1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Nghiên cứu phân bố polyp tuyến đại - trực tràng theo vị trí và kích thước của polyp

7 92 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 210,3 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu được thực hiện với mục tiêu nhằm phân tích đặc điểm mô bệnh học của polyp tuyến đại - trực tràng theo vị trí và kích thước của polyp nhằm đề xuất cách xử trí polyp đơn giản. Nghiên cứu tiền cứu, mô tả cắt ngang tiến hành trên các bệnh nhân đến nội soi đại tràng và được cắt polyp qua nội soi tại bệnh viện Đại Học Y Dược từ 11/2006-06/2007.

Trang 1

NGHIÊN CỨU PHÂN BỐ POLYP TUYẾN ĐẠI – TRỰC TRÀNG

THEO VỊ TRÍ VÀ KÍCH THƯỚC CỦA POLYP

Quách Trọng Đức*, Nguyễn Thúy Oanh**

TÓM TắT

Mục tiêu: Phân tích đặc điểm mô bệnh học của polyp tuyến đại – trực tràng theo vị trí và kích thước

của polyp nhằm đề xuất cách xử trí polyp đơn giản

Phương pháp: Nghiên cứu tiền cứu, mô tả cắt ngang tiến hành trên các bệnh nhân đến nội soi đại

tràng và được cắt polyp qua nội soi tại bệnh viện Đại Học Y Dược từ 11/2006 – 06/2007 Ghi nhận đặc điểm tuổi, giới, đặc điểm nội soi, mô bệnh học và biến chứng khi cắt polyp qua nội soi Sử dụng phần mềm SPSS 13.0 để quản lý dữ liệu Sử dụng các phép đếm tần suất để mô tả các tỉ lệ, trung bình và phân tích phương sai một yếu tố để so sánh tuổi giữa các nhóm bệnh nhân có polyp tuyến, polyp tuyến có nguy cơ cao (polyp

có thành phần tuyến nhung mao hoặc tuyến ống kèm nghịch sản) với các polyp khác

Kết quả: Polyp tuyến thường gặp ở lứa tuổi 58 ± 16 cao hơn tuổi của bệnh nhân có polyp có bản chất không phải mô tân sinh (non-neoplastic polyp) là 34 ± 16 (p < 0,0001) Polyp tuyến chiếm đa số ở mọi phân nhóm theo kích thước polyp với tỉ lệ chung là 87,2% (136/156) Polyp tuyến nguy cơ cao có tỉ lệ tăng dần theo kích thước: tỉ lệ tương ứng với kích thước 5mm, 6-10mm, 11-20mm và > 20mm lần lược là: 7%, 26,2%, 85,2% và 87,5% Có 2,8% (4/156) trường hợp polyp ung thư hóa Các polyp ở người trên 50 tuổi, gặp ở đoạn đại tràng gần (ngoài trực tràng – đại tràng chậu hông) đều là polyp tuyến trong khi các polyp có

bản chất không phải mô tân sinh chỉ gặp ở vùng trực tràng – đại tràng chậu hông

Kết luận: Phân tích phân bố theo vị trí và kích thước của polyp tuyến góp phần cung cấp những thông

tin giá trị giúp hướng dẫn thái độ tiếp cận xử trí polyp qua nội soi

SUMMARY

THE DISTRIBUTION OF COLORECTAL ADENOMAS ACCORDING TO THEIR SIZES AND

LOCATIONS

Quach Trong Duc, Nguyen Thuy Oanh* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 11 - No 4 - 2007: 242 - 247

Aim: Analyze the distribution of colorectal adenomas according to their sizes and locations

Methods: A prespective, cross-sectional study was conducted at the University Medical Center on

patients who underwent colonoscopy with polypectomy from November 2006 to June 2007 Age, sex, endoscopic and histopathologic characteristics, and complications of polypectomy were recorded

Results: The mean age of patients with colorectal adenoma was 58 ± 16, significantly higher than that of patients with non-neoplastic polyps Adenoma made up 87.2% in our study sample and had the highest percentage

in all size ranges The rates of high risk adenomas (adenoma with villous component or with dysplasia) were 7%, 26.2%, 85.2% and 87.5% in polyps with diameter 5mm, 6-10mm, 11-20mm and > 20mm, respectively There were 4 patients (2.8%) with malignant polyps All polyps in the proximal colon and in patients who is older than 50 are adenomas Non-neoplastic polyps were only found in sigmoid-rectal region

Conclusion: Analyze the distribution of colorectal adenomas according to their sizes and locations

provides useful information for endoscopic management strategy

* Bộ môn Nội - Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh ** Bộ môn Ngoại - Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh

Trang 2

ĐẶT VẤN ĐỀ

Mối liên quan giữa polyp tuyến và ung thư

đại – trực tràng đã được khẳng định chắc chắn

Cắt polyp tuyến qua nội soi đã chứng minh hiệu

quả làm giảm đến 90% tỉ lệ bệnh mới mắc ung

thư đại – trực tràng(11) Do hầu hết ung thư đại –

trực tràng đều xuất phát từ polyp tuyến và cũng

vì polyp tuyến và ung thư đại – trực tràng ở giai

đoạn sớm thường không có triệu chứng(7), cần

phải có chương trình tầm soát để mới có thể

phòng và phát hiện được bệnh ở giai đoạn sớm

Chiến lược tầm soát được chứng minh là hiệu

quả và được ưu tiên chọn lựa hàng đầu hiện nay

là nội soi đại tràng mỗi 10 năm(1) Chính vì vậy

nhu cầu nội soi đại tràng sẽ tăng lên Những

phương tiện máy móc ngày càng hiện đại như nội

soi phóng đại (magnifying endoscopy), nội soi

băng tần hẹp (Narrow band imaging system) và

nội soi tiêu điểm (confocal endoscopy) … giúp

nhận biết đặc điểm mô học của tổn thương trong

khi soi dựa trên dạng hốc tuyến Tuy nhiên, các

phương tiện này không phổ biến và khá đắt tiền

nên không thể áp dụng rộng rãi cho một chương

trình tầm soát trong cộng đồng Cách tiếp cận và

nhận định sơ bộ về bản chất mô bệnh học của

polyp dựa trên đặc điểm nội soi khá cách đơn

giản, không cần máy móc đặc biệt nên có thể áp

dụng một cách rộng rãi Các nghiên cứu trong

nước trước đây đã bàn nhiều về đặc điểm của các

polyp có nhiều khả năng ung thư như cuống dày,

bề mặt loét, kích thước lớn, biến chứng trong thủ

thuật cắt polyp đại tràng nhưng chưa phân tích

về đặc điểm mô bệnh học của polyp tuyến trong

mối tương quan với vị trí và kích thước của

polyp Trong nghiên cứu này chúng tôi tập trung

nghiên cứu mối tương quan nêu trên

ĐốI TƯợNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CứU

Đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu tiền cứu, mô tả cắt ngang được

tiến hành trên các bệnh nhân đến khám và

được chỉ định nội soi đại tràng tại Bệnh viện

Đại Học Y Dược TP Hồ Chí Minh từ tháng

11/2006 đến tháng 05/2007 và được tiến hành cắt polyp qua nội soi

Cách tiến hành

Trên tường trình nội soi nêu đầy đủ về chỉ định nội soi, tuổi và giới tính của bệnh nhân; ghi nhận chi tiết về vị trí, kích thước, số lượng

và dạng cuống của polyp Kích thước của polyp được ước đoán bằng cách mở hết mức kềm sinh thiết có độ mở 8mm Polyp được cắt với thòng lọng điện hoặc kềm sinh thiết nóng

Sử dụng máy đốt Olympus PSD 10 với dòng điện cắt – đốt, cài đặt cường độ ở mức 2-3 Polyp sau khi cắt sẽ được cố định trong Formol 10% Kết quả giải phẫu bệnh được đọc tại Bộ Môn Giải Phẫu Bệnh, Khoa Y, Đại Học Y Dược TP Hồ Chí Minh

Phân tích và xử lý thống kê

Dữ liệu được mã hóa, lưu trữ và xử lý dựa trên phần mềm SPSS (phiên bản13.0, SPSS Inc, Chicago, Ill) Sử dụng các phép đếm tần suất

để mô tả các tỉ lệ, trung bình Sử dụng phương pháp phân tích phương sai ANOVA một yếu

tố để so sánh tuổi giữa các nhóm bệnh nhân có polyp tuyến và các polyp khác Sự khác biệt được xem là có ý nghĩa thống kê khi p < 0,05 (kiểm 2 bên)

KẾT QUẢ

- Từ tháng 11/2006 đến tháng 05/2007 có

150 bệnh nhân được phát hiện polyp đại – trực tràng qua nội soi đại tràng và được cắt qua nội soi Biểu hiện lâm sàng thường gặp nhất là đau bụng dọc khung đại tràng, tiêu ra máu, táo bón mạn tính, tiêu chảy mạn tính và hội chứng ruột kích thích

- Tổng cộng có 335 polyp được cắt qua nội soi với 156 polyp được gởi xét nghiệm mô bệnh học Có 1 trường hợp gặp tai biến xuất huyết sớm dạng động mạch mức độ nặng khi cắt 1 polyp cuống dài với kích thước khoảng 1,5cm, cần can thiệp bằng phẫu thuật nội soi cấp cứu; 1 trường hợp thủng bít không có biểu hiện bụng cấp trên lâm sàng gặp ở 1 polyp không cuống có chân rộng, đường kính 2,5cm , được xác định

Trang 3

trong phẫu thuật để điều trị tận gốc do kết quả

mô bệnh học là ung thư xâm lấn Không có

trường hợp nào tử vong

- Tuổi trung bình của bệnh nhân trong

nhóm nghiên cứu là 53 ± 18 với tỉ lệ nam: nữ là

1,3:1 Tuổi trung bình của nhóm bệnh nhân có

polyp tuyến là 55 ± 17 cao hơn nhóm bệnh

nhân bị các polyp có bản chất không phải mô

tân sinh (nonneoplastic polyp) là 34 ± 17 (p <

0,0001) Tuổi trung bình của nhóm bệnh nhân

có polyp có thành phần tuyến nhung mao hoặc

polyp tuyến ống có kèm nghịch sản là 56 ± 16

với độ tuổi nhỏ nhất là 24 (biểu đồ 1)

Đặc điểm nội soi và mô bệnh học

- Có 36,5% trường hợp có nhiều hơn 1

polyp và 76,3% các trường hợp có kích thước

polyp nhỏ hơn hoặc bằng 10mm (bảng 1)

- Tất cả các polyp ở manh tràng đến đại

tràng xuống đều có bản chất là polyp tuyến

Các polyp không có bản chất mô tân sinh

trong nghiên cứu này chỉ gặp ở đoạn trực

tràng và đại tràng chậu hông nhưng cũng với

tỉ lệ khá thấp: 16/116 trường hợp (biểu đồ 2)

- Đại đa số các polyp có bản chất mô bệnh

học là polyp tuyến và có 4 trường hợp là polyp

ung thư hóa (bảng 2)

- Tỉ lệ polyp tuyến: đều chiếm đa số trong

các mức độ kích thước Tỉ lệ này tăng dần theo

kích thước polyp và đạt 100% ở các polyp có

kích thước ≥ 2cm (biểu đồ 3)

Biểu đồ 1: Phân bố tuổi của bệnh nhân bị polyp đại

– trực tràng:

- Tỉ lệ nghịch sản cũng tăng dần theo thành phần tuyến nhung mao của polyp: 22/106 trường hợp polyp tuyến ống, 11/19 trường hợp polyp tuyến ống – nhung mao và 9/11 trường hợp polyp tuyến nhung mao (p<0,001)

Bảng 1: Đặc điểm nội soi của polyp đại – trực tràng

N (%)

S ố l ượ ng polyp ở m ỗ i

tr ườ ng h ợ p:

≥ 10 7 (4,5)

≤ 5mm 55 (35,3)

6 – 10 mm 64 (41)

11 – 20 mm 27 (17,3) Kích th ướ c polyp

> 20 mm 09 (5,8)

Có cu ố ng 66 (42,3)

Cu ố ng polyp

Không cu ố ng 90 (57,7)

Tr ự c tràng 66 (42,4)

Đạ i tràng ch ậ u hông

40 ((25,6)

Đạ i tràng xu ố ng 9 (5,8)

Đạ i tràng ngang 18 (11,5)

Đạ i tràng lên 20 (12,8)

V ị trí c ủ a polyp g ở i làm th ử nghi ệ m mô

b nh h ọ c

Manh tràng 3 (1,9)

Bảng 2: Đặc điểm mô bệnh học của polyp đại –

trực tràng

Đặ c ñ i ể m mô b ệ nh h ọ c c ủ a polyp N %

Polyp tuy ế n ố ng

- Ngh ị ch s ả n nh ẹ

- Ngh ị ch s ả n v ừ a

- Ngh ị ch s ả n n ặ ng

106

7

13

2 (67.9)

Polyp tuy ế n ố ng nhung mao

- Ngh ị ch s ả n nh ẹ

- Ngh ị ch s ả n v ừ a

- Ngh ị ch s ả n n ặ ng

19

2

9

0 (12.2)

Polyp tuy ế n nhung mao

- Ngh ị ch s ả n nh ẹ

- Ngh ị ch s ả n v ừ a

- Ngh ị ch s ả n n ặ ng

11

1

4

4

(7.1)

Polyp t ă ng s ả n 12 (7.7)

Polyp khác Polyp tuy ế n ngh ị ch

s ả n / polyp tuy ế n nhung mao

Polyp tuy ế n không

ngh ị ch s ả n và không

có thành ph ầ n tuy ế n

nhung mao

100

80

60

40

20

0

Trang 4

0% 20% 40% 60% 80% 100

%

tr ự c tràng

Đ T ch ậ u

hông

Đ T ñ o ạ n

g ầ n

Polyp khác Polyp tuy ế n Ung th ư

Biểu đồ 2: Phân bố theo vị trí của polyp tuyến đại

– trực tràng

0% 20% 40% 60% 80% 100

%

tr ự c tràng

Đ T ch ậ u

hông

Đ T ñ o ạ n

g ầ n

Polyp khác Polyp tuy ế n Ung th ư

Biểu đồ 3: Tỉ lệ của polyp tuyến đại – trực tràng

theo kích thước polyp

< =5

6 10

11 20

> 20

Biểu đồ 4: Phân bố polyp tuyến nhung mao / kèm

nghịch sản theo kích thước polyp

BÀN LUẬN

Ung thư đại – trực tràng cũng là một

ung thư rất thường gặp ở nước ta, đứng

hàng thứ 4 ở nam giới và thứ 5 ở nữ

giới(4) Tần suất bệnh mới tại Việt Nam cũng

như các nước châu Á trong thời gian gần đây

đang có chiều hướng gia tăng nhanh Nghiên cứu này cho thấy lứa tuổi bệnh nhân

có thể phát hiện polyp tuyến là 58 (42-74), (khoảng tin cậy 95%), riêng đối với các trường hợp polyp tuyến ống có kèm nghịch sản hoặc polyp tuyến nhung mao là thì lứa tuổi vào khoảng 58 (44 – 72), (khoảng tin cậy là 95%)

Do chưa có trị số tham khảo để tiến hành tầm soát ung thư đại – trực tràng trong cộng đồng, trị số này có thể tạm xem là một chỉ dẫn lâm sàng để từ đó tiến hành một nghiên cứu tầm soát ung thư đại trực tràng trong cộng đồng không có triệu chứng ở đối tượng từ 42 - 44 trở lên, có chú ý đến tiền căn bản thân / gia đình bị ung thư và polyp tuyến đại – trực tràng để lập chế độ theo dõi riêng ở nhóm này Nghiên cứu tầm soát này cần phải tiến hành với cỡ mẫu lớn nhằm thu hẹp khoảng tuổi tin cậy, từ đó giúp đưa ra hướng dẫn tầm soát bệnh ở thực

tế Việt Nam Những điểm cần lưu ý khi sử dụng mốc tuổi được đề xuất trong nghiên cứu này vào thực hành lâm sàng là: (i) nghiên cứu này tiến hành dựa trên những người có triệu chứng lâm sàng chứ không phải trên cộng đồng gồm những người không có triệu chứng của đường tiêu hóa dưới (ii) yếu tố tiền căn ung thư gia đình chưa được khai thác chi tiết trong các bệnh nhân trong lô nghiên cứu nên chưa lọc riêng ra những đối tượng có thể bị các hội chứng liên quan đến ung thư đại – trực tràng di truyền như hội chứng đa polyp tuyến gia đình (FAP) hay ung thư đại – trực tràng di truyền không kèm đa polyp (NPHCC)

Tỉ lệ polyp tuyến trong nghiên cứu này chiếm 89,8% Tỉ lệ này là 80% trên 322 trường hợp được phát hiện tại bệnh viện Bạch Mai, 60% trên 55 trường hợp phát hiện tại bệnh viện Đại Học Y Huế và 86,8% trên 226 trường hợp phát hiện tại bệnh viện Bình Dân và bệnh viện Đại Học Y Dược(2,5,9) Như vậy nhìn chung polyp tuyến là dạng thường gặp nhất qua nội soi đại tràng ở nước ta Chúng tôi có 2 trường hợp biến chứng cắt polyp trong số 335 lần xử lý polyp đại – trực tràng qua nội soi Tỉ lệ này cũng nằm trong giới

Trang 5

hạn cho phép theo y văn là 1,3% Kết quả

nghiên cứu cho thấy thủ thuật cắt polyp qua nội

soi khá an toàn đối với polyp < 10mm, 2 trường

hợp tai biến đều xảy ra ở các polyp có kích thước

> 15mm

1/3 số trường hợp bệnh nhân của chúng tôi có

nhiều hơn 1 polyp trên nội soi Do đó khi nội soi

đại tràng và phát hiện được polyp cần chú ý kiểm

tra sự hiện diện của polyp phối hợp hoặc đề nghị

bệnh nhân nội soi lại để tìm tổn thương phối hợp

trong những trường hợp không thể khảo sát toàn

bộ khung đại tràng do khó khăn về kỹ thuật hoặc

do khâu chuẩn bị đại tràng chưa tốt Điểm lý thú

của nghiên cứu này là cho thấy polyp tuyến có

một số phân bố đặc biệt theo tuổi, vị trí và kích

thước so với các polyp có bản chất không phải mô

tân sinh: tuổi của người bị polyp tuyến cao hơn

hẳn có ý nghĩa thống kê so với các polyp có bản

chất không phải mô tân sinh (non-neoplastic

polyp) Ở lứa tuổi trên 50 thì khi bắt gặp polyp

trên nội soi thì khả năng gặp polyp tuyến là 100%

(với độ tin cậy 95%) Về phân bố theo vị trí thì các

polyp tuyến cũng chiếm đa số ở bất kỳ vị trí nào

trên khung đại tràng và ở tất cả các phân nhóm

theo kích thước, trong khi các polyp có bản chất

không phải mô tân sinh chỉ gặp ở trực tràng – đại

tràng chậu hông và thường có kích thước nhỏ Vì

vậy khi gặp một polyp ở đại tràng đoạn gần thì có

thể gần như chắc chắn rằng đây là polyp tuyến

Trong nghiên cứu này chúng tôi gặp 4 trường

hợp polyp ung thư hóa với kích thước từ trong

nhóm > 5-20mm (2,6%) Theo y văn thì các polyp

tuyến có kích thước càng lớn thì tỉ lệ ung thư hóa

càng cao Kết quả của nghiên cứu của chúng tôi

có sự khác biệt: không có trường hợp ung thư

phát hiện trong nhóm này là do phần lớn các tổn

thương > 20mm tại bệnh viện chúng tôi thường

được mô tả ở dạng u sùi có những đặc điểm nghi

ngờ ung thư hóa và được chẩn đoán nội soi là

ung thư Chúng tôi chưa ghi nhận được trường

hợp polyp ung thư hóa nào có kích thước ≤ 5mm

Y văn trong nước và thế giới đều khá thống nhất

ở thái độ cần xử trí ngay các polyp có kích thước

>5mm do nhiều khả năng là polyp tuyến và một

số trường hợp đã có thể chuyển thành ung thư như 4 trường hợp chúng tôi đã gặp trong nghiên cứu này Tuy vậy, thái độ xử trí các polyp dưới 5mm còn chưa thống nhất Tại Nhật cũng có 2 trường phái: một đề xuất xử trí ngay, trường phái còn lại đề xuất nội soi kiểm tra lại sau 4-5 năm(6) Yếu tố ủng hộ cho quan điểm của trường phái không xử trí ngay mà nên theo dõi là do nghiên cứu tiền cứu cho thấy cần phải mất trung bình 10 năm để 1 polyp tuyến có kích thước nhỏ hơn 10mm phát triển thành ung thư xâm lấn Tuy nhiên với tình hình thực tế ở nước ta, quan điểm của chúng tôi là xử trí ngay những trường hợp này vì những lý do như sau: (i) nghiên cứu này cho thấy trên 85% các trường hợp này là polyp tuyến (ii) vẫn có một tỉ lệ khoảng 7% đã có kèm nghịch sản (iii) việc phát hiện lại những polyp nhỏ như vậy là rất khó khăn và dễ bỏ sót trong lần nội soi kiểm tra sau (iv) việc tuân thủ nội soi kiểm tra của bệnh nhân trên thực tế khó đảm bảo

và (v) các polyp có kích thước này có thể xử trí an toàn và dễ dàng bằng kềm sinh thiết nóng / hoặc thòng lọng điện loại nhỏ mà không cần làm thử nghiệm đông cầm máu trước đó trừ trường hợp bệnh có uống thuốc kháng đông, trong nghiên cứu này chúng tôi không có trường hợp tai biến nào ở nhóm bệnh nhân này Trên thực tế khi phát hiện polyp với kích thước này trên đường vào, chúng tôi thường xử trí ngay vì việc tìm lại khi soi đến manh tràng và đi ra gặp rất khó khăn và tốn nhiều thời gian Chúng tôi cho rằng polyp nhỏ ở trực tràng có thể là một ngoại lệ vì polyp ở vị trí này dễ tìm lại và ở vị trí này cũng có thể gặp polyp không có bản chất là mô tân sinh

KếT LUậN

Polyp tuyến đại – trực tràng chiếm 87,2% các trường hợp polyp, thường gặp ở lứa tuổi lớn hơn các polyp không có bản chất là mô tân sinh, chiếm

tỉ lệ gần 100% những trường hợp polyp gặp ở người trên 50 tuổi và ở đoạn đại tràng gần (ngoài trực tràng – đại tràng chậu hông) Khả năng nghịch sản của polyp tuyến tăng dần theo kích thước và thành phần tuyến nhung mao của polyp Chúng tôi đề xuất nên xử trí ngay các polyp có

Trang 6

kích thước ≤ 5mm, nhất là polyp ở đại tràng gần

khi phát hiện được ở lần nội soi đầu tiên

TÀI LIệU THAM KHảO

1 ASGE guideline (2006): colorectal cancer screening and

surveillance, Gastrointestinal Endoscopy; 63(4): 546-54

2 Kiều Văn Tuấn và cs (2005), Một số đặc điểm lâm sàng, nội

soi, giải phẫu bệnh và kết quả điều trị qua nội soi của bệnh

polyp đại – trực tràng ở bệnh viện Bạch Mai từ 5/2002 –

5/2004, Tập san hội nghị khoa học tiêu hóa toàn quốc lần 11; 13

3 Leung WK et al (2006), Colorectal neoplasia in Asia: a

multicenter colonoscopy survey in symptomatic patients,

4 Nguyễn Chấn Hùng (2007), Hội thảo hàng năm phòng chống

ung thư TP HCM, Thời sự Y học 13: 42-44

5 Nguyễn Thúy Oanh (2000), Nghiên cứu chẩn đoán và xử trí

políp - ung thư qua nội soi đại tràng ống mềm, Tóm tắt luận

văn tiến sĩ Y học 11 -16

6 Quách Trọng Đức (2006), cách tiếp cận và xử trí polyp đại

trực tràng theo kích thước polyp _ tài liệu dịch từ tạp chí

Endoscopica Digestiva, Tạp chí khoa học tiêu hóa Việt Nam 1(1):

65-66

7 Stryker SJ, Wolff BG, Culp CE et al (1987), Natural history of

untreated colonic polyps, Gastrenterology, 93: 1009-1013

8 Sung J JY et al (2005), Increasing incidence of colorectal

cancer in Asia: implications for screening, The Lancet

9 Thái Thị Hoài, Trần Văn Huy (2006), Đặc điểm lâm sàng,

nội soi và mô bệnh học của polype đại trực tràng ở bệnh

viện trường đại học Y khoa Huế, Tạp chí khoa học tiêu hóa

10 Waye JD (2000), Colonoscopic polypectomy In: Tytgat, Guido

NJ, Practice of therapeutic endoscopy 2 nd ed Spain: Harcourt

Saunders, 213-235

11 Winawer SJ, Zauber AG, Ho MN, et al (1993), Prevention of

colorectal cancer by colonoscopic polypectomy: the National

group Study Workgroup N Eng J Med; 329: 1977-81

Ngày đăng: 20/01/2020, 04:29

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w