1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Vai trò của sinh thiết màng phổi bằng kim trong chẩn đoán lao màng phổi

8 98 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 298,99 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài này nhằm đánh giá hiệu quả của sinh thiết màng phổi bằng kim trong việc chẩn đoán tràn dịch màng phổi do lao tại khoa hô hấp bệnh viện Nhân Dân Gia Định. Nghiên cứu mô tả loạt ca trên 43 bệnh nhân bị TDMP do lao trong thời gian từ tháng 10 năm 2008 đến tháng 7 năm 2009, so sánh hiệu quả chẩn đoán của phết lam tìm AFB, PCR tìm vi khuẩn lao trong dịch màng phổi, cấy dịch màng phổi theo phương pháp MGIT và sinh thiết màng phổi bằng kim.

Trang 1

VAI TRÒ CỦA SINH THIẾT MÀNG PHỔI BẰNG KIM

TRONG CHẨN ĐOÁN LAO MÀNG PHỔI

Trần Anh Đào*, Đoàn Lê Minh Hạnh*, Hoàng Chân Phương*, Hà Thị Bạch Tuyết*,

Nguyễn Ngọc Thụy*

TÓM TẮT

Cơ sở thực hiện nghiên cứu: tràn dịch màng phổi (TDMP) do lao là bệnh khá thường gặp trong thực hành

lâm sàng chuyên khoa hô hấp Có một số phương tiện chẩn đoán xác định lao màng phổi trong đó sinh thiết màng phổi (STMP) bằng kim đóng vai trò quan trọng

Mục tiêu: đánh giá hiệu quả của STMP bằng kim trong việc chẩn đoán TDMP do lao tại khoa hô hấp bệnh

viện Nhân Dân Gia Định

Phương pháp: chúng tôi đã thực hiện một nghiên cứu mô tả loạt ca trên 43 bệnh nhân bị TDMP do lao

trong thời gian từ tháng 10 năm 2008 đến tháng 7 năm 2009, so sánh hiệu quả chẩn đoán của phết lam tìm AFB, PCR tìm vi khuẩn lao trong dịch màng phổi, cấy dịch màng phổi theo phương pháp MGIT và sinh thiết màng phổi bằng kim

Kết quả: độ nhạy cảm của phết lam tìm AFB, PCR tìm vi khuẩn lao trong dịch màng phổi, cấy dịch màng

phổi theo phương pháp MGIT và STMP bằng kim theo thứ tự là 0%; 6,1%; 18.2% và 62.8% Việc kết hợp giữa cấy dịch màng phổi theo phương pháp MGIT và STMP bằng kim làm tăng khả năng chẩn đoán lên tới 72,1%

Kết luận: STMP bằng kim vẫn còn có một vai trò quan trọng trong chẩn đoán TDMP do lao Trong điều

kiện của bệnh viện chúng tôi, chúng tôi khuyến cáo thực hiện STMP bằng kim kết hợp cấy MGIT dịch màng phổi

để làm tăng khả năng chẩn đoán lao màng phổi

Từ khóa: Lao màng phổi, sinh thiết màng phổi

ABSTRACT

THE ROLE OF NEEDLE PLEURAL BIOPSY IN DIAGNOSIS

OF TUBERCULOUS PLEURAL EFFUSIONS

Tran Anh Dao, Đoan Le Minh Hanh, Hoang Chan Phuong, Ha Thi Bach Tuyet, Nguyen Ngoc Thuy

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 13 – Supplement of No 6 - 2009: 90 - 96

Background: tuberculous pleural effusions (TPE) are common in practice of respiratory field There are

some diagnostic methods of TPE among them needle pleural biopsy has the important role

Objectives: evaluation of the efficacy of needle pleural biopsy in diagnosis of tuberculous pleural effusions at

respiratory department of Nhan Dan Gia Dinh hospital

Method: we conducted a descriptive, case series study in 43 patients with tuberculous pleural effusions

during the period October 2008 to July 2009 comparing the diagnostic efficacy of AFB smear, PCR for TB of pleural fluid, culture of pleural fluid with MGIT method and needle pleural biopsy

Results: the sensitivity of AFB smear, PCR for TB of pleural fluid, culture of pleural fluid with MGIT

method and needle pleural biopsy are 0%; 6.1%; 18.2% and 62.8%, respectively The combination between MGIT culture of pleural fluid and needle pleural biopsy increases diagnostic yield up to 72.1%

* Khoa Hô hấp Bệnh Viện Nhân Dân Gia Định

Địa chỉ liên lạc: ThS.BS Nguyễn Ngọc Thuỵ ĐT: 0903.036.569 Email: nguyenngocthuy1967@yahoo.com

Trang 2

Conclusion: needle pleural biopsy is still of the important role in diagnosis of TPE In the condition of our

hospital, we recommend to carry out needle pleural biopsy and MGIT culture of pleural fluid to have a higher diagnostic yield

Key words: Assess the impact of health education program ,

ĐẶT VẤN ĐỀ

Bệnh lao là một vấn đề y tế quan trọng trên

thế giới ước tính mỗi năm có 8 triệu ca lao mới

và khoảng 3 triệu ca tử vong Hiện nay, bệnh lao

đang có xu hướng gia tăng trên toàn thế giới,

nhất là ở những nước đang phát triển, trong đó

có Việt Nam, và là một gánh nặng về kinh tế, y

tế, xã hội

Lao màng phổi (LMP) là bệnh lý ở màng

phổi do vi khuẩn lao gây ra, là một trong những

nguyên nhân gây tràn dịch màng phổi (TDMP)

thường gặp ở Việt Nam

Khái niệm lao màng phổi là một khái niệm

mới đưa ra sau này Đầu tiên trong y học cổ,

Hippocrate gọi đó là bệnh làm đau ngực Năm

1810, Pinet chẩn đoán tràn dịch màng phổi nhờ

chọc dò màng phổi bằng kim

Năm 1820, khi Koch khám phá vi khuẩn lao

là nguyên nhân gây bệnh và việc chẩn đoán

bệnh lao phổi dựa vào việc tìm thấy vi khuẩn lao

trong đàm, thì việc chẩn đoán TDMP do lao gặp

nhiều khó khăn vì ít khi tìm thấy vi khuẩn lao

trong dịch màng phổi Do đó trong một thời gian

dài, người ta không phân biệt một cách rõ ràng

lao phổi với lao màng phổi

Năm 1955, De Fancis, Albane, Klosk đề xuất

việc sinh thiết màng phổi (STMP) bằng kim

Những năm sau đó, kỹ thuật STMP bằng kim

Abrams được phổ biến đã chứng minh rằng có

sự khác biệt giữa những tổn thương lao ở phổi

với những tổn thương lao ở màng phổi Sau đó

kỹ thuật này được áp dụng rộng rãi để chẩn

đoán lao màng phổi nhờ các loại kim như

Abrams, Cope, Castelai(14)

Ngày nay với những tiến bộ trong lĩnh vực y

học, ngoài sinh thiết màng phổi bằng kim, đã có

thêm nhiều phương pháp khác để chẩn đoán xác

định lao màng phổi như cấy dịch màng phổi

bằng phương pháp MGIT (Mycobacterium Growth Indicator Tube), thực hiện phản ứng chuỗi xoắn kép polymerase (PCR) để tìm vi khuẩn lao của dịch màng phổi Nhưng các xét nghiệm này có độ nhạy cảm (sensitivity) rất khác nhau trong nhiều nghiên cứu Mặt khác, mỗi phương pháp chẩn đoán lao đều có những ưu điểm, khuyết điểm riêng Trong hoàn cảnh thực

tế của Bệnh Viện Nhân Dân Gia Định, chúng ta cần cân nhắc, lựa chọn xét nghiệm nào vừa có độ nhạy cao, vừa rẻ tiền nhất, vừa có thể giúp chẩn đoán nhanh chóng lao màng phổi Vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu này với những mục tiêu sau đây

Mục tiêu tổng quát

Đánh giá hiệu quả của STMP trong chẩn đoán lao màng phổi tại khoa Hô Hấp Bệnh Viện Nhân Dân Gia Định

Mục tiêu cụ thể

- Xác định tỷ lệ STMP ra kết quả lao ở những bệnh nhân lao màng phổi nhập khoa Hô Hấp Bệnh Viện Nhân Dân Gia Định

- Xác định tỷ lệ PCR lao (+) ở những bệnh nhân bệnh nhân lao màng phổi nhập khoa Hô Hấp Bệnh Viện Nhân Dân Gia Định

- Xác định tỷ lệ cấy MGIT (+) ở những bệnh nhân bệnh nhân lao màng phổi nhập khoa Hô Hấp Bệnh Viện Nhân Dân Gia Định

- So sánh độ nhạy của các phương pháp chẩn đoán xác định lao màng phổi

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng

Mọi bệnh nhân nhập khoa Hô Hấp Bệnh Viện Nhân Dân Gia Định (BVNDGĐ) từ tháng

10/2008 đến tháng 6/2009 có TDMP nghi do lao

Phương pháp nghiên cứu

Tiêu chuẩn chọn bệnh

Trang 3

Mọi bệnh nhân nhập khoa Hơ Hấp

BVNDGĐ cĩ TDMP nghi do lao (TDMP dịch tiết

cĩ tế bào lympho chiếm ưu thế)

Tiêu chuẩn chẩn đốn TDMP dịch tiết

Khi cĩ 1 trong 3 tiêu chuẩn của Light

- Protein DMP / Protein huyết thanh > 0,5

- LDH DMP / LDH huyết thanh > 0,6

- LDH DMP > 2/3 trị số cao nhất của LDH bình

thường trong máu

Tiêu chuẩn chẩn đốn lao màng phổi

Khi cĩ một trong các kết quả sau

- Kết quả STMP cĩ nang lao và/hoặc cĩ AFB (+)

- Dịch màng phổi cĩ AFB (+) khi nhuộm

Ziehl-Neelsen, hoặc cấy cĩ vi khuẩn lao, hoặc

PCR lao (+)

- Đáp ứng tốt với thuốc kháng lao (đối với

những trường hợp TDMP nghĩ nhiều đến lao

nhưng khơng cĩ bằng chứng về vi khuẩn học

hoặc mơ học)

Tiêu chuẩn loại trừ

- Bệnh nhân khơng chịu STMP

- DMP quá ít khơng thể STMP

- Cĩ rối loạn đơng cầm máu (với INR > 1.5

và/hoặc tiểu cầu < 100.000/mm3)

- Bệnh nhân khơng đạt tiêu chuẩn chẩn đốn

lao màng phổi

- Kết quả STMP hoặc cellblock cĩ tế bào ác

tính

Thiết kế nghiên cứu

Mơ tả loạt ca

Dụng cụ

Kim Cope hoặc Abrams

Sơ đồ tiến hành

Sơ đồ sau đây cho thấy các bước tiến hành

của nghiên cứu

Thủ thuật STMP được thực hiện theo các bước sau:

- Gây tê nơi dự định sinh thiết bằng Lidocain 2% 2ml từ da đến hết bề dày thành ngực, chọc hút thăm dị xem cĩ DMP khơng Nếu đã chọc ra được dịch màng phổi, rút kim gây tê và đo chiều dài của kim để ước đốn khoảng cách từ thành ngực đến khoang màng phổi

- Rạch da 0,5 -1 cm dọc theo bờ trên của xương sườn dưới

- Dùng kim sinh thiết từ từ xuyên qua thành ngực đến khoang màng phổi, dùng bơm tiêm hút kiểm tra nếu cĩ dịch màng phổi là kim đã vào đến khoang màng phổi

- Xoay mặt cắt kim ở các vị trí 3 giờ, 6 giờ, 9 giờ để cắt 3 mẫu mơ màng phổi thành, cho bệnh phẩm vào dung dịch Formol 10%, gởi đến khoa Giải Phẫu Bệnh BVNDGĐ, mẫu mơ sẽ được nhuộm HE tìm tổn thương u hạt đặc hiệu của lao và nhuộm Ziehl Neelsen khi cần để tìm vi khuẩn lao

- Chọc tháo DMP, lấy DMP làm các xét nghiệm:

Nhuộm Ziehl-Neelsen tìm AFB = Acid Fast Bacilli (thực hiện tại BVNDGĐ)

PCR lao (lấy 20 ml dịch gởi BV Phạm Ngọc Thạch)

Trang 4

Cấy MGIT (lấy 20 ml dịch gởi BV Phạm

Ngọc Thạch)

- Rút kim, khâu da

- Theo dõi tình trạng khó thở và đau ngực

của BN trong vòng 24 giờ

KẾT QUẢ

Từ 10/2008 đến 06/2009, chúng tôi chọn được

43 bệnh nhân đủ tiêu chuẩn tham gia nghiên

cứu, có các đặc điểm như sau:

Các đặc điểm về dân số nghiên cứu

Tuổi trung bình trong nghiên cứu của chúng

tôi là 39,3 ± 18,2 với tuổi thấp nhất là 17 và cao

nhất là 84 Khoảng phân nửa bệnh nhân có độ

tuổi từ 20 – 39 tuổi

Về giới tính, nam giới có 26 BN chiếm 60,5%

và nữ giới có 17 BN chiếm 39,5% Như vậy tỉ lệ

nam: nữ ≈ 2:1 Trong số những BN của chúng tôi

chỉ có 16,3% có trình độ đại học, nghĩa là bệnh

thường tập trung ở những người lao động phổ

thông

Đặc điểm về triệu chứng lâm sàng

Trong các triệu chứng lâm sàng của TDMP

do lao, ho là triệu chứng thường gặp nhất chiếm

tỉ lệ 83,7%, kế đó là các triệu chứng sốt (76,7%),

đau ngực kiểu màng phổi (74,4%) Trong số

những BN có sốt, khoảng 2/3 bệnh nhân có triệu

chứng sốt về chiều Các triệu chứng như chán

ăn, sụt cân chiếm tỉ lệ thấp hơn Bảng 1 sau đây

biểu thị các triệu chứng lâm sàng thường gặp

của lao màng phổi

Bảng 1: Đặc điểm về triệu chứng lâm sàng tính

chung và phân theo giới

Ho 36 83,7 21(80,8%) 15 (88,2%) 0,51

Ho khan 30 69,8 16(61,5%) 14(82,4%) 0,48

Đ au ng ự c ki ể u

màng ph ổ i 32 74,4 19 (73,1%) 13 (76,5%) 0,8

S ố t 33 76,7 19(73,1%) 14(82,4%) 0,48

S ố t nh ẹ 23 53,5 14 (53,9%) 9 (52,9%) 0,33

S ố t v ề chi ề u 21 63,6 14 (73,7%) 7(50,0%) 0,16

Chán ă n 24 55,8 13(50,0%) 11(64,7%) 0,34

S ụ t cân 16 37,2 6(23,1%) 10(58,8%) 0,018

Các triệu chứng nay không có gì khác biệt

giữa nam giới và nữ giới trừ triệu chứng sụt cân

ở nữ giới nhiều hơn (58,8%) so với nam giới (chỉ

có 23,1%)

Đặc điểm về dấu hiệu cận lâm sàng

Tốc độ lắng máu

Gia tăng ở các BN trong nghiên cứu của chúng tôi, trung bình giờ thứ nhất là 65,5 ± 26,7

mm, giờ thứ hai là 96,4 ± 19,1 mm

Hình ảnh X-Quang

Hầu hết là TDMP tự do (97,7%), chỉ có 1 ca là TDMP khu trú (2,3%)

Vị trí TDMP: 67,4% là TDMP bên phải, 32,6%

là TDMP trái, không có ca nào TDMP hai bên Mức độ TDMP: 23,6% TDMP lượng ít (mờ góc sườn hoành), 65% TDMP lượng trung bình (lượng dịch từ 1/3 – ½ phế trường) và 11,4% có TDMP lượng nhiều (≥ 2/3 phế trường)

Hầu hết không thấy tổn thương phổi đi kèm (86%), 7% có tổn thương lao cũ, 7% có tổn thương lao tiến triển

Bảng 2 sau đây biểu thị các xét nghiệm sinh hóa dịch màng phổi, các chỉ số xét nghiệm trung bình đều cho thấy đây là TDMP dịch tiết với BC đơn nhân chiếm ưu thế (trung bình là 83,5%) 88,4% bệnh nhân có số lượng BC ≥ 1.000/mm3, chỉ có 5 trường hợp (11,6%) có số lượng BC < 1.000/mm3

Bảng 2: Sinh hoá dịch màng phổi

l ệ ch chu ẩ n

Nh ỏ nh ấ t L ớ n nh ấ

pH 7,05 ± 0,21 7 8

Đạ m (g/L) 54,7 ± 5,5 41,7 69,4 Đườ ng (mmol/L) 4,7 ± 1,4 1.8 9,9 LDH (U/L) 539 ± 305 157 1815

B ạ ch c ầ u/mm3 3043 ± 2943 120 15120 Lymphocyte (%) 83,5 ± 17,8 53 99

Tràn dịch màng phổi được chẩn đoán do lao khi hoặc nhuộm có AFB trong dịch màng phổi hoặc PCR lao (+) hoặc cấy MGIT (+) hoặc kết quả sinh thiết màng phổi có sang thương điển hình của lao Bảng 3 sau đây biểu thị kết quả dương tính của các phương tiện chẩn đoán lao trong nghiên cứu của chúng tôi

Trang 5

Bảng 3: Kết quả chẩn đoán lao màng phổi

PCR (+) 2/33 6,1

C ấ y MGIT (+) 6/33 18,2

STMP (+) 27/43 62,8

STMP (+) và PCR (+) 27/43 62,8

STMP (+) và MGIT (+) 31/43 72,1

STMP (+) và MGIT (+) và PCR (+) 31/43 72,1

Trong 26 ca có tìm AFB trong dịch màng

phổi, không có ca nào dương tính với AFB khi

nhuộm Ziehl – Neelson Tỉ lệ dương tính đối với

vi khuẩn lao của PCR, cấy MGIT và STMP theo

thứ tự là 6,1%; 18,2% và 62,8% Nếu kết hợp giữa

cấy MGIT và STMP thì tỉ lệ chẩn đoán dương

tính tăng lên đến 72,1%

BÀN LUẬN

Tuổi và giới

Độ tuổi trung bình trong dân số nghiên cứu

của chúng tôi là 39,3 + 18,2 phù hợp vớt độ tuổi

phổ biến của đa số các nghiên cứu ở những nước

đang phát triển, chẳng hạn nghiên cứu tại

Qatar(8) có độ tuổi trung bình là 31,5 Còn ở

những nước đã phát triển, tuổi trung bình của

lao màng phổi cao hơn (như một nghiên cứu tại

Mỹ có tuổi trung bình là 50)(3) Chỉ có nghiên cứu

của tác giả Quang Văn Trí(15) là nghiên cứu tại

bệnh viện Phạm Ngọ Thạch có độ tuổi cao hơn

(trung bình là 60,4) có lẽ do tác giả này thực hiện

nghiên cứu dựa trên sự hồi cứu và loại trừ hoàn

toàn những BN lao màng phổi nhưng có tất cả

các xét nghiệm PCR, MGIT và STMP đều âm

tính (những bệnh nhân này thường trẻ, thường

được điều trị tại trạm chống lao khu vực chứ

không nhập bệnh viện Phạm Ngọc Thạch

Tỷ lệ mắc bệnh ở nam nhiều hơn nữ (60,5%

và 39,5%) cũng gần tương đương với nghiên cứu

của tác giả Trần Hoàng Thành(16) tại BV Bạch Mai

(64,2% và 35,8%) nhưng tỉ lệ nam ít hơn so với

nghiên cứu của Quang văn Trí (77%)

Triệu chứng lâm sàng

Triệu chứng ho xuất hiện nhiều nhất, chiếm

tỷ lệ 83,7%, tương tự như nghiên cứu của Trần

Hoàng Thành (82,1%)(16) và Trần văn Sáu (84%)(17)

trong đó chủ yếu là ho khan (69,8%) và có 1 trường hợp ho đàm lẫn máu (2,3%)

Sốt chiếm 76,7%, đa số là sốt nhẹ (53,5%),

tỉ lệ này cao hơn trong nghiên cứu của tác giả Trần Hoàng Thành(16), vì tác giả này chỉ đánh giá triệu chứng sốt khi mới nhập viện trong khi chúng tôi đánh giá sốt trong suốt thời gian nằm viện Tuy nhiên tỉ lệ này thấp hơn nghiên cứu của Trần văn Sáu (92%)(17) có thể do tác giả này lấy mốc số là 37,1°C trong khi mốc sốt của chúng tôi là 37,8°C Triệu chứng sốt về chiều chiếm đến 63,6% trong số những bệnh nhân có sốt cho thấy đây vẫn là triệu chứng gợi ý bệnh lao

Đau ngực kiểu màng phổi cũng thường gặp

ở những bệnh nhân lao màng phổi (74,4%) tương đương với một số tác giả trên thế giới (khoảng 75%)(4,12 )

nhưng thấp hơn so với tác giả Trần Hoàng Thành (91,6%)(16)

Triệu chứng sụt cân ít gặp nhất (37,2%) có

lẽ do đa số bệnh thường diễn tiến cấp tính với các triệu chứng như sốt, ho, đau ngực kiểu màng phổi thường làm cho bệnh nhân đến khám bệnh sớm

Triệu chứng cận lâm sàng

Vị trí TDMP: đa số là TDMP bên phải (67,4%), so với tác giả Quang Văn Trí(15) là 76,9% Trong nghiên cứu của chúng tôi không có trường hợp nào TDMP 2 bên, trong khi nghiên cứu của tác giả Quang Văn Trí ghi nhận có 2 trường hợp lao màng phổi 2 bên (5,1%)

Hầu như tất cả bệnh nhân đều có VS máu tăng, 97,7% bệnh nhân có VS giờ đầu ≥ 30mm, 100% bệnh nhân có VS giờ thứ 2 ≥ 40mm, kết quả này cao hơn nghiên cứu của tác giả Trần Hoàng Thành (65,9% và 78%)(16)

Các xét nghiệm chẩn đoán lao

Xét nghiệm vi sinh

Không có trường hợp nào trong nghiên cứu của chúng tôi có AFP (+) trong DMP, cũng giống như tác giả Trần Hoàng Thành(16) Trong khi Trần Văn Sáu(17) kết quả AFP (+) là 3,16%, Lưu Thị Nhẫn(11) là 7,5%

Trang 6

Xét nghiệm PCR

Bảng 4 sau đây cho thấy kết quả xét

nghiệm PCR lao (+) của một số tác giả trong và

ngoài nước

Bảng 4 Kết quả xét nghiệm PCR lao (+)

Villegas(19) 43 72,8

Tr ầ n Hoàng Thành(16) 45 41,3

Lê Kh ắ c B ả (9) 45 13,3

QuangV ă n Trí(15) 39 5,1

Tỷ lệ PCR lao (+) trong DMP của chúng tôi

và tác giả Quang Văn Trí (15) tương đương nhau

có lẽ vì cùng thực hiện tại 1 phòng xét nghiệm

của BV Phạm Ngọc Thạch, thấp hơn nhiều so

với các tác giả khác Tỷ lệ PCR (+) trong nước

thấp hơn ở nước ngoài, có lẽ do điều kiện phòng

thí nghiệm chưa tốt Tuy nhiên, ngay tại những

nghiên cứu tại nước ngoài cũng có kết quả rất

khác nhau, nghiên cứu của Villena(20) có tỉ lệ PCR

lao (+) là 42%, trong khi nghiên cứu của

Villegas(19) lại có kết quả rất cao (75%) Sự khác

nhau này có lẽ liên quan đến việc sử dụng

những đoạn DNA khác nhau khi làm test PCR,

do đó việc sử dụng kết quả PCR lao luôn phải

được cân nhắc cẩn thận(10)

Kết quả cấy MGIT dịch màng phổi

Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ cấy

MGIT (+) DMP là 18,2% (6/33 trường hợp), thấp

hơn của tác giả Nguyễn Thu Hà (97) tại Viện Lao

và Bệnh Phổi Trung Ương (nghiên cứu trên 70

bệnh nhân lao màng phổi và lao màng não) là

27,3%, có lẽ vì mẫu nghiên cứu của chúng tôi

chưa đủ lớn

Kết quả STMP kín ra tổn thương lao

Bảng 5 Kết quả STMP kín của một số nghiên cứu

Uthama Babu(18) 28 64

Villena(20) 33 66,6

Quang V ă n Trí(15) 38 86,8

Tr ầ n Hoàng Thành(16) 95 65,3

Âu Thanh Tùng(2) 42 25,8

Đỗ Thông(5) 49 40

Lê Kh ắ c B ả (9) 46 54,8

Kết quả STMP ra mô sang thương viêm lao trong nghiên cứu của chúng tôi là 62,3% cũng tương đương với các tác giả trong nước(97,16) và ngoài nước(18,20) Uthama Buba cũng thực hiện sinh thiết xuyên da nhưng cải tiến bằng đưa một kìm sinh thiết qua một nòng kim luồn và sinh thiết dưới hướng dẫn của X quang, cách này sinh thiết được nhiều mẫu mô màng phổi ờ nhiều vị trí khác nhau nhưng BN phải chịu ăn tia Xquang nhiều hơn, tuy nhiên kết quả ra mô viêm lao cũng chỉ là 64% tương đương nghiên cứu của chúng tôi Tác giả Quang văn Trí(15)

trong một nghiên cứu hồi cứu, có tỉ lệ sinh thiết

ra mô viêm lao cao nhất nhưng do ông đã loại trừ hoàn toàn những BN lao màng phổi nhưng

có tất cả các xét nghiệm PCR, MGIT và STMP đều âm tính Những BN này trong nghiên cứu của chúng tôi chiếm đến 27,9%, đó có lẽ là nguyên nhân tại sao kết quả STMP ra viêm lao của tác giả này lên tới 86,8%

Phối hợp giữa các phương tiện chẩn đoán lao màng phổi

Trong nghiên cứu của chúng tôi, khi phối hợp giữa STMP với cấy MGIT làm tăng tỉ lệ chẩn đoán lao màng phổi từ 62,8% lên 72,1% Tác giả

Lê Khắc Bảo(9) đã thực hiện STMP kín bằng kim

3 lần làm tăng tỉ lệ chẩn từ 56,5% lên 73,9% cũng tương đương với phối hợp giữa STMP và cấy MGIT của chúng tôi, nhưng với phối hợp này

BN chỉ chịu STMP 1 lần và chi phí cũng rẻ hơn (giá STMP 1 lần là 130.000 đồng, cấy MGIT là 90.000 đồng) Một số tác giả khác phối hợp giữa nhuộm tìm AFB, STMP, cấy DMP và cấy mẫu

mô STMP nhưng kết quả chẩn cũng chỉ lên tối

đa là 80%

Những biện pháp khác chẩn đoán lao màng phổi

Gần đây có nhiều biện pháp định lượng các markers dùng chẩn đoán lao như Adenosine Deaminase (ADA: là một men của BC lympho T,

sẽ gia tăng khi hệ miễn dịch tế bào bị kích thích)

Trang 7

hoặc gamma interferon (được sản xuất ra từ BC

lympho T trong lao màng phổi) Với ngưỡng

ADA > 40 U/L, việc chẩn đoán lao có độ nhạy

cảm và độ đặc hiệu 92,2%(7), nếu kết hợp thêm tỉ

lệ BC đơn nhân/BC đa nhân trong DMP > 0,75

thì độ đặc hiệu còn cao hơn nữa Đối với gamma

interferon, với ngưỡng chẩn đoán là 3,7 IU/ml

thì độ nhạy cảm và độ đặc hiệu là 98%(20).

Sinh thiết màng phổi qua nội soi màng phổi

là biện pháp tốt nhất để chẩn đoán lao màng

phổi với độ nhạy từ 95 – 100%(6), tuy nhiên giá cả

khá mắc và cần trang thiết bị hiện đại cũng như

thầy thuốc có tay nghề cao

KẾT LUẬN

Qua khảo sát trên 43 bệnh nhân bị lao màng

phổi nhập khoa Hô Hấp bệnh viện Nhân Dân

Gia Định, chúng tôi có kết quả như sau:

- Độ nhạy của sinh thiết màng phổi bằng kim là

62,8%

- Độ nhạy của PCR lao dịch màng phổi là 6,1%

- Độ nhạy của cấy dịch màng phổi là 18,2%

- Kết hợp sinh thiết màng phổi bằng kim với cấy

MGIT dịch màng phổi cho kết quả chẩn đoán lao

màng phổi là 72,1%

Chúng tôi đưa ra khuyến cáo trong hoàn

cảnh của bệnh viện chúng ta để chẩn đoán lao

màng phổi là sinh thiết bằng kim kết hợp cấy

MGIT dịch màng phổi PCR lao dịch màng

phổi có độ nhạy thấp và khi kết hợp với các

biện pháp khác (STMP bằng kim và cấy MGIT)

không làm tăng khả năng chẩn đoán lao màng

phổi nên không được khuyên thực hiện

thường qui

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 American Thoracic Society Diagnostic Standards and

Classification of Tuberculosis in Adults and Children Am J

Respir Crit Care Med 2000 Vol 161 pp 1376-l395

2 Âu Thanh Tùng Đánh giá vai trò của thử nghiệm PCR lao trong chẩn đoán lao màng phổi Luận văn tốt nghiệp bác sĩ nội trú 1998, Đại Học Y Dược TP.HCM

3 Baumann MH, Nolan R, Petrini M, et al Pleural tuberculosis in the United States: incidence and drug resistance Chest 2007 (in press).

4 Berger HW, Mejia E Tuberculous pleurisy Chest 1973;63:88-92

5 Đỗ Thông, Nguyễn Thị Oanh Kết quả 35 trường hợp sinh thiết màng phổi để chẩn đoán căn nguyên tràn dịch màng phổi TTBCNH Tổng kết hoạt động chống lao 1981- 1982, Hội chống lao Việt Nam 1983, 22

6 Gopi A, Madhavan SM Diagnosis and Treatment of Tuberculous Pleural Effusion in 2006 Chest 2007;131;880-889

7 Goto M, Noguchi Y, Koyama H, et al Diagnostic value of adenosine deaminase in tuberculous pleural effusion: a meta-analysis Ann Clin Biochem 2003;40:374- 381

8 Ibrahim WH, Ghadban W, Khinji A, et al Does pleural tuberculosis disease pattern differ among developed and developing countries Respir Med 2005;99:1038-1045

9 Lê Khắc Bảo Giá trị sinh thiết màng phổi bằng kim xuyên da trong chẩn đoán nguyên nhân lao-ung thư gây tràn dịch, dày,

u màng phổi Y Học TP Hồ Chí Minh - Tập 7 - Phụ bản số 1

2003, 93-97

10 Light RW Tuberculous Pleural Effusions Chapter 13 in Pleural Diseases 5th Edition Lippincott Williams & Wilkins

2007

11 Lưu Thị Nhẫn, Đỗ Đức Khoan, Đỗ Thị Thu Tổng kết điều trị tràn dịch màng phổi do lao sau 2 năm 1982-1983 Tập san Lao

và bệnh Phổi 1984, 3-5

12 Moudgil H, Sridhar G, Leitch AG Reactivation disease: the commonest form of tuberculous pleural effusion in Edinburgh,

1980-1991 Respir Med 1994;88:301-304

13 Nguyễn Thu Hà, Trần Văn Sáng Nhận xét bước đầu về kết quả phát hiện vi khuẩn lao của kỹ thuật PCR, MGIT Y học thực hành tháng 7 2008

14 Phạm Long Trung Bệnh học lao phổi, lao màng phổi trang

88

15 Quang Văn Trí Giá trị của một số xét nghiệm cận lâm sàng thường quy trong chẩn đoán phân biệt tràn dịch màng phổi

do lao và ung thư Y học TP Hồ chí Minh - Tập 12 - số 4 2008

16 Trần Hoàng Thành, Lê Thanh Chương Nhận xét đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của bệnh nhân tràn dịch màng phổi

do lao điều trị tại Khoa Hô Hấp Bệnh Viện Bạch Mai Y học thực hành Hội nghị bệnh phổi toàn quốc 2005

17 Trần Văn Sáu Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng

và phối hợp điều trị tràn dịch màng phổi thanh tơ huyết do lao Luận án Phó Tiến Sĩ Khoa Học Y Dược - Đại Học Y Hà Nội 1996

18 Uthaman B, Behbehani N Percutaneous Multiple- Site

Parietal Pleural Biopsy.Chest 2004 125: 1776-1782

19 Villegas MV Evaluation of Polymerase Chain Reaction, Adenosine Deaminase and Interferon γ in pleural fluid for the differential diagnosis pf pleural tuberculosis Chest vol 118

No 5 November 2000

20 Villena V, Rebollo MJ, Aguado JM, et al Polymerase chain reaction for the diagnosis of pleural tuberculosis in immunocompromised and immunocompetent patients Clin Infect Dis 1998;26:212-214.

Ngày đăng: 20/01/2020, 04:56

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w