1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Đánh giá hiệu quả của huyết thanh tự thân nhỏ trong điều trị bỏng mắt do hóa chất

7 51 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 475,97 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu được tiến hành với mục tiêu nhằm đánh giá hiệu quả của huyết thanh tự thân (HTTT) nhỏ mắt trong quá trình liền vết thương giác mạc sau bỏng hóa chất độ II, III. Nghiên cứu thăm dò 27 mắt của 22 bệnh nhân bỏng mắt do kiềm độ II, độ III. Mời các bạn cùng tham khảo bài viết.

Trang 1

ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CỦA HUYẾT THANH TỰ THÂN

NHỎ TRONG ĐIỀU TRỊ BỎNG MẮT DO HÓA CHẤT

Nguyễn Ngọc Anh * , Vũ Anh Lê **

TÓM TẮT

Mục tiêu: Đánh giá hiệu quả của huyết thanh tự thân (HTTT) nhỏ mắt trong quá trình liền vết thương giác

mạc sau bỏng hóa chất độ II, III

Phương pháp: Nghiên cứu thăm dò: 27 mắt của 22 bệnh nhân bỏng mắt do kiềm độ II, độ III, được chia

ngẫu nhiên thành 2 nhóm: nhóm nhỏ huyết thanh tự thân 14 mắt và nhóm nhỏ sanlein 13 mắt, trong 3 tuần So sánh sự liền biểu mô giác mạc, tỉ lệ bệnh nhân liền biểu mô hoàn toàn, và độ phù giác mạc của 2 nhóm

Kết quả: Tốc độ liền biểu mô của nhóm nhỏ HTTT nhanh hơn nhóm nhỏ sanlein có ý nghĩa thống kê ở thời

điểm ngày thứ 6 (p <0,05) Tỉ lệ liền biểu mô hoàn toàn sau 3 tuần của nhóm nhỏ HTTT là 12/14 của nhóm nhỏ salein là 10/13 Độ phù giác mạc của 2 nhóm không khác biệt trong suốt 3 tuần điều trị

Kết luận: HTTT nhỏ giúp liền biểu mô giác mạc nhanh hơn sanlein trong điều trị phối hợp điều trị bỏng

mắt do hóa chất

Từ khóa: huyết thanh tự thân, bỏng mắt do kiềm

ABSTRACT

THE EFECTS OF AUTOLOGOUS SERUM EYE DROPS ON THE CORNEALWOUND HEALING

ATER CHEMICAL BURN

Nguyen Ngọc Anh, Vu Anh Le

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 15 - Supplement of No 2 - 2011: 110 - 116

Objectives: to evaluate the efects of autologous serum eye drops on the corneal wound healing after chemical

burn

Methods: This is pilot study 27 eyes of 22 patients who had alkali- burned eyes grade II, III, randomizely

selected into 2 groups: 14 eyes treated with autologous serum, 13 eyes dropped salein for 3 weeks Compare the wound healing of corneal epithelium, the rate of complete epithelial healing, and the corneal edema between two groups

Results: The speed of the wound healing of corneal epithelium in autologous serum eye drops is faster than

the speed in salein group at the sixth day of the course After 3 weeks of treating, the rate of complete epithelial healing in autologous serum group and salein group was 12/14 and 10/13 in turn The corneal edema between two groups was not significantly diffrent

Conclusions: Autologous serum eye drops leads to faster healing of corneal epithelium in alkali-burned eye

compare to sanlein drops

Key words: Autologous serum eye drops, alkali-burned eye

ĐẶT VẤN ĐỀ

Bỏng mắt do hóa chất là một trong

những nguyên nhân gây giảm thị lực nghiêm

trọng thường gặp Hàng năm, tại khoa Chấn Thương Bệnh viện Mắt Tp.HCM, tỷ lệ bệnh nhân bị bỏng mắt do tai nạn lao động hoặc

* Trường Đại học Y Khoa Phạm Ngọc Thạch,** Khoa Chấn Thương - Bệnh viện Mắt Tp HCM

Trang 2

sinh hoạt chiếm khoảng 10% Trong số đó,

những biến chứng nặng nề về lâu dài như:

loét nhuyễn giác mạc, khuyết biểu mô dai

dẵng, tróc biểu mô tái phát chiếm tỉ lệ

không nhỏ

Thúc đẩy quá trình biểu mô hóa của bề

mặt nhãn cầu ngay trong những ngày đầu

của bỏng là một trong 3 bước tiếp cận quan

trọng (cùng với thúc đẩy tái tạo nhu mô và

kiểm soát phản ứng viêm) trong điều trị

bỏng mắt Trong các dược chất dùng để thúc

đẩy quá trình biểu mô hóa được nghiên cứu,

fibronectin và yếu tố phát triển ngoại bì

(EGF) đã cho thấy nhiều triển vọng nhất

Về phương diện nghiên cứu cơ bản, đã có

nhiều báo cáo chứng minh EGF và

Fibronectin, vốn có nhiều trong huyết thanh

tự thân (HTTT), có vai trò quan trọng trong

việc thúc đẩy liền biểu mô giác mạc HTTT

nhỏ đã được sử dụng để trị những bệnh lý

khó của bề mặt nhãn cầu(14,15), và cũng mang

lại những thành công có mức độ đối với các

bệnh lý như khuyết biểu mô dai dẵng (bảng

7), hội chứng tróc biểu mô tái phát, khô mắt

khó trị…

Như vậy, ý tưởng dùng fibronectin và các

yếu tố phát triển có trong HTTTđể thúc đẩy

sự liền biểu mô sau bỏng mắt do hóa chất là

một đề nghị hợp lý Hơn nữa, việc sử dụng

huyết thanh tự thân tiêm dưới kết mạc để

điều trị những trường hợp bỏng được áp

dụng từ lâu ở Viện mắt Trung ương và BV

Mắt thành phố HCM nhưng vẫn chưa có báo

cáo nghiên cứu lâm sàng Do vậy, mục tiêu

của nghiên cứu này là đánh giá hiệu quả việc

sử dụng huyết thanh tự thân nhỏ mắt trong

quá trình liền biểu mô giác mạc sau bỏng hóa

chất độ II, III

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Đối tượng

Đây là một nghiên cứu pilot, gồm 27 mắt của 22 bệnh nhân bỏng mắt do hóa chất độ

II, III (bảng 1), điều trị tại khoa Chấn thương, bệnh viện Mắt Tp HCM, từ tháng 5/2009 – 10/2009 Tất cả đều được rửa dẫn lưu bề mặt, rửa tiền phòng sao cho pH đo tại cùng đồ dưới và tiền phòng là 7-7,5 Loại trừ các trường hợp bỏng độ I, độ IV, cũng như những bệnh nhân có một trong các test: HbsAg, Elisa, VDRL, HCV dương tính

Phương pháp nghiên cứu

Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu can thiệp lâm sàng, ngẫu nhiên, có nhóm chứng

Qui trình thực hiện

Bệnh nhân bị bỏng mắt do hoá chất thoả các điều kiện trên sẽ được chọn ngẫu nhiên thành 2 nhóm: Nhóm nhỏ HTTT 14 mắt; nhóm nhỏ sanlein 13 mắt Ngoài ra, các bệnh nhân của 2 nhóm còn được dùng thuốc uống

và nhỏ theo phác đồ điều trị bỏng của khoa Chấn Thương bao gồm: Col Oflovid 0,3% nhỏ 1 giọt x 6 lần/ngày Col Atropin 1% nhỏ

1 giọt x 2 lần/ngày Doxicycline 100mg 1v x 2lần/ngày; VitaminC 1g x 2 lần/ngày; Paracetamol 0,5g 1viên x 3 lần/ngày Pde Tetracylin 1% tra mắt 3 lần/ngày

Bệnh nhân trong nhóm HTTT sẽ được phát mỗi ngày một lọ thuốc nhỏ mắt chứa huyết 1ml thanh tự thân Bệnh nhân được hướng dẫn nhỏ 1 giọt x 10 lần/ngày; sau đó

lọ thuốc sẽ bị hủy, cho đến khi lành biểu mô giác mạc Tất cả sẽ được khám mắt bằng đèn sinh hiển vi để ghi nhận kết quả các biến số nghiên cứu mỗi ngày vào phiếu theo dõi trong 3 tuần Những bệnh nhân không lành biểu mô sau 3 tuần sẽ được ghép màng ối

Bảng 1: Phân độ lâm sàng của bỏng mắt [1-2]

Trang 3

Tổn thương Tiên

lượng

Độ

I

Tổn hại biểu mô, giác mạc trong

Không thiếu máu rìa

Tốt

Độ

II

Đục giác mạc nhưng thấy rõ mống mắt chi tiết

Thiếu máu < 1/3 chu vi rìa

Tốt

Độ

III

Mất hầu hết biểu mô giác mạc, đục không thấy

rõ chi tiết mống

thiếu máu 1/3 – ½ chu vi rìa

Dè dặt

Độ

IV

Giác mạc đục không thấy được mống mắt,

đồng tử

Thiếu máu > ½ chu vi rìa

Xấu

Các biến số nghiên cứu chính: Ngoài các

biến số nền: Tuổi, giới, mắt bị bỏng, loại hóa

chất gây bỏng, thị lực nghiên cứu nầy chủ

yếu đánh giá sự phục hồi biểu mô giác mạc

qua độ phù giác mạc và diện tích khiếm

khuyết biểu mô

Độ Phù giác mạc (theo phân độ Hughes cải

biên

Độ 1: Tổn hại biểu mô, giác mạc trong

Độ 2: Giác mạc mờ vẫn còn thấy những

chi tiết mống mắt

Độ 3: Giác mạc mờ nhiều không thấy

những chi tiết mống mắt

Độ 4: Đục giác mạc trắng đục, không

thấy những chi tiết mống

Diện tích khuyết biểu mô giác mạc (chiều dài

đường kính dọc và ngang)

Diện tích khuyết giác mạc được đo trên

máy sinh hiển vi, thu hẹp khe sáng khoảng

cho vừa đường kính khuyết biểu mô Ghi

nhận số trên núm, nhân với 10 (mm) Đo

đường kính ngang và cao

Tỉ lệ liền biểu mô hoàn toàn = số bệnh liền

biểu mô hoàn toàn/ tổng số nhóm

Cách lấy huyết thanh tự thân

Lấy 20ml máu của bênh nhân đem quay

ly tâm tốc độ 1500rpm trong 5 phút sẽ được

khoảng 10ml huyết thanh Sau đó bơm huyết

thanh vào lọ thuốc nhỏ mắt, mỗi lọ 1ml

huyết thanh Bên ngoài bọc giấy tránh ánh sáng mặt trời và dán tên tuổi bệnh nhân Tất

cả được tiến hành trong điều kiện vô trùng

24 giờ

Phương pháp thống kê

Biến số định lượng được trình bày bằng

số trung bình  độ lệch chuẩn Biến số định tính được trình bày bằng tỷ lệ % và khoảng tin cậy 95% Các test chi bình phương, Fisher,s Exact test, t test được dùng để so sánh các tỉ lệ, các số trung bình Mức p < 0,05 được coi là khác biệt có ý nghĩa thống kê Tất

cả các thuật toán trên được thực hiện với

phần mềm SPSS for Window 13.5

KẾT QUẢ Đặc điểm của 2 nhóm trước điều trị

Nghiên cứu pilot nầy gồm 27 mắt của 22 bệnh nhân, chủ yếu là nam giới (87%), tuổi trung bình là 37,08 ± 12,38 bị bỏng kiềm độ

II, III, được chia ngẫu nhiên làm 2 nhóm: nhóm dùng HTTT nhỏ và nhóm dùng salein Đặc điểm lâm sàng trước điều trị được mô tả trong bảng 2

Bảng 2: So sánh đặc điểm trước điều trị của nhóm

HTTT nhỏ và nhóm sanlein

Biến số

Nhóm HTTT

n = 14

Nhóm nhỏ sanlein

n = 13

P

Tuổi (Trb ± Đlc) 38,42

±13,12

35,75 ± 11,99

0,61 (t test) Giới (% nam ) 8, (72,7%) 12 (100%)

Thị lực (n, %>1/10) 3, (21,3%) 2, (15,4%) Kh.BM.dài

(mm, Trb± Đlc)

7,86 ± 2,47 8,00 ± 2,12 0,87

(t test) Kh.BM ngắn

(mm, Trb± Đlc)

6,36 ± 2,52 7,07 ± 2,43 0,45

(t test) Tổn thương rìa

(n; % > 1/3 rìa)

2 (14,3%) 2, (15,4%) 0,67

Fisher,s test Tổn thương kết

mạc (% > 1/3 rìa)

4, (28,6%) 3, (23,1%) 0,55

Fisher, s test

Độ trong giác mạc:

Trang 4

Biến số

Nhóm HTTT

n = 14

Nhóm nhỏ sanlein

n = 13

P

n, (%)

Độ I

Độ II

Độ III

5, (35,7 %)

5, (35,7 %)

4, (28,6 %)

5, (38,5%)

5, (38,5%)

3, (23,1%)

0,95 (2 test)

Nhận xét:

Tuổi trung bình của nhóm nhỏ HTTT là

38,42, không khác biệt so với nhóm nhỏ

sanlein 35,75 tuổi (p = 0,61)

Những đặc điểm tổn thương trước điều

trị của 2 nhóm điều không khác biệt có ý

nghĩa như: chiều ngang khuyết biểu mô (p =

0,87), chiều dọc của khuyết biểu mô (p =

0,45), độ mờ đục của nhu mô (p = 0,95), chu

vi rìa bị tổn thương (p = 0,67), diện tích kết

mạc tổn thương cạnh rìa (p = 0,55)

So sánh kết quả điều trị của 2 nhóm

Tốc độ liền biểu mô giác mạc theo chiều dọc

Tốc độ liền biểu mô giác mạc theo chiều

dọc được tóm tắt trong bảng 3

Bảng 3: tiến triển liền biểu mô của nhóm nhỏ HTTT

và nhóm nhỏ sanlein (chiều dọc)

Ngày

Nhóm

thứ

0 3 6 9 12 15 18 21

HTTT n 14 14 14 6 5 4 4 2

Kh,b,m

(mm)

7,8 ±

2,4

5,9 ± 2,6

3,5 ± 2,3

4 ± 1,7

4,2 ± 1,6

3,7 ± 1,5

2,2 ± 1,5 4,0 Sanlein n 13 13 13 10 9 9 9 3

Kh,b,m

(mm)

8 ±

2,1

7 ± 2,2

5,6 ± 2,7

5,4

± 2

4,4 ± 2,2

4,1 ± 2,3

3,2 ± 2,8

5,6

± 3

p (t test) 0,87 0,28 0,048 0,19 0,83 0,78 0,48 0,53

7.8

5.9

3.5

4 4.2

3.7

2.2 4

8

7

5.6 5.4

4.4 4.1 3.2 5.6

0

1

2

3

4

5

6

7

8

9

Ngày

i ể

HTTT SALEIN

Biểu đồ 1: Tốc độ liền biểu mô của 2 nhóm theo chiều dọc

Nhận xét: Trong suốt 3 tuần điều trị, tốc

độ liền biểu mô trung bình của nhóm nhỏ HTTT nhanh hơn (có chiều dài biểu mô khuyết ngắn hơn) nhóm nhỏ sanlein, tuy nhiên sự khác biệt nầy chỉ có ý nghĩa thống

kê ở thời điểm ngày thứ 6 (p = 0,048)

Tốc độ liền biểu mô theo chiều ngang: Được tóm tắt trong bảng 4

Bảng 4: Tốc độ liền biểu mô của nhóm nhỏ HTTT và

nhóm nhỏ sanlein (chiều ngang)

Ngày Nhóm thứ

0 3 6 9 12 15 18 21

HTTT n 14 14 11 5 5 4 3 2 Kh,b,

m

(m m)

6,3 ± 2,5

4,7 ± 2,5

3,3 ± 2,1

3,8 ± 1,6

2,6 ± 1,5

2,7 ± 1,7

2,0 ±

1

2,5 ± 0,7 sanlei

n

n 13 13 11 10 9 9 4 3 Kh,b,

m

(m m)

7,0 ± 2,4

6,0 ± 2,0

5,2 ± 2,1

4,1 ± 1,5

3,6 ± 1,8

2,6 ± 1,8

3,5 ± 2,3

3,6 ± 2,5

p (t test) 0,45 0,15 0,045 0,74 0,28 0,93 0,36 0,58

6.3

4.7

3.3 3.8 2.6 2.7

2 2.5

7 6 5.2 4.1 3.6 2.6 3.5 3.6

0 1 2 3 4 5 6 7 8

Ngày

HTTT SANLEIN

Biểu đồ 2: Tốc độ liền biểu mô của 2 nhóm theo chiều

ngang

Nhận xét: Trong suốt 3 tuần điều trị, tốc

độ liền biểu mô trung bình của nhóm nhỏ HTTT nhanh hơn (có chiều ngang biểu mô khuyết ngắn hơn) nhóm nhỏ sanlein, tuy nhiên sự khác biệt này chỉ có ý nghĩa thống

kê ở thời điểm ngày thứ 6 (p = 0,045)

Tỉ lệ liền biểu mô của 2 nhóm

Tỉ lệ liền biểu mô được tính bằng tỉ số giữa số bệnh liền biểu mô hoàn toàn trên tổng số bệnh của nhóm tại một thời điểm Theo đó, tỉ lệ liền biểu mô của 2 nhóm được trình bày qua bảng 5 và biểu đồ 3

Trang 5

0.57 0.64

0.71

0.786 0.857

0

0.23 0.307 0.307

0.69

0.769

1

0

0.2

0.4

0.6

0.8

1

1.2

Thời gian (ngày)

l ệ

i ể

HTTT SA NLEI N Series3

Biểu đồ 3: Tỉ lệ liền biểu mô hoàn toàn của 2 nhóm

theo thời gian

Bảng 5: Tỉ lệ liền biểu mô hoàn toàn của 2 nhóm theo

thời gian

Ngày

Nhóm

thứ

6 9 12 15 18 21

Liền

HTTT

Tổng 0/14 8/14 9/14 10/14 11/14 12/14

Liền

sanlein

Tổng 0/13 3/13 4/13 4/13 9/13 10/13

Nhận xét:

Tỉ lệ liền biểu mô hoàn toàn của nhóm

HTTT nhỏ nhanh hơn so với nhóm dùng

sanlein trong 3 tuần đầu Sau 3 tuần, nhóm

salein còn 3 bệnh, nhóm nhỏ HTTT còn 2

bệnh biểu mô chưa liền phải tiến hành ghép

màng ối

So sánh độ phù giác mạc của 2 nhóm theo thời

gian

Được tóm tắt trong bảng 6 Theo đó

không có sự khác biệt về độ phù giác mạc

giữa 2 nhóm ở các thời điểm ngày thứ 7, thứ

14 và thứ 21 sau điều trị (p>0,05)

Bảng 6 Độ phù giác mạc của 2 nhóm theo thời gian

Ngày thứ Nhóm

0 7 14 21

Nhóm HTTT (n =14)

% phù GM độ II, III

64,3 57,1 14,3 7,1

Nhóm Sanlein (n = 13)%

phù GM độ II, III

61,5 46,2 15,4 14,4

2 (test) 0,95 0,76 0,93 0,59

Hình 1: Hình minh họa tiến triển điều trị của 2

nhóm

BÀN LUẬN

Sự tương đương của 2 nhóm về mặt lâm sàng

Sự hồi phục sau bỏng hóa chất, chủ yếu phụ thuộc vào độ rộng và độ thấm sâu vào nhãn cầu của tác nhân gây bỏng

Về tổn thương ở bề mặt nhãn cầu, vai trò của tế bào mầm ở vùng rìa và biểu mô kết mạc cận kề rìa là hết sức quan trọng Đối với bỏng độ II, trong 3 tuần đầu nếu không điều trị thích hợp, có thể có sự chậm tái biểu mô hóa giác mạc Với bỏng độ III, có thể có khiếm khuyết biểu mô dai dẵng, tróc biểu

mô tái phát

Về độ thấm sâu của hóa chất, tùy thuộc mức độ tổn thương nhu mô (đánh giá qua độ đục giác mạc), độ pH trong tiền phòng, cũng như những biến chứng khác thêm vào mà đánh giá độ nặng của bỏng

Trong nghiên cứu này chúng tôi phân loại

2 nhóm một cách ngẫu nhiên dựa vào các tiêu chí trên để đánh giá độ nặng của bỏng Bảng 2 cho thấy các đặc điểm lâm sàng trước khi điều trị của 2 nhóm là tương đồng Trong quá trình điều trị, hai nhóm chỉ khác nhau ở việc dùng HTTT nhỏ hay là sanlein nhỏ Để loại trừ bớt các yếu tố làm nặng thêm bệnh nhất là độ thấm của hóa chất, tất cả các trường hợp điều được dẫn lưu mắt bằng

Trang 6

dung dịch ringer lactat hoặc rửa tiền phòng

cho đến khi pH trở về bình thường Trong

quá trình điều trị, không có ca nào của 2

nhóm bị tăng áp, bội nhiễm vốn có thể góp

phần vào việc chậm liền biểu mô hóa, và do

đó làm sai lệch kết quả nghiên cứu

Hiệu quả của HTTT nhỏ trong quá trình

tái biểu mô hóa giác mạc sau bỏng hóa chất

Hiệu quả của HTTT nhỏ trong quá trình

tái biểu mô hóa giác mạc sau bỏng hóa chất

(kiềm) được chứng minh trong nghiên cứu

này qua so sánh tốc độ liền biểu mô giác

mạc, tỉ lệ liền biểu mô hoàn toàn theo thời

gian, và độ trong giác mạc của nhóm dùng

HTTT nhỏ với nhóm dùng sanlein nhỏ

Về tốc độ liền biểu mô giác mạc theo cả

chiều dọc và ngang, bảng 3, bảng 4, và biểu

đồ 1, biểu đồ 2 cho thấy: Trong suốt 3 tuần

điều trị, tốc độ liền biểu mô trung bình của

nhóm nhỏ HTTT nhanh hơn nhóm nhỏ

sanlein, tuy nhiên sự khác biệt nầy chỉ có ý

nghĩa thống kê ở thời điểm ngày thứ 6 (p =

0,045)

Về tỉ lệ liền biểu mô của 2 nhóm, bảng 5

và biểu đồ 3 cho thấy nhóm HTTT nhỏ có tỉ

lệ liền biểu mô cao hơn với một tốc độ nhanh

hơn Ở ngày thứ 9 của quá trình điều trị,

nhóm HTTT nhỏ có 57% bệnh nhân liền biểu

mô hoàn toàn, nhóm dùng sanlein chỉ có 23%

bệnh nhân liền Ở ngày thứ 21, tỉ lệ nầy lần

lượt là 12/14 (85%) và 10/13 (76%)

Về độ phù giác mạc, bảng 6 cho thấy:

trong suốt quá trình điều trị, không có sự

khác biệt của 2 nhóm về sự cải thiện độ phù

giác mạc Có thể HTTT không ưu thế hơn

Sanlein trong việc tái tạo nhu mô trong điều

trị bỏng hóa chất

KẾT LUẬN

Tóm lại, dù chỉ mới là kết quả ban đầu với một cỡ mẫu pilot nhỏ, nhưng nghiên cứu

đã cho thấy dùng HTTT nhỏ có hiệu quả hơn dùng sanlein trong điều trị bỏng hóa chất độ

II, độ III về tốc độ và tỉ lệ liền biểu mô giác mạc Nghiên cứu đang được thực hiện tiếp tục với cỡ mẫu thích hợp, lớn hơn, lúc đó, huy vọng những kết luận rút ra sẽ có độ tin cậy lớn hơn

TÀI LIỆU THAM KHẢO

enhancement of corneal epithelial wound healing of rabbits in

vivo Arch Ophthalmol 102, pp 455–456

from fibronectin cell-binding domain inhibits attachment of

epithelial cells Invest Ophthalmol Vis Sci 29, pp 1820–1825

rabbit corneal wounds Lab Invest 45: 1120–1129, 198

epidermal growth factor on epithelial cells and keratocytes

during wound healing of alkali-burned cornea Invest Ophthalmol

Vis Sci 31, p 225 (Suppl)

enhancement of corneal epithelial wound healing of rabbits in

vivo Arch Ophthalmol 102, pp 455–456

fibronectin in the treatment of persistent corneal epithelial

defects and trophic ulcers Am J Ophthalmol 104, pp 494–501

an alkali burn model of corneal ulceration in rabbits Arch

Ophthalmol 109, pp 414–419

in alkali burns of the rabbit cornea Cornea 4, pp 169–173

in alkali-burned rabbit cornea: enhancement of epithelial wound

healing Invest Ophthalmol Vis Sci 26, p 92 (Suppl)

growth factor in severe experimental alkali burns Ophthalmic

Res 20, pp 327–331

alkaliburned corneal epithelial wound healing Am J Ophthalmol

103 (1987), pp 802–807

growth factor in severe experimental alkali burns Ophthalmic

Res 20, pp 327–331

and corneal epithelium Cornea 7, pp 96–101

eye drops for ocular surface disorders Br J Ophthalmol 88:

1467-1474

Ocular Surface Disorders in T Reinhard, D.F.P Larkin Cornea and External Eye Disease Springer-Verlag Berlin Heidelberg

Trang 7

16 Tsubota K, Goto E, Fujita H, et al (1999): Treatment of dry eye

by autologous serum application in Sjo¨gren’s syndrome Br J

Ophthalmol;83:390–5

eyedrops for dry eyes and epithelial defects: clinical and in vitro

toxicity studies Br J Ophthalmol ;85:1188–97

corneal epithelial Evaluation of umbilical cord Br J Ophthalmol

87: 1312-1316

serum tears in persistent corneal epithelial defects Eye 18, 609–

614

eye drops for the treatment of persistent corneal epithelial defect Eye 23(2) 290 – 293

Ngày đăng: 20/01/2020, 04:38

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w