1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Nghiên cứu chỉ định và đánh giá kết quả các phương pháp điều trị sỏi ống mật chủ kèm sỏi túi mật

9 80 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 271,65 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu được tiến hành với mục tiêu nhằm xác định ưu nhược điểm của các phương pháp điều trị (tỉ lệ lấy sạch sỏi, tỉ lệ tử vong, tai biến, biến chứng, ngày nằm viện, số lần điều trị...) để xác lập các chỉ định chọn lựa phương pháp điều trị trong các tình huống lâm sàng.

Trang 1

NGHIÊN CỨU CHỈ ĐỊNH VÀ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ CÁC PHƯƠNG PHÁP

ĐIỀU TRỊ SỎI ỐNG MẬT CHỦ KÈM SỎI TÚI MẬT

Đỗ Trọng Hải*, Nguyễn Hoàng Bắc*, Nguyễn Thúy Oanh*,

Trần Thiện Trung*, Phạm Văn Tấn*, Lê Tiến Đạt*

TÓM TẮT

Đặt vấn đề: Chiến lược điều trị bệnh nhân sỏi OMC kèm sỏi túi mật còn nhiều bàn cãi Với những tiến bộ

của kỹ thuật nội soi và việc áp dụng các kỹ thuật điều trị ít xâm hại, hiện nay đã có nhiều phương pháp điều trị để chọn lựa như ERCP cắt cơ vòng lấy sỏi OMC, PTNS mở OMC hoặc qua ống túi mật lấy sỏi cùng lúc cắt túi

mật, hoặc ERCP cắt cơ vòng lấy sỏi OMC trong mổ nội soi cắt túi mật, lấy sỏi OMC xuyên gan qua da Mục

tiêu nghiên cứu nhằm xác định ưu nhược điểm của các phương pháp điều trị (tỉ lệ lấy sạch sỏi, tỉ lệ tử vong, tai

biến, biến chứng, ngày nằm viện, số lần điều trị…) để xác lập các chỉ định chọn lựa phương pháp điều trị trong các tình huống lâm sàng

Phương pháp: tiền cứu, mô tả phân tích Mẫu nghiên cứu gồm 140 BN sỏi OMC phát hiện trước, trong

hay sau mổ cắt túi mật nội soi được lấy (1) trước mổ qua ERCP, qua da xuyên gan (QDXG), (2) trong mổ qua ERCP, qua ống túi mật, qua mổ nội soi mở OMC lấy sỏi, mổ mở kinh điển (3) hoặc sau mổ qua ERCP, QDXG, qua đường hầm ống Kehr (ĐHOK) tại BV ĐHYD TP.HCM từ tháng 05/01/ 2007 đến tháng 12/05/ 2008

Kết quả: Tuổi trung bình của BN là 59,5 Về giới: nam 25,7% nữ 74,3% Sỏi OMC kèm sỏi túi mật

(106BN - 75,7%), có kèm sỏi gan (34 BN -24,3%) Chẩn đoán dựa vào siêu âm bụng trước mổ 126 ca (90%), siêu âm trong mổ (IOUS) 8 ca (5,7 %) và chụp hình trong mổ (IOC) 6 ca (4,3%) Phương pháp điều trị bao gồm: ERCP-ES lấy sỏi sau đó cắt TMNS (29 ca - 20,7%), ERCP-ES trong mổ cắt TMNS (1ca - 0,7%), ERCP-ES sau cắt TMNS (8 ca – 5,7%), PTNS cắt TM và mở OMC lấy sỏi (99 ca – 70,7%), mổ mở (3 ca - 2,1%) Không có tử vong, tai biến, biến chứng 3 ca (chảy máu, viêm tụy cấp và thủng OMC) Các phương pháp điều trị ít xâm hại tránh được biến chứng nhiễm trùng vết mổ và BN mau hồi phục hơn Thời gian nằm viện ngắn hơn

Kết luận: Với sự phát triển và áp dụng nhiều kỹ thuật chẩn đoán và điều trị mới, ít xâm hại, hiện nay phẫu

thuật viên có nhiều chọn lựa và nhiều phương cách điều trị có kết quả tốt hơn bệnh nhân sỏi OMC kèm sỏi túi mật Việc chẩn đoán và đánh giá chính xác có thể với MRCP, ERCP hay IOC Việc điều trị có thể qua nội soi, qua

da, mổ nội soi hay mổ mở Tốt nhất nên chọn kỹ thuật điều trị mà tại cơ sở các chuyên gia thông thạo và có nhiều kinh nghiệm nhất để an toàn cho bệnh nhân hoặc chuyển bệnh nhân đến trung tâm có đủ trang bị kỹ thuật và chuyên gia với nhiều chọn lựa nhất

ABSTRACT

INDICATION AND EVALUATION OF ENDOSCOPIC, LAPAROSCOPIC AND SURGICAL PROCEDURES FOR TREATMENT OF COMMON BILE DUCT STONES ASSOCIATED

GALLSTONES

Do Trong Hai, Nguyen Hoang Bac, Nguyen Thuy Oanh, Tran Thien Trung, Pham Van Tan, Le Tien Đat

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 13 – Supplement of No 1 - 2009: 51 – 58

Background: Nowadays, there are a great deal of endoscopic, laparoscopic and surgical procedures for

treatment of common bile duct stones associated with gallstones With the improvement of advanced techniques and equipments, surgeons have more new methods for CBD stone removal via endoscopic sphincterotomy (ERCP-ES), laparoscopic choledochotomy, cholangioscopic via T tube, percutaneous transhepatic, with or without

Trang 2

electrohydraulic lithotripsy (EHL)…However, each method has other benefits and indications The application of these techniques depends on equipments supply, experience of surgeons and experts The objective of research aims to determine indications and to evaluate methods for the treatment of CBD stones associated gallstone on results of stone removal, complications, mortality and hospital stay

Methods: The management for CBD duct stones associated with gallstones was prospective studied on

140 patients from Jan 2007 to May 2008 at the University Medical Center of Ho Chi Minh City

Results: The average age of patients was 59.5 About sex: male 25.7% and female 74.3% CBD stone

associated with gallstone 106 cases (75.7%), associated IHS 34 cases (24,3%) Diagnosis with preoperative abdomen US (126 cases- 90%), intraoperative US (8 cases – 5.7 %) and intraoperative cholangiography (6 cases – 4.3%) Methods of management included: ERCP-ES stone removal then Lap Cholecystectomy (29 cases – 20.7%), intraoperative ERCP-ES and Lap.cholecystectomy at the same time (1case – 0.7%), ERCP-ES after Lap Cholecystectomy (8 cases – 5.7%), Lap.Cholecystectomy and choledochotomy (99 cases – 70.7%), Open surgery (3 cases – 2.1%) No mortality and intraoperative accident, complications included 3 cases (bleeding, pancreatitis and CBD leakage Minimally invasive endoscopic and surgical management helped to avoid wound infection and helped patients to recover faster The mean hospital stay was also shorter and for all stones removals

Conclusions: With the improvement of advanced techniques and equipments, surgeons have more new

options to choice for CBD stone removal via endoscopic sphincterotomy (ERCP-ES), laparoscopic choledochotomy, cholangioscopic via T tube, percutaneous transhepatic, with or without electrohydraulic lithotripsy (EHL)… The best choice of treatment depends not only on stone and CBD duct characteristics but also

on equipments supply, experience of surgeons and experts and over all it must be safe for patient

ĐẶT VẤN ĐỀ

Sỏi OMC là bệnh phổ biến ngày càng gặp

nhiều ở Việt Nam Sỏi OMC thường kèm sỏi

túi mật và có thể phát hiện trước, trong hay

sau mổ sỏi túi mật nên có nhiều phương pháp

điều trị được áp dụng Hiện nay, tại nhiều cơ

sở trong nước đã và đang áp dụng thành công

những kỹ thuật mới trong chẩn đoán và điều

trị bệnh sỏi mật, đặc biệt là các phương pháp

điều trị ít xâm hại như mổ nội soi, lấy sỏi qua

nội soi đường mật ngược dòng và lấy sỏi qua

da, tán sỏi thủy điện lực Những tiến bộ này

đã làm thay đổi quan điểm điều trị bệnh nhân

sỏi OMC kèm sỏi túi mật và giúp PTV có

nhiều chọn lựa phương pháp điều trị thích

hợp trong các tình huống lâm sàng khác nhau

Các yếu tố ảnh hưởng đến việc chọn lựa

phương pháp điều trị bao gồm:

Sỏi OMC được phát hiện trước, trong hay

sau mổ sỏi túi mật

Đặc điểm của sỏi và OMC: đặc biệt là kích thước của sỏi, đường kính OMC, kênh chung mật tụy…

Đặc điểm bệnh nhân: tuổi, thể trạng bệnh nhân, tiền sử mổ …

Trang bị kỹ thuật của cơ sở điều trị về nội soi, máy mổ nội soi

Khả năng, kinh nghiệm của chuyên gia nội soi và phẫu thuật viên

Quan điểm hiện nay trong việc điều trị sỏi OMC kèm sỏi túi mật là theo khuynh hướng điều trị ít xâm hại, bao gồm nhiều pp có thể chọn lựa:

ERCP cắt cơ vòng lấy sỏi OMC trước, sau

đó cắt túi mật nội soi

Cắt túi mật nội soi, sau đó ERCP cắt cơ vòng lấy sỏi

ERCP cắt cơ vòng lấy sỏi OMC cùng lúc cắt túi mật nội soi (1 thì)

Trang 3

Phẫu thuật nội soi cắt túi mật và lấy sỏi

OMC qua ống túi mật hoặc chỗ mở OMC

Mổ mở cắt túi mật và mở OMC lấy sỏi theo

kinh điển

Mục tiêu của nghiên cứu này nhằm nghiên

cứu chỉ định và đánh giá kết quả của các

phương pháp điều trị bệnh nhân sỏi OMC

kèm sỏi túi mật để giúp chọn lựa phương

pháp điều trị thích hợp trong những tình

huống khác nhau

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Thiết kế nghiên cứu

Tiền cứu, mô tả phân tích

Địa điểm nghiên cứu:

BV ĐHYD TPHCM

Thời gian nghiên cứu:

Từ 05/01/07 đến 12/05/2008

Đối tượng nghiên cứu

Tiêu chuẩn chọn bệnh

BN sỏi OMC phát hiện trước, trong và sau

mổ cắt túi mật nội soi, có thể kèm hay không

kèm sỏi gan

Sỏi OMC được lấy:

Trước mổ: qua ERCP, qua da xuyên gan

(LSQDXG)

Trong mổ: qua ERCP, qua ống túi mật, qua

NS mở OMC lấy sỏi và mổ mở kinh điển Sau mổ: qua ERCP, qua ĐHOK, LSQDXG

Loại trừ

BN mổ cấp cứu

Các dữ liệu được tập hợp theo mẫu bệnh

án chung và phân tích xử lý bằng các phép

toán thống kê trong phần mềm SPSS 13.0

KẾT QUẢ

Trong thời gian từ 05/01/07 đến 12/05/2008 tại bệnh viện Đại Học Y Dược TP HCM, chúng tôi có 140 trường hợp sỏi OMC kết hợp sỏi túi mật trong gan được điều tṛ̣i bằng nội soi, mổ nội soi hay lấy sỏi qua da

Tuổi trung bình của BN là 59,5 Về giới: nam 36 (25,7%) nữ 104 (74,3%) Sỏi OMC kèm sỏi túi mật (106BN - 75,7%), có kèm sỏi gan (34

BN -24,3%) Chẩn đoán dựa vào siêu âm bụng trước mổ 126 ca (90%), siêu âm trong mổ (IOUS) 8 ca (5,7 %) và chụp hình trong mổ (IOC) 6 ca (4,3%) Phương pháp điều trị bao gồm: ERCP-ES lấy sỏi sau đó cắt TMNS (29 ca

- 20,7%), ERCP-ES trong mổ cắt TMNS (1ca - 0,7%), ERCP-ES sau cắt TMNS (8 ca – 5,7%), PTNS cắt TM và mở OMC lấy sỏi (99 ca – 70,7%), mổ mở (3 ca - 2,1%)

Bảng 1: Đặc điểm bệnh lý và các phương pháp điều trị

ERCP-ES cùng lúc CTMNS

ERCP-ES sau

OMC l ấ y s ỏ

M ổ m ở ho ặ c chuy ể n m ổ m ở

SOMC

Vi trí s ỏ i

Đ K s ỏ i

SL s ỏ i

OMC

Đ K OMC

Trang 4

Đặ c đ i ể m b ệ nh lý Ph ươ ng pháp đ i ề u tr ị

ERCP-ES cùng lúc CTMNS

ERCP-ES sau

OMC l ấ y s ỏ

M ổ m ở ho ặ c chuy ể n m ổ m ở

Bảng 2: Kết quả điều trị

Ph ươ ng pháp đ i ề u tr ị

K ế t qu ả đ i ề u tr ị

CTMNS

ERCP-ES cùng lúc CTMNS

ERCP-ES sau

OMC l ấ y s ỏ

M ổ m ở ho ặ c chuy ể n m ổ m ở

S ố l ầ n đ i ề u tr ị TB 1,3 l ầ n 1,3 1 1,5 1,2 1,7

S ố ngày đ i ề u tr ị TB 11,4 ngày 9,5 3 8,3 12,2 12,6

Bi ế n ch ứ ng 3 1 (ch ả y máu) 0 0 2 (xì OMC, VTC) 0

Kết quả nghiên cứu cho thấy không có tử

vong và tai biến, biến chứng 3 ca (chảy máu,

viêm tụy cấp và thủng OMC Các phương

pháp điều trị ít xâm hại mau hồi phục, thời

gian nằm viện ngắn và số lần điều trị ít hơn và

đạt được những ưu điểm của phương pháp

điều trị ít xâm hại

BÀN LUẬN

Việc đánh giá và điều trị bệnh nhân sỏi

OMC kèm sỏi túi mật thường được thực hiện

tùy theo 3 tình huống lâm sàng như sau:

Sỏi OMC chẩn đoán được trước mổ

Chẩn đoán sỏi OMC không thể chỉ đơn

thuần dựa vào bệnh sử, khám lâm sàng và các

xét nghiệm Mà phải cần áp dụng các kỹ thuật

chẩn đoán xác định sỏi OMC bao gồm siêu âm

bụng, ERCP, CT hoặc MRI, EUS, PTC

Siêu âm bụng

Có độ nhạy và độ đặc hiệu cao trong chẩn

đoán sỏi túi mật nhưng không cao trong chẩn

đoán sỏi OMC (48-100% và 64-100%) nhất là

khi sỏi ở đoạn cuối OMC và sỏi có kích thước

nhỏ(17) Siêu âm bụng chỉ có khả năng chẩn

đoán sỏi OMC khoảng 50% (30-90%)(5) Vai trò

của siêu âm chỉ có tính chất tầm soát, cần lưu ý

dấu hiệu gián tiếp khi không thấy sỏi OMC mà

đường mật trong và ngoài gan giãn Sỏi OMC

chẩn đoán được trước mổ trong lô nghiên cứu chủ yếu dựa vào siêu âm (90%)

ERCP

Là phương pháp vừa chẩn đoán vừa điều trị Năm 1982, Frey với 72 trường hợp sỏi đường mật có đối chiếu kết quả phẫu thuật, cho thấy ERCP là phương pháp có đô nhạy 90%, độ đặc hiệu 98% và độ chính xác 96%(7)

Tỉ lệ thành công của ERCP-ES lấy sỏi với baloon catheter và Dormia basket là 80-90%

Ap dụng thêm các kỹ thuật tán sỏi cơ học, điện thủy lực, laser và tán sỏi ngoài cơ thể, tỉ lệ thành công có thể lên đến 95% (0,4) Đối với sỏi OMC có kích thước <2 cm, ERCP-ES lấy ra dễ dàng Tuy nhiên, đối với trường hợp sỏi có d>2cm và nhiều sỏi, ERCP-ES nhiều khi thất bại hoặc phải mất nhiều thời gian và dễ bị biến chứng viêm tụy cấp, chảy máu hoặc thủng tá tràng Chúng tôi có 1 ca chảy máu sau cắt cơ vòng do sỏi to Trong trường hợp sỏi to và tán sỏi cơ học thất bại, cần phải tán sỏi điện thủy lực (EHL) Tỉ lệ thành công khoảng 96% theo Arya(1) Ngoài ra còn có thể tán sỏi Laser hay tán sỏi ngoài cơ thể (ESWL) tỉ lệ thành công

>90% Ở một số trường hợp lấy sỏi thất bại có khi phải đặt stent đường mật Đôi khi cũng xảy ra tai biến kẹt rọ và phải chuyển mổ ngay

để lấy sỏi và lấy rọ

Trang 5

Tỉ lệ tử vong chung của ERCP chẩn đoán

là 0,2% và điều trị là 0,5% Biến chứng bao

gồm viêm tụy cấp (1-7%), chảy máu do cắt cơ

vòng (0,8-2%), thủng tá tràng (0,3-0,6%), viêm

đường mật (1%), viêm túi mật (0,2-0,5%)(12)

Hồ Văn Hân, Lê Văn Tầm, Lê Quang Quốc

Anh 2000-2004(10) có 865 bệnh nhân tuổi từ 7

đến 96 với 1008 lượt can thiệp ERCP cho thấy

nội soi mật tụy ngược dòng có một số tai biến

và biến chứng có thể dẫn đến tử vong, tuy

nhiên vai trò của nó rất quan trọng cho phép

áp dụng nhiều kỹ thuật điều trị và xử trí hầu

hết bệnh mật tụy không phải phẫu thuật, đặc

biệt trong tình huống cấp cứu và bệnh nhân

trong tình trạng nặng

Chụp CT

Thường có độ nhạy từ 76-90%, trong khi

CT xoắn ốc có thuốc cản quang cho độ nhạy

đến 88% và độ đặc hiệu 97% và độ chính xác

94%(8)

MRCP

Là một chọn lựa có thể so sánh với ERCP

về độ nhạy và độ đặc hiệu và là một phương

pháp chẩn đoán ít xâm hại dùng để xác định

hay loại trừ sỏi OMC(8)

Ke và cs(13) với 267 bệnh nhân cho thấy

MRCP có độ nhạy 100% và độ đặc hiệu 96%, tiên

đoán âm 100% Một trong những giới hạn của

MRCP là độ phân giải thấp hơn so với ERCP nên

có thể bỏ sót những sỏi kích thước nhỏ

EUS

Là kỹ thuật chẩn đoán có độ chính xác

95%, độ nhạy 98%, độ đặc hiệu 99%, tiên đoán

dương 99%, tiên đoán âm 98%(3) Ngoài ra EUS

có độ phân giải cao hơn ERCP nên có thể phát

hiện những sỏi nhỏ đoạn cuối OMC Tuy

nhiên kỹ thuật đòi hỏi phương tiện đặt tiền và

chuyên gia có kinh nghiệm

PTSE (percutaneous transhepatic stone extraction)

Là kỹ thuật có thể dùng để lấy sỏi OMC Tuy nhiên chúng tôi chủ yếu áp dụng kỹ thuật này đối với sỏi gan

Sỏi OMC được phát hiện trong mổ

Trong trường hợp sỏi OMC không chẩn đoán xác định được trước mổ chụp mật trong

mổ (IOC) là phương pháp thường được thực hiện để xác định hay loại trừ sỏi OMC

IOC

Được thực hiện qua mổ mở lần đầu bởi Mirizzi năm 1930 Khi cắt túi mật nội soi được phổ biến và áp dụng rộng rãi kỹ thuật IOC đã được thực hiện qua nội soi ổ bụng Tỉ lệ đặt được catheter qua ống túi mật thay đổi từ 75-100%(13) Độ nhạy, độ đặc hiệu, tiên đoán dương, tiên đoán âm lần lượt là 80-90%, 76-97%, 67-90%, 90-98% và 95% tương đương với IOC trong mổ mở(15) Tỉ lệ dương tính giả của IOC là 0,8%

Có quan điểm cho rằng nên chụp IOC thường quy để ngăn ngừa tổn thương đường mật trong mổ cắt túi mật nội soi vì có đến 10-20% trường hợp có bất thường giải phẫu đường mật Chúng tôi có 6 ca IOC phát hiện được sỏi OMC và được giải quyết ngay

Lê Quan Anh Tuấn và Nguyễn Hoàng Bắc(11) từ 6/1998 đến 7/1999 đã chụp hình đường mật trong mổ không chọn lọc cho 50 bệnh nhân trong mổ cắt túi mật nội soi Kết quả: Tỉ lệ thành công 94% Thời gian chụp trung bình là 15 phút Có 2 trường hợp có sỏi ống mật chủ và 5 trường hợp ống mật chủ dãn

>10mm không có sỏi, 1 trường hợp bất thường của đường mật Không có tai biến và biến chứng IOC trong mổ cắt túi mật nội soi là một

kỹ thuật đơn giản, an toàn, giúp phát hiện sỏi

Trang 6

đường mật không triệu chứng và những bất

thường về giải phẫu của đường mật

Siêu âm trong mổ (IOUS)

Là một phương pháp không xâm hại được

giới thiệu đầu tiên năm 1980 trong mổ mở và

năm 1990 trong mổ nội soi cắt túi mật(15) Kỹ

thuật có độ chính xác cao trong chẩn đoán sỏi

đường mật trong mổ nhưng bị hạn chế do

trang thiết bị thường không có sẵn, đắt tiền và

đòi hỏi chuyên gia siêu âm có kinh nghiệm

Trong nhóm BN nghiên cứu có 8 ca IOUS phát

hiện đựơc sỏi OMC trong mổ và chúng tôi giải

quyết ngay tránh được sót sỏi

Võ Tấn Đức(16) nghiên cứu trên 31 bệnh

nhân được siêu âm qua soi ổ bụng trong mổ

cắt túi mật có hoặc không kèm theo mở ống

mật chủ lấy sỏi Tỉ lệ thực hiện thành công ở

100% bệnh nhân Thời gian siêu âm trung bình

là 7,9 ± 3 phút Độ nhạy của IOUS là 92,86%,

độ đặc hiệu là 100% Siêu âm qua soi ổ bụng

an toàn, không cần mở ống mật chủ, nhanh,

chính xác

Khi chẩn đoán xác định trong mổ OMC có

sỏi, có nhiều chọn lựa điều trị khác nhau Tùy

thuộc kích thước, vị trí sỏi, tình trạng bệnh

nhân và trang bị về kỹ thuật và phẫu thuật

viên, có thể chọn lựa các phương pháp điều trị

sau đây:

ERCP trong mổ cắt túi mật nội soi (IO-

ERCP)

Quan điểm khuyến khích thực hiện ERCP

ngay trong mổ (IO-ERCP) thay vì sau mổ là vì

ERCP sau mổ có thể bị thất bại và lúc đó bệnh

nhân sẽ phải mổ lần nữa Một điểm nữa cần

lưu ý là nên cắt túi mật nội soi trước khi làm

IO-ERCP vì sau khi làm ERCP ruột non sẽ

trướng làm hạn chế tầm nhìn khi cắt túi mật

Chúng tôi có 1 ca được làm ERCP ngay trong

mổ kết quả rất tốt giúp rút ngắn thời gian nằm viện

Mổ nội soi lấy sỏi OMC

Đây là chọn lựa thường được chúng tôi áp dụng để lấy sỏi OMC và cắt túi mật ngay trong một thì để thuận tiện và giảm chi phí cho BN Chỉ định lấy sỏi qua ống túi mật khi đường kính sỏi trên < 6mm, đường kính ống túi mật

đủ đặt ống nội soi đường mật, số lượng sỏi ≤ 4 viên, không có sỏi gan

Nếu lấy sỏi qua lỗ mở OMC thì chỉ nên mở OMC đoạn trên tá tràng với đường rạch khoảng 1cm hay bằng kích thước của sỏi lớn nhất

Sau khi đặt ống soi vào OMC, dùng thuốc giãn cơ vòng và bơm rửa đường mật với dung dịch NaCl 0,9% có thể đẩy các sỏi nhỏ < 3mm và bùn mật xuống tá tràng Đối với sỏi lớn hơn phải dùng bóng Fogarty (4F) hoặc rọ Dormia hay kềm để lấy sỏi Nếu sỏi to hoặc bám chặt quá có thể dùng máy tán sỏi điện thủy lực hay tán sỏi Laser Cần tránh làm tổn thương ống mật

Sau khi lấy sỏi, có thể đặt dẫn lưu Kehr hay khâu kín OMC với điều kiện đã kiểm tra với ống soi đường mật thông tốt không còn sỏi Khâu ngay OMC rút ngắn được thời gian nằm viện (5 so với 7 ngày)mà không làm tăng

tỉ lệ rò mật(9) Nguyễn Hoàng Bắc, Lê Quan Anh Tuấn(11)

đã thực hiện 173 phẫu thuật nội soi lấy sỏi đường mật chính Bệnh nhân được chụp đường mật trong mổ trước khi thám sát OMC Soi đường mật trong mổ luôn được thực hiện

để phát hiện sỏi sót Kết quả: 9 trường hợp (5,3%) được lấy sỏi qua ống túi mật, trong đó 5 trường hợp bơm rửa qua ống túi mật và 4 trường hợp soi ống mật chủ qua ống túi mật

để lấy sỏi 164 trường hợp được mở OMC để

Trang 7

lấy sỏi, 4 trường hợp chuyển mổ mở (2,31%)

Thời gian mổ trung bình là 115 phút Khâu

kín OMC không dẫn lưu Kehr được thực hiện

trên 56 trường hợp (33,2%) Thời gian nằm

viện trung bình là 8 ngày ở nhóm bệnh nhân

có dẫn lưu Kehr, 5 ngày ở nhóm khâu kín

OMC Tỉ lệ biến chứng là 4,2% và không có tử

vong Trong trường hợp mổ nội soi thất bại, có

2 chọn lựa:

Đặt 1 cathether dẫn lưu OMC qua ống túi

mật sau đó lấy sỏi OMC qua ERCP

Chuyển mổ mở lấy sỏi OMC

Sỏi OMC chỉ được phát hiện sau mổ

Trong trường hợp này hầu hết được chỉ

định lấy qua ERCP(15) Nếu bệnh nhân được

đặt Kehr thì lấy sỏi qua đường hầm Kehr sau

mổ 3 tuần lễ Có thể kết hợp tán sỏi điện thủy

lực hay laser và lấy sỏi Một chọn lựa khác là

lấy sỏi xuyên gan qua da như đã đề cập ở trên

và có thể lấy nhiều lần cho đến khi sạch sỏi

KẾT LUẬN

Với sự phát triển và áp dụng nhiều kỹ

thuật chẩn đoán và điều trị mới, ít xâm hại,

hiện nay phẫu thuật viên có nhiều chọn lựa

và nhiều phương cách điều trị có kết quả tốt

hơn bệnh nhân sỏi OMC kèm sỏi túi mật Việc

chẩn đoán và đánh giá chính xác có thể với

MRCP, ERCP hay IOC Việc điều trị có thể

qua nội soi, qua da, mổ nội soi hay mổ mở

Tốt nhất nên chọn kỹ thuật điều trị mà tại cơ

sở các chuyên gia thông thạo và có nhiều kinh

nghiệm nhất để an toàn cho bệnh nhân hoặc

chuyển bệnh nhân đến trung tâm có đủ trang

bị kỹ thuật và chuyên gia với nhiều chọn lựa

nhất

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Arya N, Nelles SE, Haber GB, et al (2004) Electrohydraulic

lithotripsy in 111 patients: A safe and effective therapy for

2 Binmoeller KF, Schafer TW (2001) Endoscopic

management of bile duct stones J Clin Gastroenterol,

32:106-118

3 Buscarini E, Tansini P, Vallisa D, et al (2003) EUS for suspected choledocholithiasis: Do benefits outweigh costs?

A prospective, controlled study Gastrointest Endosc,

57:510-518

4 Carr-Locke DL (2002) Therapeutic role of ERCP in the management of suspected common bile duct stones

5 Eisen GM, Dominitz JA, Faigel DO, et al (2001) An annotated algorithm for the evaluation of

choledocholithiasis Gastrointest Endosc, 53:864-866

6 Enochsson L, Lindberg B, Swahn F, Arnelo U (2004) Intraoperative endoscopic retrograde cholangiopancreatography (ERCP) to remove common bile duct stones during routine laparoscopic cholecystectomy does not prolong hospitalization: A

2-year experience Surg Endosc, 18:367-371

7 Frey CF, Burbige EJ, Meinke WB, et al (1982) Endoscopic

retrograde cholangiopancreatography Am J Surg,

144:109-114

8 Fulcher AS (2002) MRCP and ERCP in the diagnosis of

common bile duct stones Gastrointest Endosc, 56: S178-182

9 Ha JP, Tang CN, Siu WT, et al (2004) Primary closure versus T-tube drainage after laparoscopic choledochotomy

for common bile duct stones Hepatogastroenterology,

51:1605-1608

10. Hồ văn Hân, Lê Văn Tầm, Lê Quang Quốc Anh (2004)

17000 lần can thiệp điều trị qua nội soi mật-tụy tại các

bệnh viện Hoàn Mỹ giai đoạn 2000-2004 Hội nghị Khoa học

Công nghệ Tuổi trẻ lần thứ 17 Trường Đại học Y Dược TP.Hồ Chí Minh:248-254.

11. Lê Quan Anh Tuấn, Nguyễn Hoàng Bắc (2001) Chụp hình

đường mật trong mổ trong phẫu thuật cắt túi mật nội soi

Y Học TP.Hồ Chí Minh:232-237.

12 Mallery JS, Baron TH, Dominitz JA, et al (2003) Standards

of Practice Committee, American Society for Gastrointestinal Endoscopy Complications of ERCP

13 Metcalfe MS, Ong T, Bruening MH, et al (2004) Is laparoscopic intraoperative cholangiogram a matter of

routine? Am J Surg, 187:475-481

14 Nguyễn Hoàng Bắc, Lê Quan Anh Tuấn (2004) Phẫu thuật

nội soi điều trị sỏi đường mật chính Hội nghị nội soi và

phẫu thuật nội soi:30-33

15 Petelin JB (2002) Surgical management of common bile

duct stones Gastrointest Endosc, 56:S183-189

16 Võ Tấn Đức (2004) Vai trò của siêu âm nội soi ổ bụng

trong chẩn đoán sỏi OMC Hội nghị nội soi và phẫu thuật nội

soi:21-25

17 Yusoff IF, Barkun JS, Barkun AN (2003) Diagnosis and

management of cholecystitis and cholangitis Gastroenterol

Ngày đăng: 20/01/2020, 04:44

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w