Nghiên cứu được thực hiện với mục tiêu nhằm khảo sát các đặc điểm dịch tễ học, các yếu tố nguy cơ, nguyên nhân gây bệnh trên những bệnh nhân đến khám vì ù tai ở khoa tai mũi họng Bệnh viện Nhân Dân Gia Định. Mời các bạn cùng tham khảo bài viết để nắm rõ nội dung chi tiết.
Trang 1MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ HỌC CỦA BỆNH NHÂN Ù TAI
TẠI KHOA TAI MŨI HỌNG BỆNH VIỆN NHÂN DÂN GIA ĐỊNH
Võ Hồng Ngọc* Nguyễn Thị Kiều Thơ**
TÓM TẮT
Mục tiêu: Khảo sát các đặc điểm dịch tễ học, các yếu tố nguy cơ, nguyên nhân gây bệnh trên những bệnh
nhân đến khám vì ù tai ở khoa TMH BVNDGĐ
Phương pháp: Mô tả cắt ngang trên 158 BN đi khám TMH với triệu chứng chính là ù tai
Kết quả: Tuổi: 43; giới: nữ; nghề nghiệp: không tiếp xúc tiếng ồn; thời gian mắc bệnh trung bình 3 tháng; ù
tai kết hợp với nghe kém tiếp nhận; bệnh lý TMH kèm theo: viêm nhiễm tai; bệnh lý nội khoa tiềm ẩn: rối loạn lipid máu.
Kết luận: Ù tai là biểu hiện của nhiều bệnh lý phối hợp, cần thăm khám lâm sàng toàn diện, bắt buộc thực
hiện 1 số xét nghiệm cơ bản để chẩn đoán chính xác hơn
Từ khóa: Tai mũi họng, ù tai,dịch tể học
ABSTRACT
EPIDEMIOLOGY OF PATIENTS SUFFERING FROM TINNITUS
IN ENT DEPARTMENT, GIA DINH HOSPITAL
Vo Hong Ngoc, Nguyen Thi Kieu Tho
* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 13 – Supplement of No 6 - 2009: 281 - 286
Objective: Reveal epidemiological factors, risk factors, causes in patients suffering from tinnitus in ENT
department, Gia Dinh hospital
Method: Cross-sectional descriptive study in 158 patients whose chief complaint is tinnitus
Result: Age: 43; Gender: female; duration: 3 months; tinnitus related to sensorineural hearing loss;
associated ENT diseases: ear infection; medical status: hyperlipidemia
Conclusion: Tinnitus is not a single entity but a rather diverse group of disorders It’s essential to conduct a
total examination and to indicate the appropriate tests in order to reveal the exact causes of tinnitus
Keywords: Otolaryngology, tinnitus, epidemiology
ĐẶT VẤN ĐỀ
Ù tai là một triệu chứng rất thường gặp tại phòng khám Tai Mũi Họng Ù tai được định nghĩa là sự cảm nhận âm thanh không liên quan với nguồn phát âm bên ngoài, thường gây cảm giác khó chịu cho bệnh nhân, đôi khi ảnh hưởng nặng nề tới những sinh họat hàng ngày, làm giảm chất lượng cuộc sống của người bệnh Mặc dù đây là triệu chứng phổ biến trong hầu hết bệnh lý thuộc chuyên khoa Tai Mũi Họng, ù tai còn đi kèm với rất nhiều tình trạng bệnh lý khác như bệnh tim mạch, huyết áp, các rối loạn chuyển hóa và nội tiết, bệnh lý thần kinh, mạch máu(1),(3) Ngoài ra, có nhiều yếu tố nguy cơ gây ù tai liên quan đến chế độ sinh họat, nghề nghiệp, thói quen hoặc đời sống tinh thần, tâm lý của bệnh nhân
Do đó, ù tai có thể là biểu hiện của một tập hợp nhiều rối loạn khác nhau Tại phòng khám, việc chẩn đoán nguyên nhân gây ù tai gặp nhiều khó khăn do không đủ thời gian khai thác bệnh sử và các triệu chứng liên quan Ngoài ra đa số bác sĩ TMH cho rằng không cần thiết thực hiện xét nghiệm cận lâm sàng đối với BN ù tai, do đó không thể phát hiện những bệnh lý tiềm ẩn Việc điều trị thường cục bộ trong lĩnh vực Tai – Mũi – Họng hoặc thăm dò từng bước nên ít hiệu quả, kéo dài và tốn kém Trên thế
Trang 2giới đã có nhiều nghiên cứu về dịch tễ học của ù tai trong dân số, xác định các nguyên nhân gây bệnh
và các yếu tố nguy cơ, góp phần định hướng cho việc điều trị Chúng tôi thực hiện khảo sát này nhằm
mô tả một số đặc trưng về dịch tễ học của bệnh nhân ù tai đến khám tại khoa Tai-Mũi-Họng bệnh viện Nhân dân Gia Định, tìm ra những nguyên nhân và yếu tố nguy cơ gây bệnh phổ biến nhất giúp cho việc chỉ định xét nghiệm cận lâm sàng và chẩn đoán khu trú hơn mà vẫn chính xác, từ đó nâng cao hiệu quả điều trị
ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu
Tất cả bệnh nhân đến khám vì ù tai tại khoa Tai Mũi Họng – bệnh viện Nhân dân Gia Định từ
tháng 04/2008 – 04/2009
Phương pháp nghiên cứu
Mô tả cắt ngang
Phươn gpháp tiến hành
Chọn mẫu
Tất cả BN đến khám với than phiền chính là ù tai sẽ được hỏi các chi tiết của triệu chứng, nếu xác
định BN bị ù tai theo đúng định nghĩa sẽ đưa vào nhóm khảo sát
Thu thập số liệu
Mỗi BN có 1 phiếu thu thập dữ liệu riêng BN được hỏi bệnh sử, khám LS và CLS để xác định các đặc điểm về DTH như: tuổi, giới, thời điểm khởi phát, các tính chất ù tai, các yếu tố thuận lợi và nguyên nhân gây bệnh Những câu hỏi để thu thập dữ liệu về đặc điểm ù tai và yếu tố nguy cơ được thiết lập dựa trên kết quả thống kê của những nghiên cứu dịch tễ học ù tai đã thực hiện trên thế giới Bilan cận lâm sàng thực hiện thường quy gồm các xét nghiệm để tìm những bệnh lý nội khoa đã được xác định là nguyên nhân gây ù tai
Xử lý số liệu
Xử lý và phân tích số liệu bằng SPSS 13.0
KẾT QUẢ
Kết quả khảo sát thu được từ 158 BN đến khám tại khoa TMH với lý do chính là ù tai, từ tháng 04/2008-04/2009
Bảng 1: Tuổi
Tu ổi
Kho ả ng tu ổ i 22 – 65 Trung bình 43,25 (± 11,67) Trung v ị 46
Bảng 2: Giới
Gi ới
Nam 36 (22,8%)
N ũ 122 (77,2%)
÷2 P=0,003
Bảng 3: Nghề nghiệp (có hay không tiếp xúc tiếng ồn)
Ngh ề nghi ệp
Có 13 (8,2%) Không 145 (91,8%)
÷2 P=0,000
Trang 3Bảng 4: Số tai bệnh
S ố tai b ệ nh
1 tai 131 BN (82,9%)
2 tai 27 BN (17,1%)
÷2 P=0,000
Bảng 5: Vị trí tai bệnh
Tai b ệnh
Ph ả i 87 BN (47%) Trái 98 BN (53%)
÷2 P=0,497
Bảng 6: Thời gian bệnh
Th ờ i gian b ệnh
Nh ỏ nh ấ t L ớ n nh ấ t Trung bình
1 tu ầ n 10 n ă m 3,2 tháng
Bảng 7: Thói quen
Thói quen
Thu ố c lá 14 BN (8,9%)
R ượ u 3 BN (1,9%) Headphone 4 BN (2,5%)
Bảng 8: Tiền căn chấn thương đầu
Ti ề n c ă n ch ấ n th ươ ng ñầ u
Không 155 BN (98,1%)
Bảng 9: Tiền căn sử dụng thuốc
Ti ề n c ă n s ử d ụ ng thu ố c
Có 6 BN (3,8 %) Không 152 BN (96,2%)
Bảng 10: Triệu chứng TMH khác
Tri ệ u ch ứ ng TMH khác
Ch ả y m ủ tai 23 (14,6%)
Đ au tai 15 (9,5%) Chóng m ặ t 98 (62%)
Nh ứ c ñầ u 72 (45,6%) Ngh ẹ t m ũ i 24 (15,2%)
Ch ả y n ướ c m ũ i 29 (18,4%)
Đ au h ọ ng 8 (5,1%) Nghe kém 123 (77,8%)
Bảng 11: Bệnh lý TMH
B ệ nh lý TMH (48 bn = 30,4%)
Đ i ế c ñộ t ng ộ t 11 (6,9%) Nhi ễ m trùng tai gi ữ a – tai
ngoài 32 (20,3%)
U th ầ n kinh VIII 0
Viêm m ũ i h ọ ng 17 (10,8%)
Trang 4Bảng 12: Bệnh lý ngoài TMH
B ệ nh lý ngoài TMH (95 bn = 60,1%)
Đ T Đ 17 (10,8%)
RL Lipid máu 64 (40,5%) Suy th ậ n 1 (0,6%) Basedow 5 (3,2%)
Bảng 13: Bản chất ù tai
B ả n ch ấ t ù tai
Ch ủ quan 157 (99,4%) Khách quan 1 (0,6%)
Bảng 14: Loại tiếng ù
Lo ạ i ti ế ng ù
Ve kêu 96 (60,8%) Xay lúa 38 (24,1%) Khác 24 (15,2%) Basedow 5 (3,2%)
Bảng 15: Tính liên tục
Tính liên t ục
Liên t ụ c 109 (69%) Theo nh ị p 49 (31%)
÷2 P=0,000
Bảng 16: Tính đơn âm – đa âm
Tính ñơ n âm – ña âm
Đơ n âm 131 (82.9%)
Đ a âm 27 (17.1%)
÷2 P=0,000
Bảng 17: Yếu tố kèm theo
Y ế u t ố kèm theo
Nu ố t 17 (10,8%)
Bảng 18: Thính lực đồ
Thính l ự c ñồ
Đ i ế c d ẫ n truy ề n 22 (13,9%)
Đ i ế c ti ế p nh ậ n 81 (51,3%)
Đ i ế c h ỗ n h ợ p 18 (11,%)
T ng c ộ ng 121 (76,6%)
Bảng 19: Phân độ nghe kém trên thính lực đồ
Phân ñộ
T ng c ộ ng 121 (76,6%)
BÀN LUẬN
Về các đặc điểm chung
Trang 5Tuổi mắc bệnh trung bình của nhóm nghiên cứu là 43 tuổi Mặc dù khoảng tuổi khá rộng từ 22 đến
65 tuổi nhưng với trung vị là 46 cho thấy phù hợp với các nghiên cứu trước đây về độ tuổi của bệnh nhân ù tai: ù tai có thể xảy ra ở bất kỳ lứa tuổi nào nhưng thường xuất hiện ở tuổi trung niên và tăng dần theo lứa tuổi (Brown(3): tỷ lệ mắc ù tai: 1,6% những người từ 18-44 tuổi; 4,9% những người 45-64 tuổi; 8,9% những người 65-74 tuổi)
Giới
Trong nghiên cứu của chúng tôi số lượng bệnh nhân nữ cao hơn số bệnh nhân nam một cách đáng
kể (÷2; p=0,003 < 0,05) Các nghiên cứu của Leske(4); Stouffer và Tyler(1) cho thấy không có sự khác biệt
về giới trong tỷ lệ mắc bệnh; theo Brown(3) cho kết quả nam mắc bệnh nhiều hơn nữ do tính chất công việc và họat động giải trí tiếp xúc với tiếng ồn nhiều hơn; nghiên cứu của B Frachet cho kết quả nam/nữ = 137/122, cũng không có sự khác biệt đáng kể Theo chúng tôi, có sự chênh lệch tỷ lệ mắc bệnh giữa 2 giới là do ở Việt Nam, phụ nữ quan tâm đến các dấu hiệu của sức khỏe hơn nam giới, dễ
lo lắng và tìm đến bác sĩ hơn khi có triệu chứng bệnh tật nên tỷ lệ phát hiện bệnh cao hơn Ngoài ra, phụ nữ cũng thường gặp những vấn đề về tâm lý như trầm cảm, stress mà đây đều là những yếu tố nguy cơ gây ù tai
Nghề nghiệp
Đa số bệnh nhân ù tai trong nhóm nghiên cứu này làm những công việc không liên quan đến tiếng
ồn như nội trợ, giáo viên, nhân viên văn phòng, kế toán, buôn bán nhỏ
Thời gian mắc bệnh
Trong nghiên cứu của chúng tôi, thời gian trung binh từ lúc bị ù tai đến khi được tiến hành khảo sát là 3 tháng Theo nghiên cứu của B Meyer thời gian mắc bệnh trung bình là 106 ngày
Thói quen
Những thói quen sử dụng chất kích thích là yếu tố nguy cơ gây ù tai như thuốc lá, rượu, cà phê ở nghiên cứu này không nhiều, có lẽ vì tỷ lệ bệnh nhân nam thấp Trong nghiên cứu của B Meyer(5) trên
240 BN ù tai, tỷ lệ BN uống rượu so với không uống là 38/202; tỷ lệ hút thuốc lá so với không hút là 73/167
Tiền căn chấn thương
Nghiên cứu chỉ ghi nhận 3 trường hợp có tiền sử chấn thương đầu Chấn thương do áp lực hoặc âm thanh không có, do đặc điểm nghề nghiệp ít tiếp xúc với tiếng ồn của nhóm bệnh nhân
Tiền căn sử dụng thuốc
Chỉ ghi nhận 5 trường hợp có sử dụng kéo dài các thuốc thuộc nhóm NSAID Không ghi nhận tiền căn dùng các thuốc như lợi tiểu quai, kháng sinh họ Aminoglycoside, aspirin, thuốc độc tế bào… do đặc điểm bệnh lý đi kèm sẽ trình bày sau
Số tai bệnh
Kết quả cho thấy đa số bệnh nhân mắc bệnh ở 1 tai Tỷ lệ mắc bệnh 1 tai cao hơn 2 tai một cách có ý nghĩa trong nghiên cứu của chúng tôi Ơ nghiên cứu của B Meyer(5), loại ù tai 1 bên chiếm 64,1%; loại ù tai 2 bên chiếm 35,9%
Vị trí tai bệnh
Không có sự khác biệt đáng kể giữa tai phải và tai trái Mặc dù một vài nghiên cứu cho kết quả tai trái có khuynh hướng mắc bệnh cao hơn, nhưng đa số những nghiên cứu khác không tìm thấy sự khác biệt về vị trí tai bệnh
Trang 6Các triệu chứng TMH và bệnh lý TMH
Vì ù tai chủ yếu là biểu hiện cua bệnh lý TMH nên chúng tôi khai thác chi tiết và toàn diện các triệu chứng liên quan để phát hiện những nguyên nhân có thể gây ù tai Những bệnh lý TMH được đưa vào khảo sát là những bệnh lý phổ biến, thường gây ù tai theo kết quả thống kê của các nghiên cứu trước đây Theo Leske(4), 50% bệnh nhân điếc đột ngột sẽ kèm theo ù tai, 30-90% những ca nhiễm trùng nhiễm độc ở tai bị ù tai, 100% bệnh nhân Meniere có biểu hiện ù tai Trong nghiên cứu này, chúng tôi vừa khai thác bệnh sử gồm các triệu chứng cơ năng chung ở vùng TMH xuất hiện cùng lúc đợt ù tai, vừa khám lâm sàng để xác định những bệnh TMH cụ thể mà bệnh nhân đang mắc Kết quả: triệu chứng nổi bật thường xuất hiện trong các trường hợp ù tai là nghe kém: 77% Theo Axelsson(2) , 72-81% bệnh nhân ù tai có biểu hiện nghe kém và có mối tương quan rõ rệt giữa ù tai với nghe kém chủ quan Ngoài ra, ù tai dễ xảy ra và biểu hiện nặng nề trên những bệnh nhân vốn có nghe kém hơn là những người không bị giảm thính lực Nghiên cứu của Leske(1,3) cũng cho thấy có sự liên quan giữa ù tai nặng
và giảm sức nghe Các triệu chứng thường gặp tiếp theo là chóng mặt và nhức đầu, cho thấy tình trạng
ù tai có liên quan đến những vấn đề về thần kinh Về bệnh lý, khảo sát cho thấy tỷ lệ viêm nhiễm ở tai ngoài và tai giữa khá cao trên bệnh nhân ù tai: 20,3% Tuy nhiên, theo nghiên cứu của B Frachet(1) , chỉ 6,5% BN ù tai bị viêm tai giữa thanh dịch; theo B Meyer(5), chỉ 7,3% BN ù tai bị nhiễm trùng tai giữa hoặc nhiễm trùng sinh độc ở tai Sở dĩ có sự khác biệt kết quả với những nghiên cứu ở nước ngoài là
do ở Việt Nam, ý thức chăm sóc sức khỏe của người dân chưa cao, những tình trạng viêm nhiễm ở tai thường bị phát hiện muộn, điều trị không đầy đủ khiến bệnh ngày càng nặng, dẫn đến những hậu quả như là ù tai và nghe kém Do đó BN có nhiễm trùng ở tai chiếm tỷ lệ khá cao trong số BN ù tai Điếc đột ngột cũng là một bệnh lý thường gây ù tai (50%) Tuy nhiên, do khi bị điếc đột ngột BN thường đến khám với lý do chính là nghe kém nên tỷ lệ phát hiện điếc đột ngột trên những bệnh nhân đi khám vì ù tai chỉ là 6,9% theo nghiên cứu của chúng tôi Viêm mũi họng, một tình trạng ảnh hưởng đến chức năng vòi nhĩ cũng là nguyên nhân gây ù tai thường gặp Đặc biệt, trong nghiên cứu này phát hiện 1 trường hợp hở vòi nhĩ (patulous Eustachian tube) Đây là bệnh lý gây ù tai với đặc trưng tiếng ù theo nhịp thở Dựa vào đặc điểm chi tiết của tiếng ù, cùng với thăm khám lâm sàng
kỹ lưỡng, chúng tôi đã phát hiện một bệnh lý cụ thể, có thể điều trị được của ù tai Vì ù tai là một biểu hiện của rất nhiều bệnh lý với cơ chế sinh bệnh còn mơ hồ nên việc xác định được nguyên nhân bệnh một cách rõ ràng sẽ giúp ích rất nhiều cho điều trị
Bệnh lý ngoài TMH
Chúng tôi xác định BN có các vấn đề nội khoa dựa vào tiền căn bệnh lý của BN cũng như các xét nghiệm Kết quả cho thấy tỷ lệ BN có bệnh nội khoa kèm theo khá cao: 60,1% Như vậy so với tỳ lệ BN
có bệnh lý TMH là 30,4%, chúng tôi nhận thấy BN bị ù tai chủ yếu do nguyên nhân từ bệnh lý nội khoa Trong đó, tình trạng rối loạn lipid máu chiếm đa số Các nghiên cứu ở nước ngoài(1,3) cũng báo cáo yếu tố tăng lipid máu xuất hiện ngày càng nhiều trong các ca ù tai Ngoài ra đa số các xét nghiệm
có kết quả lipid máu tăng lại rơi vào những bệnh nhân nữ dưới 45 tuổi Từ đó cho thấy nên thực hiện các xét nghiệm tầm soát rối loạn chuyển hóa ở mọi đối tượng bất kể lứa tuổi Chúng tôi nghĩ rằng tình trạng rối loạn chuyển hóa này có thể do vấn đề stress tâm lý, vốn là một yếu tố thuận lợi dẫn đến ù tai nhất là ở BN nữ
Các tính chất của ù tai
99,4% trường hợp chỉ BN nghe thấy tiếng ù, tức tiếng ù không phát ra từ các bộ phận cạnh tai 1 trường hợp tiếng ù nghe được bởi cả BN và BS là trường hợp hở vòi nhĩ Đa số truờng hợp tiếng ù chỉ gồm 1 âm sắc, liên tục không theo nhịp và được mô tả giống tiếng côn trùng kêu Kết quả của B
Trang 7Meyer cho rằng loại ù tai tiếng ve kêu thường kéo dài hơn 3 tháng Mặc dù có nghiên cứu cho rằng loại tiếng ù có thể giúp khu trú vị trí tổn thương gây ù tai – tai giữa hoặc tai trong, tạo điều kiện cho chẩn đoán và điều trị nhưng cũng có nghiên cứu khác kết luận rằng tính chất tiếng ù không liên quan đến nguyên nhân gây bệnh Trong nghiên cứu này chúng tôi cũng chưa xác định được mối tương quan giữa bản chất tiếng ù với nguyên nhân gây bệnh Do thời gian mắc bệnh khá dài nên tiếng ù trở nên thường xuyên, khỏang thời gian không triệu chứng rất ngắn hoặc không có Các yếu tố làm thay đổi tiếng ù bao gồm hô hấp – nuốt – ngáp (liên quan đến chức năng vòi nhĩ), gắng sức và cảm xúc (liên quan đến nội tiết tố và hệ tuần hoàn) đều gây ra hoặc làm tiếng ù to hơn Trong đa số trường hợp, khi
có tiếng ồn xung quanh BN không nghe rõ hoặc mất tiếng ù; tuy nhiên vẫn có trường hợp tiếng ồn khởi phát ù tai, gợi ý vấn đề của hệ thống dẫn truyền ở tai giữa
Qua kiểm tra thính lực đồ từ 123 BN than phiền có nghe kém, chúng tôi xác định có 121 BN thật sự giảm thính lực các loại, chủ yếu điếc tiếp nhận Như vậy đa số BN đã bị ảnh hưởng đến tai trong và các
bộ phận thần kinh tiếp nhận âm thanh Các nghiên cứu trước đây kết luận ù tai nếu xảy ra trên BN có nghe kém thì sẽ trầm trọng hơn Với kết quả 76,6% BN ù tai có nghe kém, chúng tôi xác định được tiên lượng bệnh để có những tư vấn rõ ràng cho BN về tình trạng bệnh Đây là một bước quan trọng trong chiến lược điều trị ù tai
KẾT LUẬN
Từ những kết quả trên, chúng tôi bước đầu xây dựng hình ảnh tiêu biểu của BN ù tai tại khoa TMH BV NDGD: BN khoảng 43 tuổi, thường là nữ, làm công việc không nặng nhọc và không tiếp xúc với tiếng ồn, không hút thuốc lá và uồng rượu, ù tai kéo dài đi kèm với giảm thính lực tiếp nhận Các bệnh lý TMH đồng thời xảy ra trên BN là viêm nhiễm ở tai và mũi họng; BN cũng hay có vấn đề nội khoa tiềm ẩn là rối loạn chuyển hóa, đặc biệt là tăng lipid máu
Qua nghiên cứu này chúng tôi lập ra một quy trình xét nghiệm thường quy đối với bệnh nhân đến khám vì ù tai: công thức máu, đường huyết, chức năng thận, bilan mỡ/máu, thính lực đồ và nhĩ lượng
đồ BN nên được nội soi TMH để loại trừ các tổn thương thực thể hoặc bất thường cấu trúc ở vùng này
Tóm lại, dù có một số khác biệt về kết quả so với những nghiên cứu dịch tễ học đã được tiến hành trước đây do những đặc điểm riêng về trình độ dân trí, nhận thức về sức khỏe, tâm sinh lý, nghiên cứu của chúng tôi vẫn cho thấy ù tai là một biểu hiện phức tạp của nhiều rối loạn khác nhau có thể xảy ra đồng thời Do đó khi đứng trước một BN ù tai, bác sĩ TMH cần thăm khám thật toàn diện, chỉ định xét nghiệm đầy đủ để có thể tìm ra nguyên nhân chính xác của bệnh
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Adrian Davis (2000), “Epidemiology of tinnitus”, Richars S Tyler, Tinnitus handbook, Singular Thomson learning, pp 1 – 24
2. Axelsson A (1989), “Tinnitus: A study of its prevalence and characteristics”, British Journal of audiology, 23, pp 53 – 62
3. Howard J Hoffman (2004), “Epidemiology of tinnitus”, James B Snow , Tinnitus: Theory and management, BC Decker Inc , pp 16 – 41
4. Leske MC (1981), “Prevalence estimates of communicative disorders in the US Language, hearing and vestibular disorders”, ASHA , 23, pp 229 –
237
5. Meyer B (1986), “A multicenter study of tinnitus Epidemiology and therapy”, Ann Otolarygol Chir Cervicofac, 103, pp 185 – 188