻ em trong lứa tuổi 1 – 10, sống tại TP HCM và

chưa chủng ngừa viêm gan A, có sự chấp thuận tham

gia nghiên cứu từ cha mẹ hay người thân

Phương pháp tiến hành

Lập bảng câu hỏi phỏng vấn về các biến số có

liên quan đến nhiễm HAV của trẻ, do cha mẹ hoặc

thân nhân của trẻ trả lời Thời gian thu thập số liệu:

từ tháng 3/2003 đến tháng 8/2003 Địa điểm: Phòng khám bệnh theo yêu cầu BV Bệnh Nhiệt Đới

Trẻ được thử xét nghiệm antiHAV (tòan phần: IgM và IgG) bằng phương pháp ELISA để đánh giá tình trạng có tiếp xúc hay chưa có tiếp xúc với HAV Xét nghiệm này được thử tại phòng xét nghiệm của

BV Bệnh Nhiệt Đới

Xử lý số liệu

Phần mềm EPI Info for Windows

Y đức

Đề tài không vi phạm y đức, không làm ảnh hưởng đến sức khỏe của trẻ

KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN

Về tỷ lệ tiếp xúc với HAV của trẻ:

Trong thời gian từ tháng 3 năm 2003 đến tháng

8 năm 2003, chúng tôi thu thập được 179 trường hợp trẻ em đưa đến khám tại BV Bệnh Nhiệt Đới theo đúng tiêu chuẩn chọn lựa nghiên cứu

Gồm có: Trẻ 1- 5tuổi: 90 em (50%), trẻ > 5 tuổi:

89 em(50%), cư trú tại TP Hồ Chí Minh

Số trẻ em có xét nghiệm anti HAV (+) là 7 Vậy tỷ lệ có tiếp xúc với HAV của nhóm khảo sát là 7/179, tức 4% hay nói một cách khác: có 400 trẻ có khả năng bị nhiễm HAV cho mỗi 100 000 trẻ

(Z 1-α/2)2 x p x q

n =

-d2 Đây là một tỷ lệ cao Ở Ý, suất dộ chung của viêm

gan A là 5 trường hợp cho mỗi 100 000 người và ở Puglia, với tỷ lệ kháng thể anti A khỏang 40% ở lứa tuổi

18 tuổi, được xem là vùng dịch lưu hành trung gian(1)

Ở Bristol Bay, Alaska, khảo sát trong quần chúng trẻ

em < 5 tuổi, tần suất có kháng thể anti-HAV là 0 % năm 1983 và 11% năm 1993 Sự gia tăng này khác biệt có ý nghĩa thống kê và sự lây truyền xảy ra giữa 2 trận dịch do có hiện diện của trẻ em < 15 tuổi có tính cảm thụ cao với nhiễm HAV(2) Tại Brazil, gần 50% các đối tượng < 10 tuổi rất dễ bị lây nhiễm HAV(3)

Ở đây chúng tôi chỉ làm một đợt cắt ngang và trên nhóm tuổi từ 1-10 nên không thể so sánh với các lứa tuổi khác hay so sánh sự thay đổi của tỷ lệ này theo thời gian Điều này đã được nhận định ở nhiều nơi trên thế giới: Ở Phi Châu và Trung Đông, giữa

Trang 3

năm 1989 và 1995, có một sự đi xuống rõ rệt của tỷ lệ

huyết thanh kháng thể HAV ở trẻ em < 12 t(4); Ở

Poland và Đông Âu, giữa 1979 và 1997, cũng có sự

chuyển đổi về lứa tuổi bị nhiễm viêm gan A từ trẻ em

sang lứa thanh niên trẻ(5) Tương tự như ở Châu Mỹ

Latinh, ở lứa 6-10 tuổi, 30% trẻ em Chile và 55% trẻ

em Brazil có mang kháng thể anti-HAV; Ở lứa 10-11

tuổi, tỷ lệ này là 54% ở Argentina, 62% ở Venezuela,

60% ở Brazil, 70% ở Chile và 90% ở Mexico Ơû lứa tuổi

31- 40 thì trên 80% dân số ở các quốc gia trên đã có

tiếp xúc với HAV Kết quả cho thấy ở Châu Mỹ Latinh,

từ vùng dịch tễ cao đã chuyển sang vùng dịch tễ

trung bình(6) Còn ở vùng Đông Nam Á, tại một số

quốc gia, dịch tễ viêm gan A đã thay đổi từ vùng lưu

hành dịch cao sang vùng lưu hành dịch trung bình,

và từ vùng dịch lưu hành trung bình sang vùng dịch

thấp Vào những năm 1980, 85-95% dân sô ở

Philippines, Hàn quốc, Trung quốc và Thailand có

antiHAV (+) ở lứa 10-15 tuổi, so sánh với 50% ở

Malaysia và Singapore Nhưng khỏang 10 năm sau,

thì tỷ lệ 85-95% gặp phải ở lứa 30-40 tuổi ở

Philippines, Hàn quốc, Trung quốc, Thai Lan so với

lứa 50 tuổi ở Malaysia và Singapore Những thay đổi

tương tự cũng xảy ra ở Hong Kong, Nhật, Đài Loan(7)

Sự chuyển đổi về lứa tuổi có tiếp xúc với HAV,

cũng như khuynh hướng HAV không còn là tác nhân

lưu hành dịch cao nữa, xuất phát từ những thay đổi

về chất lượng cuộc sống, vệ sinh chỗ ăn ở, nước uống

sạch, phản ảnh sự cải thiện về các điều kiện xã hội

kinh tế ở từng quốc gia Tỷ lệ thấp của trẻ em mang

antiHAV trong khảo sát của chúng tôi có thể cũng nói

lên một phần nào những thay đổi của điều kiện sống

tại TP HCM Tuy nhiên cần phải có những số liệu cũ,

cũng như trong tương lai thực hiện thêm những khảo

sát khác mới có thể có được những so sánh cụ thể

Về các yếu tố có liên quan đến khả

năng tiếp xúc với HAV

Chúng tôi tìm hiểu các yếu tố có thể có ảnh

hưởng lên vấn đề lây nhiễm HAV, chủ yếu là những

yếu tố phản ảnh hoàn cảnh sinh sống của gia đình

trẻ hay của chính trẻ, cụ thể là: trình độ học vấn của

cha mẹ, nghề nghiệp cha mẹ, người chăm sóc trẻ,

cách ăn uống của trẻ (thức ăn nấu tại nhà, thức ăn nấu sẵn, lọai thức ăn, số lần ăn )

Mối liên hệ có hay không của những yếu tố này với tình trạng tiếp xúc với HAV được tóm tắt trong bảng sau:

Yếu tố khảo sát Tổng

số (%)

AntiHAV (+)

(%) p

Người nuôi trẻ

- Mẹ

- Cha -Vú nuôi

146

47

20

81,6 26,3 11,2

6 (85,7)

3 (42,9)

0 (0.0)

NS

NS

NS

Trình độ học vấn cha

- dưới lớp 6

- lớp 6 – lớp 9

- trên lớp 9

38

70

68

21,6 39,8 38,6

3 (42,9)

2 (28,6)

2 (28,6)

NS

Trình độ học vấn mẹ

- dưới lớp 6

- lớp 6 – lớp 9

- trên lớp 9

41

85

53

22,9 47,5 29,6

3 (42,9)

3 (42,9)

1 (14,3)

NS

Đi nhà trẻ- Không đi nhà trẻ- Có đi nhà trẻ 135 44 75,4 24,6 4 (57,1) 3 (42,9) NS

Thức ăn - Thức ăn làm sẵn- Nấu tại nhà 174 10 97,2 5,6 7 (100) 0 (0) NS

Thói quen ăn quà rong

- Có

- Không

134

31

81,9 18,8

6 (85,6)

Uống nước đun sôi

- Có

- Không

70

109

39,1 60,9

0 (0)

Nuôi thú trong nhà

- Có

- Không

100

79

55,9 44,1

3 (42,9)

NS: p > 0.05

Bảng kết quả trên cho thấy rằng các yếu tố cha mẹ, vú nuôi, trình độ học vấn của cha – mẹ không có mối liên quan với nhiễm HAV Cách cho trẻ ăn, thức ăn nấu tại nhà hoặc thức ăn nấu sẳn, ăn quà rong, rửa trái cây trước khi ăn không có môi liên hệ với tình trạng lây nhiễm Nuôi thú trong nhà cũng không có mối liên hệ Chỉ có yếu tố “có hay không uống nước đun sôi” có sự khác biệt thống kê: tất cả 7 trường hợp có tiếp xúc với HAV không uống nước đun sôi, khác biệt với những trẻ có antiHAV (-) với p = 0,04 (OR: 1,07 (1,01-1,08)) Đây là một yếu tố khá quan trọng trong việc lây nhiễm HAV Đây là một thói quen không hợp vệ sinh ăn uống mà nhiều gia đình mắc phải (do điều kiện kinh tế, do trình độ kiến thức )

Các yếu tố khác không có ý nghĩa thống kê có thể do cỡ mẫu chưa đủ lớn, do đó việc phân tầng bị hạn chế (ví dụ phân tầng trình độ học vấn của cha hay mẹ, phân tầng về tần suất số lần rửa tay trước khi

160

Trang 4

chăm sóc trẻ, về số lượng người trong gia đình, số

phòng trong nhà ) và không phản ảnh được chính

xác điều kiện sinh sống và ăn uống của trẻ

Bàn luận về những yếu tố dân số hay dịch tễ liên

quan đến nhiễm HAV đã được nhiều tác giả nghiên

cứu Nhân một trận dịch viêm gan A xảy ra ở một

trường học tại Rio de Janeiro, năm 1999, sự lây

nhiễm không do nguồn nước được cung cấp hay lây

truyền qua phân mà có thể do sự tiếp xúc giữa người

với người(8) Đánh giá sự lây nhiễm viêm gan A qua sự

tiếp xúc trong gia đình được tác giả Meyerhoff khảo

sát và kết luận rằng: cứ mỗi 100 trường hợp chỉ điểm

(index cases) từ 6 -11 tuổi, thì có một tỷ lệ nhiễm thứ

phát trong cùng gia đình là 47,2(9) Ở đây chúng tôi

chưa có dữ liệu cho biết những người trong gia đình

của 7 trẻ có anti HAV (+) có bị vàng da hay thật sự bị

viêm gan hay không

Yếu tố nghề nghiệp của người bị nhiễm HAV

thường được chú ý: những người làm trong nhà bếp,

cầm nắm thức ăn, những người công nhân có tiếp

xúc với nguồn nước thải, nhân viên chăm sóc trẻ em

nhà trẻ, nhân viên y tế làm trong bệnh viện Ở đây,

chúng tôi khảo sát trên trẻ em nên yếu tố nghề

nghiệp chưa phải là một yếu tố khảo sát được Ngoài

ra, tình trạng kinh tế, mức thu nhập của các đối

tượng cũng được khảo sát(10) nhưng theo tác giả

Bonnani, thì tình trạng gia cảnh nghèo thấp cũng

chưa phải là yếu tố quyết định Chưa có nhiều tài liệu

nói về vấn đề nuôi thú trong nhà là yếu tố nguy cơ

cho người bị nhiễm

Thức ăn lây nhiễm có thể khác nhau tùy nơi

Người Việt Nam hay có thói quen ăn hàng rong ngoài

đường nên rất khó biết được lọai thức ăn nào lây

nhiễm Đã có một trận dịch viêm gan A do hành xanh

gây ra trong một quán ăn ở Ohio được báo cáo(11) hoặc

từ các lọai sò hến cùng với một số virus đường ruột

khác như enterovirus, rotavirus, astrovirus(12) Vậy thức

ăn hàng rong rất đa dạng, khó khảo sát

KẾT LUẬN

Tỷ lệ trẻ em tại TP HCM đã có tiếp xúc với HAV là

4% Giới hạn ở đây là một khảo sát cắt ngang, nên

không so sánh được số liệu trước đây để biết là tỷ lệ

này tăng hay giảm Có thể phải tìm cách xác định tỷ lệ này thêm ở các nhóm tuổi khác nhau để xem nhóm nào có nguy cơ nhiễm cao Trong các yếu tố dịch tễ có mối liên quan đến nhiễm HAV, việc không uống nước đun sôi là yếu tố gây bệnh Thói quen này có thể tránh khỏi nếu có sự giáo dục về vệ sinh thường thức trong quần chúng

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Cinzia Germinario, Pietzo Luigi Lopalco and all “ From Hepatitis B to hepatitis A and B prevention: the Puglia (Italy) experience” Vaccine 18, S 83- S 85 (2000)

2 Dolly Peach, Brian J.McMahon ” Impact of recurrent Epidemics of hepatitis A virus Infection on population Immunity levels: Bristol Bay, Alaska” The Journ of Infection diseases 2002:186:1081-1085

3 Damiao Carlos Moraes dos Santos Sero “ Seroepidemiological Markers of enterically Transmitted Viral hepatitis A and E in indivuduals living in a community located in the North Area of Rio de Janeiro,Brazil “ Mem Inst Oswaldo Cruz, Rio

de Janeiro, vol 97(5), 637-640, 2002

4 Haysam Tufenkeji “ Hepatitis A shifting epidemiology

in the Middle East and Africa” Vaccine 18 (2000) S 65- S67

5 Janusz Cianciara “ Hepatitis A shifting epidemiology

in Poland and Eastern Europe “ Vaccine 18 (2000) S 68- S70

6 Jorge Tanaka “ Hepatitis A shifting epidemiology in Latin America “ Vaccine 18 (2000) S 57- S60

7 Nina Gloriani Barzaga “ Hepatitis A shifting epidemiology in South-East Asia and China “Vaccine

18 (2000) S 61- S64

8 Livia Mel Villar and all “Hepatitis A outbreak in a public school in Rio de Janeiro, Brazil” “ Mem Inst Oswaldo Cruz, Rio de Janeiro, vol 9735), 301-305,

2002

9 A.S.Mayerhoff, R.J Jacobs “ Transmission of hepatitis A through household contact” Journal of viral hepatitis, 2001, 8, 454-458

10 P Bonnani, N.Comodo.” Prevalence of hepatitis A virus infection in sewage plant workers of Central Italy: is indication for vaccination justified? Vaccine

19 (2001) 844-849

11 Catherine M Dentiger, William A Bower ” An outbreak of hepatitis A associated with green onions “ Jour Infect Dis 2001; 183: 1273-1276

12 F Le Guyader, L Haugarreau “ Three-year study to assess human enteric viruses in shellfish” Applied and Environmental Microbiology, 2000, p 3241-3248

13 Nguyễn Hữu Chí Bệnh viêm gan siêu vi cấp Bệnh Học Truyền Nhiễm, NXB Y Học, 1997, tr 348-373

Ngày đăng: 20/01/2020, 05:12

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w