1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Tính an toàn và hiệu quả của liệu pháp truyền Insulin đường tĩnh mạch trên bệnh nhân nặng tại khoa hồi sức tích cực

5 86 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 432,3 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nội dung của bài viết trình bày về việc sử dụng liệu pháp truyền insulin tĩnh mạch giúp kiểm soát đường huyết nhưng cũng làm tăng nguy cơ hạ đường huyết ở những bệnh nhân nặng điều trị tại khoa Hồi sức tích cực, khảo sát tần suất hạ đường huyết và tỉ lệ đạt đường huyết mục tiêu ở những bệnh nhân kiểm soát đường huyết bằng truyền insulin tĩnh mạch tại khoa Hồi sức tích cực.

Trang 1

ĐƯỜNG TĨNH MẠCH TRÊN BỆNH NHÂN NẶNG  

TẠI KHOA HỒI SỨC TÍCH CỰC 

Huỳnh Quang Đại*, Hoàng Thu Minh** 

TÓM TẮT 

Đặt  vấn  đề: Sử dụng liệu pháp truyền insulin tĩnh mạch giúp kiểm soát đường huyết nhưng cũng làm 

tăng nguy cơ hạ đường huyết ở những bệnh nhân nặng điều trị tại khoa Hồi sức tích cực (HSTC). 

Mục  tiêu: Khảo sát tần suất hạ đường huyết và tỉ lệ đạt đường huyết mục tiêu ở những bệnh nhân kiểm 

soát đường huyết bằng truyền insulin tĩnh mạch tại khoa HSTC. 

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Cắt ngang mô tả, phân tích. Khảo sát những bệnh nhân có sử 

dụng insulin truyền tĩnh mạch tại khoa HSTC bệnh viện Chợ Rẫy. 

Kết quả: Tổng cộng 416 bệnh nhân‐ngày và 1735 lần kiểm tra đường huyết được khảo sát. Tỉ lệ đạt đường 

huyết  trong  khoảng  mục  tiêu  là  36,4%.  Tần  suất  hạ  đường  huyết  là  14,5%;  hạ  đường  huyết  nặng  là  7,8%.  Trong suốt thời gian truyền insulin, tỉ lệ bệnh nhân có ít nhất một lần hạ đường huyết là 67,3%, hạ đường  huyết nặng là 25,5%. Biến cố hạ đường huyết không làm tăng tỉ lệ tử vong có ý nghĩa (OR = 1,17; p = 0,783);  tuy nhiên, biến cố hạ đường huyết nặng có liên quan đến tăng tỉ lệ tử vong nằm viện (OR = 6,3; p = 0,016). Các  yếu tố nguy cơ hạ đường huyết bao gồm bệnh nhân đái tháo đường, có bệnh lý tim mạch nền, nhập khoa HSTC 

vì bệnh lý nội khoa và có điều trị thay thế thận hoặc thở máy.  

Kết luận: Hạ đường huyết là biến chứng thường gặp ở những bệnh nhân kiểm soát đường huyết bằng liệu 

pháp truyền insulin tĩnh mạch tại khoa HSTC. Biến cố hạ đường huyết nặng liên quan đến tăng tỉ lệ tử vong  nằm viện.  

Từ khóa: kiểm soát đường huyết, hạ đường huyết, truyền insulin tĩnh mạch, hồi sức tích cực 

ABSTRACT 

THE SAFETY AND EFFICACY OF INTRAVENOUS INSULIN INFUSION THERAPY  

FOR MANAGEMENT OF HYPERGLYCEMIA IN CRITICALLY ILL PATIENTS 

Huynh Quang Dai, Hoang Thu Minh  

* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 18 ‐ Supplement of No 1 ‐ 2014: 443 ‐ 447 

Background:  Blood  glucose  control  with  intravenous  insulin  infusion  therapy  increases  the  risk  of 

hypoglycemia. 

Objective: Identify the incidence of hypoglycemia and the rate of achieving blood glucose target in critically 

ill patients with intravenous insulin infusion therapy.  

Method: Cross‐sectional study on the patients with intravenous insulin infusion therapy in Intensive care 

unit, Cho Ray hospital. 

Results: A total of 416 patient‐days and 1735 BG values were evaluated. The rate of achieving blood glucose 

target  was  36,4%.  The  daily  incidence  of  hypoglycemia  and  severe  hypoglycemia  were  14.5%  and  7.8%,  respectively. Throughout days of insulin infusion, the rate of patients with at least one hypoglycemia and severe 

* Bộ Môn Hồi Sức Cấp Cứu Chống Độc – ĐHYD TP.HCM    ** Bệnh viện Chợ Rẫy

Tác giả liên lạc: BS.CKI Huỳnh Quang Đại   ĐT: 0908704668 Email: dai.hq@umc.edu.vn

Trang 2

hypoglycemia  were  67.3%  and  25.5%,  respectively.  Hypoglycemia  did  not  increase  mortality  significantly  (OR=1.17, p=0.783), however severe hypoglycemia related to increasing hospital mortality (OR = 6.3, p = 0.016).  The risk factors of hypoglycemia included diabetes mellitus, cardiovascular diseases, admission ICU for medical  conditions, renal replacement therapy and mechanical ventilation. 

Conclusion: Hypoglycemia was a common complication in critically ill patients with intravenous insulin 

infusion. Severe hypoglycemia related significantly to increasing hospital mortality. 

Keywords: blood glucose control, hypoglycemia, intravenous insulin infusion, critical care, intensive care 

ĐẶT VẤN ĐỀ 

Tăng đường huyết là tình trạng thường gặp 

ở bệnh nhân nặng tại khoa HSTC, dù cho bệnh 

nhân có tiền căn đái tháo đường hoặc không(11). 

Kiểm soát đường huyết giúp giảm tỉ lệ tử vong, 

giảm tỉ lệ nhiễm trùng, rút ngắn thời gian điều 

trị tại khoa HSTC và thời gian nằm viện, giảm tỉ 

lệ suy thận cấp cần điều trị thay thế thận(16). Theo 

những đồng thuận và khuyến cáo hiện tại, mục 

tiêu  kiểm  soát  đường  huyết  cho  bệnh  nhân 

HSTC  trong  khoảng  140–180  mg%(4,8,10).  Liệu 

pháp truyền insulin tĩnh mạch là phương pháp 

kiểm  soát  đường  huyết  thường  được  lựa  chọn, 

tuy  nhiên,  song  song  với  hiệu  quả  kiểm  soát 

đường huyết là tăng nguy cơ xảy ra biến chứng 

hạ  đường  huyết.  Biến  chứng  này  là  yếu  tố  liên 

quan độc lập làm tăng gánh nặng bệnh tật và tử 

vong(3,6,12).  

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 

Khảo sát tần suất hạ đường huyết và tỉ lệ đạt 

đường huyết mục tiêu ở những bệnh nhân kiểm 

soát đường huyết bằng truyền insulin tĩnh mạch 

tại khoa HSTC. 

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  

Chúng tôi thực hiện nghiên cứu cắt ngang mô 

tả phân tích, khảo sát những bệnh nhân có sử dụng 

insulin truyền tĩnh mạch tại khoa HSTC bệnh viện 

Chợ  Rẫy  trong  khoảng  6  tháng  cuối  năm  2011. 

Chúng tôi ghi nhận số lần thử đường huyết, chỉ số 

đường  huyết,  liều  insulin.  Hạ  đường  huyết  được 

định nghĩa khi đường huyết <70 mg%, hạ đường 

huyết  nặng  khi  đường  huyết  <40  mg%.  Đường 

huyết đạt mục tiêu khi đường huyết trong khoảng 

140–180 mg%(5,9). 

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 

Tổng  cộng  55  bệnh  nhân,  416  bệnh  nhân‐ ngày  và  1735  lần  kiểm  tra  đường  huyết  được  khảo sát và phân tích. 

Tuổi trung bình dân số nghiên cứu là 56,9 ±  18,1  tuổi  với  tỉ  lệ  nam/nữ  tương  đương  nhau,  trong  đó,  tỉ  lệ  bệnh  nhân  có  tiền  căn  đái  tháo  đường chiếm 54,5% (Bảng 1). 

Bảng 1. Đặc điểm chung mẫu nghiên cứu 

Giới

Nhóm tuổi

Bệnh lý nền

Nguyên nhân nhập HSTC

Bệnh nhân nhập khoa HSTC vì  bệnh  lý  nội  khoa  chiếm  69,1%,  bệnh  lý  ngoại  khoa  và  đa  chấn  thương  chiếm  30,9%.  Điểm  APACHE  II  ngày nhập khoa 19,1 ± 6,4, điểm SOFA 6,6 ± 3,5. 

Tỉ lệ tử vong nằm viện 58,2% (Bảng 1). 

Tại  thời  điểm  nhập  khoa  HSTC,  tỉ  lệ  bệnh  nhân  có  suy  chức  năng  thận  38,2%,  suy  chức  năng gan 17,4%. Bệnh nhân cần thở máy chiếm  74,5% và cần điều trị thay thế thận 36,4%.  

Trang 3

Tỉ lệ kiểm soát đường huyết trong khoảng mục 

tiêu  140  –  180  mg%  là  36,4%.  Số  lần  kiểm  tra 

đường huyết trung bình mỗi ngày là 4,7 ± 0,8 lần 

(Bảng 2). 

Bảng 2. Kết quả kiểm soát đường huyết 

Số lần xét nghiệm đường huyết trung bình

Trung  bình  mỗi  ngày,  tần  suất  hạ  đường 

huyết và hạ đường huyết nặng lần lượt là 14,5% 

và 7,8%. Hơn nữa, nếu khảo sát trong suốt thời 

gian sử dụng insulin truyền tĩnh mạch, tỉ lệ bệnh 

nhân  có  ít  nhất  một  lần  hạ  đường  huyết  là 

67,3%, hạ đường huyết nặng là 25,5% (Bảng 3). 

Bảng 3. Biến chứng hạ đường huyết 

Đặc điểm Tỷ lệ (%)

Tỉ lệ hạ đường huyết

Tỉ lệ có ít nhất một lần hạ đường huyết trong

suốt thời gian truyền insulin

Biến cố hạ đường huyết làm gia tăng tỉ lệ tử  vong  nằm  viện  không  có  ý  nghĩa  thống  kê  (OR=1,17; p = 0,783), tuy nhiên biến cố hạ đường  huyết nặng liên quan độc lập tới tăng nguy cơ tử  vong với OR = 6,3 (95% KTC 1,14 – 63, p=0,016)  (Bảng 4).  

Những bệnh nhân đái tháo đường cũng tăng  nguy cơ tử vong so với những bệnh  nhân  tăng  đường  huyết  nhưng  không  có  tiền  căn  hoặc  không  được  chẩn  đoán  đái  tháo  đường,  với  OR=3,3 (95% KTC 0,96 – 10,9, p = 0,05). 

Bảng 4. Mối liên quan giữa đái tháo đường, hạ 

đường huyết và tử vong nằm viện 

Tử vong

OR (95% KTC) p

Có n (%) Không n (%)

Hạ đường huyết

Hạ đường huyết nặng

Đái tháo đường

* Đã hiệu chỉnh 

Bảng 5. Các yếu tố liên quan đến hạ đường huyết 

Các yếu tố Hạ đường huyết OR (95% KTC) p

Cón (%) Không n (%)

Giới

Nguyên nhân nhập HSTC

Trang 4

Các yếu tố Hạ đường huyết OR (95% KTC) p

Cón (%) Không n (%)

Suy chức năng gan

Điều trị thay thế thận

Thở máy

Khi  phân  tích  hai  nhóm  bệnh  nhân  có  và 

không có biến cố  hạ  đường  huyết,  có  sự  tương 

đồng  về  giới,  tuổi,  mức  độ  nặng  của  bệnh  thời 

điểm nhập khoa HSTC, tỉ lệ suy chức năng gan, 

thận. Chúng tôi không tìm thấy sự khác biệt có ý 

nghĩa  về  liều  insulin  truyền,  số  lần  kiểm  tra 

đường  huyết  cũng  như  tổng  năng  lượng  dinh 

dưỡng trung bình mỗi ngày giữa hai nhóm. 

Tuy  nhiên,  những  bệnh  nhân  nhập  khoa 

HSTC  vì  bệnh  lý  nội  khoa  liên  quan  với  tăng 

nguy  cơ  hạ  đường  huyết  so  với  những  bệnh 

nhân  ngoại  khoa  (PR  =  1,62  với  p  =  0,03).  Bên 

cạnh đó, những bệnh nhân đái tháo đường hoặc 

cần phải điều trị thay thế thận có khuynh hướng 

tăng nguy cơ xảy ra biến cố này (Bảng 5). 

Ở những bệnh nhân không và có xảy ra biến 

cố  hạ  đường  huyết  nặng,  chúng  tôi  nhận  thấy 

cũng có sự tương đồng về các yếu tố giới, tuổi, 

mức độ nặng của bệnh, tỉ lệ suy chức năng gan, 

thận vào thời điểm nhập khoa HSTC. Chúng tôi 

cũng không tìm thấy sự khác biệt có ý nghĩa về 

liều insulin truyền, số lần kiểm tra đường huyết, 

tổng  năng  lượng  dinh  dưỡng  trung  bình  mỗi 

ngày  giữa  hai  nhóm.  Trong  khi  đó,  có  khuynh 

hướng  tăng  nguy  cơ  xảy  ra  biến  cố  hạ  đường 

huyết nặng ở những bệnh nhân đái tháo đường 

hay có bệnh tim mạch nền hoặc thở máy.  

BÀN LUẬN 

Các đặc điểm về tuổi, giới, điểm APACHE II 

và SOFA ngày nhập khoa của bệnh nhân trong 

khảo sát của chúng tôi tương tự với các nghiên 

cứu trước đó tại khoa HSTC bệnh viện Chợ Rẫy. 

Tuy nhiên, tỉ lệ tử vong ở nhóm này cao hơn so 

với dân số bệnh nhân chung (58,2% vs 39,2%)(7). 

Điều  này  cho  thấy  những  bệnh  nhân  tăng  đường huyết cần kiểm soát bằng truyền insulin  tĩnh mạch có gánh nặng bệnh tật và tử vong cao.  Trong đó, bệnh nhân đái tháo đường chiếm tỉ lệ  63,6%, có tỉ lệ tử vong cao hơn có ý nghĩa thống 

kê  so  với  những  bệnh  nhân  không  đái  tháo  đường (68,6% vs 40,0%; OR = 3,3; p = 0,05).   Trung  bình  mỗi  ngày,  tần  suất  hạ  đường  huyết  14,5%,  hạ  đường  huyết  nặng  7,8%.  Tần  suất  này  cao  hơn  rất  nhiều  so  với  nghiên  cứu  NICE‐SUGAR, với tỉ lệ hạ đường huyết nặng ở  nhóm  bệnh  nhân  mục  tiêu  đường  huyết  trong  khoảng  140  –  180mg%  là  0,5%,  và  nhóm  bệnh  nhân  mục  tiêu  đường  huyết  80  –  110mg%  là  7%(5). Theo nghiên cứu của Devos, tỉ lệ hạ đường  huyết nặng ở nhóm bệnh nhân mục tiêu đường  huyết  140  –  180mg%  là  3%  và  tăng  lên  10%  ở  nhóm  bệnh  nhân  cố  gắng  đạt  mục  tiêu  đường  huyết  80  –  110mg%(2).  Tương  tự,  trong  nghiên  cứu của De La Rosa Gdel, tỉ lệ hạ đường huyết 

và hạ đường huyết nặng ở nhóm bệnh nhân có  đường  huyết  trung  bình  149  mg%  lần  lượt  là  10% và 2%, thấp hơn so với khảo sát của chúng  tôi(1). 

Hầu  hết  các  khoa  HSTC  trên  thế  giới  khuyến khích sử dụng các phác đồ hướng dẫn  truyền  insulin  tĩnh  mạch  để  hướng  dẫn  việc  theo  dõi  và  điều  chỉnh  đường  huyết  cho  các  bệnh nhân nặng. Các phác đồ này có thể giúp  cho  điều  dưỡng  theo  dõi  giá  trị  đường  huyết,  điều chỉnh liều insulin thích hợp và xử trí kịp  thời  khi  biến  chứng  khi  xảy  ra.  Nhiều  nghiên  cứu  chứng  minh  áp  dụng  các  phác  đồ  giúp  tăng hiệu quả kiểm soát đường huyết và giảm 

tỉ lệ hạ đường huyết(8,14,15). 

Trang 5

đường  huyết  làm  gia  tăng  tỉ  lệ  tử  vong  nằm 

viện không có ý nghĩa thống kê (OR = 1,17; p = 

0,783), tuy nhiên biến cố hạ đường huyết nặng 

liên  quan  độc  lập  đến  tăng  nguy  cơ  tử  vong 

với OR=6,3 (95% KTC 1,14 – 63, p = 0,016). Kết 

quả này  tương  tự  nghiên  cứu  của  Krinsley  và 

cộng sự, hạ đường huyết nghiêm trọng là yếu 

tố nguy cơ tử vong độc lập với OR = 2,28 (95% 

KTC, 1,41‐3,7; p =0,0008)(13). 

Một  số  yếu  tố  nguy  cơ  hạ  đường  huyết 

thường  được  đề  cập  đến  như  sử  dụng  liều 

insulin  quá  cao,  theo  dõi  đường  huyết  không 

chặt  chẽ,  nguyên  nhân  nhập  khoa  HSTC  vì 

bệnh lý nội khoa, bệnh lý quá nặng, bệnh nhân 

suy gan, suy thận, nhiễm khuẩn huyết, ngưng 

ăn hoặc dinh dưỡng kém, không bổ sung dinh 

dưỡng  đường  tĩnh  mạch,  ngừng  thuốc 

corticoids  hay  thuốc  vận  mạch,  điều  trị  thay 

thế thận (12).  

Khi so sánh hai nhóm không và có hạ đường 

huyết, chúng tôi không tìm thấy sự khác biệt có 

ý nghĩa về mức độ nặng của bệnh cũng như liều 

insulin,  số  lần  kiểm  tra  đường  huyết,  năng 

lượng  nhập  mỗi  ngày,  tỉ  lệ  suy  chức  năng  gan, 

thận.  Tuy  nhiên,  những  bệnh  nhân  đái  tháo 

đường hay có bệnh tim mạch nền, cần phải điều 

trị thay thế thận hoặc thở máy có khuynh hướng 

tăng nguy cơ xảy ra biến chứng hạ đường huyết. 

KẾT LUẬN 

Hạ  đường  huyết  là  biến  chứng  nguy  hiểm 

thường gặp ở những bệnh nhân nặng kiểm soát 

đường  huyết  bằng  truyền  insulin  tĩnh  mạch  tại 

khoa  HSTC.  Hạ  đường  huyết  nặng  liên  quan 

độc lập đến tăng tỉ lệ tử vong nằm viện. Để giảm 

biến  chứng  này,  bên  cạnh  việc  lưu  ý  và  kiểm 

soát  các  yếu  tố  nguy  cơ,  cần  thiết  phải  nghiên 

cứu  ứng  dụng  các  phác  đồ  hướng  dẫn  truyền 

insulin phù hợp cho mỗi khoa phòng(8). 

TÀI LIỆU THAM KHẢO 

1 De La Rosa Gdel C, Donado JH, Restrepo AH, Quintero AM, 

Gonzalez LG,  Saldarriaga  NE,  et  al.  (2008),  ʺStrict  glycaemic 

control  in  patients  hospitalised  in  a  mixed  medical  and 

surgical  intensive  care  unit:  a  randomised  clinical  trialʺ.  Crit  Care, 12(5), R120. 

2 Devos  P,  Preiser  J,  Melot  C  (2007),  ʺImpact  of  tight  glucose  control by intensive insulin therapy on ICU mortality and the  rate of hypoglycaemia: final results of the  glucontrol  studyʺ. 

Intensive Care Med, 33(Suppl 2), S189. 

3 Egi M, Bellomo R, Stachowski E, French CJ, Hart GK, Taori G, 

et  al.  (2010),  ʺHypoglycemia  and  outcome  in  critically  ill 

patientsʺ. Mayo Clin Proc, 85(3), 217‐224. 

4 Fahy BG, Sheehy AM, Coursin DB (2009), ʺGlucose control in 

the intensive care unitʺ. Crit Care Med, 37(5), 1769‐1776. 

5 Finfer S, Chittock DR, Su SY, Blair D, Foster D, Dhingra V, et 

al.  (2009),  ʺIntensive  versus  conventional  glucose  control  in 

critically ill patientsʺ. N Engl J Med, 360(13), 1283‐1297. 

6 Hermanides  J,  Bosman  RJ,  Vriesendorp  TM,  Dotsch  R,  Rosendaal  FR,  Zandstra  DF,  et  al.  (2010),  ʺHypoglycemia  is 

associated with intensive  care  unit  mortalityʺ.  Crit Care Med, 

38(6), 1430‐1434. 

7 Huynh Quang Dai, Pham Thi Ngoc Thao,  Dang  Van  Phuoc  (2012), ʺApplication of the sequential organ failure assessment  (SOFA) score in predicting outcome of critically ill patientsʺ. 

HCMC journal of medicine, 16(1), 21‐26. 

8 Ichai C, Preiser JC (2010), ʺInternational recommendations for  glucose  control  in  adult  non  diabetic  critically  ill  patientsʺ. 

Crit Care, 14(5), R166. 

9 Inzucchi SE, Siegel MD (2009), ʺGlucose control in the ICU‐‐

how tight is too tight?ʺ. N Engl J Med, 360(13), 1346‐1349. 

10 Kavanagh  BP,  McCowen  KC  (2010),  ʺClinical  practice. 

Glycemic  control  in  the  ICUʺ.  N  Engl  J  Med,  363(26),  2540‐

2546. 

11 Kovalaske  MA,  Gandhi  GY  (2009),  ʺGlycemic  control  in 

the medical intensive care unitʺ. J Diabetes Sci Technol, 3(6), 

1330‐1341. 

12 Krinsley  JS  (2011),  ʺUnderstanding  glycemic  control  in  the 

critically ill: 2011 updateʺ. Hosp Pract (1995), 39(2), 47‐55. 

13 Krinsley  JS,  Grover  A  (2007),  ʺSevere  hypoglycemia  in 

critically ill patients: risk factors and outcomesʺ. Crit Care Med, 

35(10), 2262‐2267. 

14 Newton CA, Smiley D, Bode B W, Kitabchi A E, Davidson P 

C, Jacobs S, et al. (2010), ʺA comparison study of continuous  insulin  infusion  protocols  in  the  medical  intensive  care  unit: 

computer‐guided  vs.  standard  column‐based  algorithmsʺ.  J  Hosp Med, 5(8), 432‐437. 

15 Rea  RS,  Donihi  AC,  Bobeck  M,  Herout  P,  McKaveney  TP,  Kane‐Gill  SL,  et  al.  (2007),  ʺImplementing  an  intravenous 

insulin  infusion  protocol  in  the  intensive  care  unitʺ.  Am  J  Health Syst Pharm, 64(4), 385‐395. \ 

16 Van  den  Berghe  G,  Wouters  P,  Weekers  F,  Verwaest  C,  Bruyninckx  F,  Schetz  M,  et  al.  (2001),  ʺIntensive  insulin 

therapy  in  critically  ill  patientsʺ.  N  Engl  J  Med,  345(19), 

1359‐1367. 

Ngày nhận bài báo: 01/11/2013  Ngày phản biện nhận xét bài báo: 26/11/2013  Ngày bài báo được đăng: 05/01/2014 

 

Ngày đăng: 20/01/2020, 04:25

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w