1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Vai trò của một số yếu tố liên quan đến kết quả và lựa chọn chỉ định phẫu thuật nội soi điều trị viêm ruột thừa cấp

7 95 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 504,22 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu nghiên cứu của bài viết nhằm đánh giá một số yếu tố liên quan đến kết quả cắt ruột thừa nội soi làm cơ sở cho lựa chọn chỉ định phẫu thuật nội soi (PTNS) điều trị viêm ruột thừa cấp (VRTC). Đối tượng và phương pháp: nghiên cứu hồi cứu trên 625 bệnh nhân (BN) VRTC điều trị bằng PTNS. So sánh thời gian nằm viện sau mổ và tỷ lệ biến chứng trong các nhóm BN theo yếu tố liên quan.

Trang 1

VAI TRÕ CỦA MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN KẾT QUẢ VÀ

LỰA CHỌN CHỈ ĐỊNH PHẪU THUẬT NỘI SOI

ĐIỀU TRỊ VIÊM RUỘT THỪA CẤP

Đặng Việt Dũng*; Lê Thanh Sơn*

TÓM TẮT

Mục tiêu: đánh giá một số yếu tố liên quan đến kết quả cắt ruột thừa nội soi làm cơ sở cho lựa chọn chỉ định phẫu thuật nội soi (PTNS) điều trị viêm ruột thừa cấp (VRTC) Đối tượng và phương pháp: nghiên cứu hồi cứu trên 625 bệnh nhân (BN) VRTC điều trị bằng PTNS So sánh thời gian nằm viện sau mổ và tỷ lệ biến chứng trong các nhóm BN theo yếu tố liên quan Kết quả: ở nhóm có thời gian mắc bệnh muộn quá 48 giờ, thời gian nằm viện trung bình sau mổ 6,7

ngày, tỷ lệ biến chứng sau mổ (5,6%) cao hơn có ý nghĩa thống kê so với các nhóm BN còn lại Nhóm có bệnh kết hợp có tỷ lệ biến chứng sau mổ (7,1%) cao hơn nhóm không có bệnh kết hợp Không có sự khác biệt về thời gian nằm viện và tỷ lệ biến chứng ở BN cao tuổi, có tiền sử

mổ cũ và vị trí khác nhau của ruột thừa Kết luận: thời gian bị viêm ruột thừa quá 48 giờ, mắc

bệnh kết hợp là những yếu tố làm tăng thời gian nằm viện và biến chứng sau mổ cắt ruột thừa nội soi Tuổi cao, có tiền sử mổ cũ vùng bụng không phải là chống chỉ định cắt ruột thừa nội soi Nên ưu tiên chỉ định cắt ruột thừa nội soi cho các ruột thừa ở vị trí khó (sau manh tràng, dưới gan, giữa các quai ruột) Cần cân nhắc chỉ định cắt ruột thừa nội soi cho BN có bệnh hô hấp hoặc tim mạch kết hợp

* Từ khóa: Viêm ruột thừa cấp; Cắt ruột thừa nội soi; Yếu tố liên quan

Role of Related Factors to Results and Indication of Laparoscopic Appendectomy

Summary

Objectives: To evaluate effect of some related factors to results and indication of laparoscopic appendectomy Methods: Prospective research on 625 patients who underwent laparoscopic appendectomy A comparison on hospital stays, complication rate involved in related factors between groups was made Results: In group of patients with appendicitis more than 48 hours, mean hospital stay (6.7 days) and complication rate (5.6%) was higher than other groups Complication rate in the group of combined diseases (7.1%) was higher than that without combined diseases There was no difference in duration of hospital stay, complication rate in the elderly, history of previous laparotomies and locations of appendix Conclusions: Delay of diagnosis of appendicitis and combined diseases made increasing complications and hospital stays The elders and previous laparotomies in history were not contraindication to laparoscopic appendectomy Patients with appendicitis retro-cecum, under liver or between intestinal loops should be indicated laparoscopic appendectomy

* Key words: Acute appendicitis; Laparoscopic appendectomy; Related factors

* Bệnh viện Quân y 103

Người phản hồi (Corresponding): Lê Thanh Sơn (ltson103@gmail.com)

Ngày nhận bài: 15/01/2016; Ngày phản biện đánh giá bài báo: 24/02/2016

Ngày bài báo được đăng: 01/03/2016

Trang 2

ĐẶT VẤN ĐỀ

Phẫu thuật nội soi điều trị VRTC gần

đây đã được ứng dụng rộng rãi và mang

lại nhiều lợi ích cho BN Tuy nhiên, phẫu

thuật này cũng bộc lộ một số hạn chế như

nguy cơ biến chứng liên quan đến gây

mê nội khí quản, bơm hơi ổ bụng, kỹ

thuật xử trí cho các trường hợp ruột thừa

khó, BN có tiền sử phẫu thuật bụng… [2]

Một vấn đề phẫu thuật viên còn băn

khoăn là liệu có nên tiến hành PTNS cho

những trường hợp VRTC ở người cao

tuổi, mắc bệnh kết hợp, ruột thừa ở các vị

trí khó giải phóng hoặc BN có tiền sử mổ

cũ? Đề tài nghiên cứu này được tiến

hành nhằm: Đánh giá vai trò của một số

yếu tố liên quan đến kết quả điều trị và

lựa chọn chỉ định PTNS điều trị VRTC

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU

1 Đối tượng nghiên cứu

625 BN được xác chẩn VRTC dựa trên

kết quả giải phẫu bệnh, điều trị bằng

PTNS cắt ruột thừa tại Khoa Phẫu thuật

Bụng, Bệnh viện Quân y 103 từ 1 - 2014

đến 6 - 2015

2 Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu hồi cứu

- Các yếu tố liên quan được xem xét gồm: tuổi, thời gian bệnh, vị trí của ruột thừa, mức độ tổn thương của ruột thừa (trên đại thể và mô bệnh học), các bệnh lý kết hợp (tuần hoàn, hô hấp, tiết niệu, nội tiết…), tiền sử mổ cũ

- So sánh tìm hiểu mối quan hệ giữa các yếu tố liên quan trên và kết quả điều trị (gồm thời gian phục hồi và biến chứng sớm sau mổ), từ đó đưa ra nhận định về vai trò của các yếu tố liên quan đến kết quả

và lựa chọn chỉ định cắt ruột thừa nội soi

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

625 BN VRTC được PTNS cắt ruột thừa trong thời gian nghiên cứu Trong đó: viêm ruột thừa thể sung huyết 51 BN (8,1%); viêm ruột thừa thể mủ 467 BN (74,8%) và viêm ruột thừa thể hoại tử 107 BN (17,1%) Có 321 BN nam (51,3%), tỷ lệ nam/nữ: 1,05/1 Tuổi trung bình 34,5 ± 17,6; 51 BN có tiền sử mổ bụng trước đó (8,2%); 126 BN có bệnh kết hợp với tổng

số 137 lượt bệnh (bệnh lý tim mạch: 51 BN; bệnh lý hô hấp: 19 BN; bệnh lý tiết niệu:

12 BN; đái tháo đường: 45 BN; sỏi túi mật: 6 BN; nang buồng trứng: 4 BN) Thời gian nằm viện trung bình sau mổ 4,5 ± 3,6 ngày; 20 trường hợp có biến chứng sớm sau mổ (3,2%)

Bảng 1: Vai trò của tuổi

Trang 3

41 - 50 93 4,6 ± 3,8 2/93 (2,1%)

Nhóm > 60 tuổi hay gặp biến chứng nhất (6,3%) Trong đó liệt ruột: 1 BN; viêm phổi:

1 BN; tăng huyết áp: 1 BN Tuy nhiên, khác biệt không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05) khi so sánh với các nhóm BN khác

Bảng 2: Vai trò của thời gian bệnh

Tỷ lệ xuất hiện biến chứng và thời gian nằm viện sau mổ tăng dần theo nhóm thời gian bị bệnh Ở nhóm BN có thời gian bệnh muộn hơn 48 giờ, thời gian nằm viện sau

mổ và tỷ lệ biến chứng tăng cao (6,7 ngày và 5,6%); khác biệt có ý nghĩa thống kê khi

so sánh với các nhóm BN còn lại

Bảng 3: Vai trò của vị trí ruột thừa

Khác biệt không có ý nghĩa thống kê về thời gian nằm viện và tỷ lệ biến chứng sau

mổ giữa các nhóm BN theo vị trí của ruột thừa

Trang 4

Bảng 4: Vai trò của tiền sử mổ cũ

Khác biệt không có ý nghĩa thống kê về thời gian nằm viện sau mổ và tần suất gặp biến chứng sau mổ giữa các nhóm có và không có tiền sử mổ bụng cũ

Bảng 5: Vai trò của bệnh kết hợp

Tỷ lệ biến chứng ở nhóm BN có bệnh kết hợp cao hơn nhóm không có bệnh kết hợp Tuy nhiên, thời gian nằm viện giữa 2 nhóm không khác biệt có ý nghĩa thống kê

126 BN mắc bệnh kết hợp với tổng số 137 lượt bệnh (bệnh lý tim mạch: 51 BN; bệnh lý hô hấp: 19 BN; bệnh lý tiết niệu: 12 BN; đái tháo đường: 45 BN; sỏi túi mật:

6 BN; nang buồng trứng: 4 BN) Trong đó, 9 BN có biến chứng sau mổ (11 BN biến chứng sau mổ còn lại với tổng số 21 lượt biến chứng gặp ở nhóm 499 BN không có bệnh kết hợp)

Bảng 6 thể hiện sự phân bố và mối liên quan giữa biến chứng sau mổ với các bệnh

lý kết hợp ở 126 BN này

Bảng 6: Mối liên quan giữa bệnh kết hợp và biến chứng sau mổ

Bệnh và biến chứng Tim mạch Hô hấp Tiết niệu Đái tháo đường Sỏi túi mật Nang buồng trứng

(3,9%)

2/19 (10,5%)

1/12 (8,3%)

4/45 (8,9%)

Trang 5

BN mắc bệnh kết hợp có tần suất biến

chứng cao, chủ yếu mắc kết hợp bệnh

đường hô hấp (10,5%) và đái tháo đường

(8,9%) Các biến chứng nhiễm trùng

(nhiễm trùng chân trocar, áp xe tồn dư, rò

manh tràng) thường tập trung ở BN mắc

đái tháo đường kết hợp Các biến chứng

tim mạch (cơn tăng huyết áp, cơn loạn

nhịp tim) có xu hướng hay gặp ở BN có

mắc bệnh tim mạch kết hợp

BÀN LUẬN

Các công trình nghiên cứu về kết quả

PTNS cắt ruột thừa viêm đều khẳng định

ưu điểm của phương pháp này là mang

nhiều lợi ích về sức khoẻ và kinh tế cho

BN Như vậy, trước mỗi BN được chẩn

đoán VRTC, PTNS là lựa chọn điều trị

hàng đầu Tuy nhiên, không phải tất cả

BN được PTNS đều cho kết quả tốt Đặc

biệt, BN có nguy cơ rủi ro cao liên quan

đến kỹ thuật vô cảm và đặc thù của kỹ

thuật mổ nội soi Từ đó, phẫu thuật viên

cần cân nhắc khi nào chọn chỉ định cắt

ruột thừa nội soi, khi nào chỉ định cắt ruột

thừa theo kỹ thuật mở kinh điển? Một số

chống chỉ định của PTNS được đưa ra,

đây là vấn đề không phải bàn cãi Tuy

nhiên, một số yếu tố (BN tuổi cao, thời

gian phát hiện bệnh muộn, ruột thừa ở

các vị trí khó, BN có tiền sử mổ cũ hoặc

có bệnh kết hợp) là những vấn đề chưa

rõ và ảnh hưởng đến lựa chọn phương

pháp phẫu thuật điều trị VRTC

này, có 47 BN (7,5%) cao tuổi (> 60 tuổi)

Thời gian nằm viện trung bình ở nhóm

BN cao tuổi (5,7 ngày) dài hơn so với các

BN khác Tuy nhiên, khác biệt không có ý

nghĩa thống kê Tỷ lệ biến chứng ở nhóm

BN cao tuổi (6,3%) cao hơn các nhóm khác, nhưng khác biệt không có ý nghĩa thống kê Từ kết quả này, chúng tôi nhận thấy tuổi cao không phải là yếu tố chống chỉ định cho cắt ruột thừa nội soi Tuy nhiên, đây cũng là yếu tố nguy cơ cần được xem xét trong mối quan hệ với các bệnh kết hợp thường gặp ở người già

Do vậy, trước mỗi BN VRTC ở người cao tuổi, việc hoàn thiện các xét nghiệm điện tim, X quang phổi và kiểm tra kỹ lưỡng tiền sử bệnh kết hợp là điều cần thiết

* Vai trò của thời gian bệnh: BN VRTC

đến viện càng muộn, bệnh càng nặng và

có nhiều nguy cơ biến chứng [3] Biến chứng sau mổ tăng cao ở BN VRTC muộn kể cả mổ mở và mổ nội soi Tương

tự, tỷ lệ biến chứng sau mổ ở BN có thời gian mắc bệnh > 48 giờ trong nghiên cứu này (5,6%) cao gấp 2 lần so với các nhóm BN khác (bảng 2) Cùng với đó,

thời gian nằm viện của nhóm BN này là 6,7 ngày, dài hơn có ý nghĩa thống kê so với các nhóm BN đến viện sớm hơn

VRTC đến muộn đã được một số nghiên cứu đề cập tới Johnson AB (1998) cho biết PTNS có thể thực hiện an toàn và giảm biến chứng sau mổ cho BN VRTC đến viện muộn khi ruột thừa đã vỡ mủ [5] Nhận định này một lần nữa được Ball C G (2004) và Kiriakopoulos A (2006) khẳng định [4, 6] Ở Việt Nam, Đào Tuấn (2008) cho thấy PTNS tỏ ra an toàn và có tỷ lệ biến chứng thấp (9,37%) khi điều trị BN viêm phúc mạc ruột thừa [3] Theo chúng tôi, PTNS với trường mổ rộng, có khả năng kiểm soát toàn bộ ổ bụng nên có thể

xử trí được những trường hợp đến viện

Trang 6

muộn khi ruột thừa đã vỡ mủ Thực tế

phẫu thuật cũng cho thấy, PTNS có thể

thực hiện lau rửa dẫn lưu ổ bụng thuận

lợi hơn so với mổ mở cắt ruột thừa theo

đường Mc Burney Khả năng này rõ ràng

rất hữu ích đối với những BN VRTC đến

muộn Như vậy, BN VRTC đến muộn,

thậm chí đã có biến chứng viêm phúc

mạc ruột thừa vẫn nên được lựa chọn

cho chỉ định PTNS nếu điều kiện toàn

thân cho phép

Vai trò của vị trí ruột thừa: tỷ lệ biến

chứng thường tăng ở VRTC sau manh

tràng [1] Khó khăn trong thao tác phẫu

thuật qua đường mổ Mc Burney cũng

thường gặp với ruột thừa nằm ngoài hố

chậu phải Kết quả nghiên cứu cho thấy

sự phục hồi sau mổ và biến chứng sau

mổ của nhóm BN theo vị trí ruột thừa

tương đương nhau sau cắt ruột thừa nội

soi Điều này rất đáng khích lệ với các thể

VRTC ở sau manh tràng, dưới gan hoặc

giữa các quai ruột - những vị trí mà mổ

mở cắt ruột thừa thường gặp khó khăn và

hay có biến chứng Điều gì đã khiến

PTNS cắt ruột thừa có thể mang lại

chuyển biến trong kết quả điều trị như

vậy? Theo chúng tôi, PTNS có trường

mổ khá rộng giúp phẫu thuật viên chủ

động tiếp cận và xử trí ruột thừa ở nhiều

vị trí khác nhau Cắt ruột thừa nội soi sau

manh tràng có thể thực hiện thuận lợi khi

chuyển camera vào trocar ở hố chậu trái

hoặc trên mu Khi đó, ruột thừa được

quan sát theo góc nhìn từ dưới lên nên có

thể bộc lộ ruột thừa dễ dàng [2] Khả

năng này trong mổ mở theo đường Mc

Burney hoặc đường trắng bên phải (các

đường mổ thường dùng trong mổ cắt ruột

thừa) không có được Từ các kết quả và

phân tích trên, chúng tôi thấy PTNS có

thể thực hiện được ở tất cả vị trí của ruột thừa, nên khuyến khích áp dụng kỹ thuật này cho ruột thừa ở vị trí khó như sau manh tràng, dưới gan hoặc giữa các quai ruột

* Vai trò của tiền sử mổ bụng cũ: trước

đây, tiền sử mổ cũ ở vùng bụng là chống chỉ định của PTNS ổ bụng Nhờ những tiến bộ trong kỹ thuật phẫu thuật và trang thiết bị, PTNS bụng hiện đang mở rộng dần chỉ định cho những BN này Trong nghiên cứu này, chúng tôi không tiến hành PTNS cắt ruột thừa cho những BN

có tiền sử phẫu thuật bụng phức tạp (phẫu thuật điều trị viêm phúc mạc hoặc chấn thương bụng trước đây) hoặc BN có sẹo mổ toàn bộ đường trắng giữa trên và dưới rốn Có 51 BN có tiền sử mổ cũ (8,1%) với sẹo mổ hoặc ở trên rốn hoặc ở dưới rốn So sánh kết quả điều trị sau mổ nội soi của những BN này với BN không

có tiền sử mổ cũ cho thấy không có khác biệt có ý nghĩa thống kê về thời gian phục hồi và biến chứng sau mổ Rõ ràng, kết quả này một phần là nhờ phẫu thuật viên

đã thành thạo kỹ thuật mổ Qua đây, chúng tôi thấy cắt ruột thừa nội soi có thể thực hiện cho mọi BN có tiền sử mổ cũ không quá phức tạp và phẫu thuật viên thành thạo kỹ thuật mổ nội soi

hợp là yếu tố quan trọng chi phối kết quả điều trị Bảng 5 cho thấy, tỷ lệ biến chứng

ở BN có bệnh kết hợp là 7,1%; cao hơn

so với nhóm không có bệnh kết hợp (2,2%) Mặc dù vậy, bệnh kết hợp không phải là lý do chính kéo dài thời gian nằm viện Điều này có thể lý giải: các bệnh kết hợp trong nhóm nghiên cứu không phải quá nặng có thể gây biến chứng trầm

Trang 7

trọng khiến BN phải nằm điều trị dài ngày

Vấn đề đặt ra ở đây là những bệnh kết

hợp nào không nên chỉ định mổ nội soi và

những bệnh kết hợp nào vẫn có thể cho

phép tiến hành cắt ruột thừa nội soi Để

trả lời câu hỏi này cần có nghiên cứu đối

chứng giữa hiệu quả của mổ nội soi và

mổ mở trên nhóm đối tượng này Tuy

vậy, khi phân tích sự phân bố biến chứng

sau mổ với các bệnh kết hợp ở bảng 6,

chúng tôi thấy biến chứng thường xuất

hiện trên chính cơ quan có bệnh kết hợp

(các biến chứng cơn tăng huyết áp, loạn

nhịp tim thường xuất hiện trên BN có tiền

sử bệnh tim mạch, viêm phổi có xu

hướng xuất hiện ở BN có bệnh lý hô hấp

kết hợp) Đáng chú ý, các biến chứng

nhiễm trùng thường tập trung ở BN đái

tháo đường Từ đó, có thể chia các bệnh

kết hợp trên BN VRTC thành hai nhóm

theo nguy cơ gây biến chứng Nhóm thứ

nhất: các bệnh kết hợp có nguy cơ gây

biến chứng nhiễm trùng ổ bụng (đái tháo

đường, viêm tiết niệu, bệnh các cơ quan

trong ổ bụng) Nhóm thứ hai: các bệnh

kết hợp có nguy cơ gây biến chứng toàn

thân liên quan đến gây mê nội khí quản

và bơm hơi ổ bụng (bệnh tim mạch, bệnh

đường hô hấp) Khi đó, nên lựa chọn

PTNS cho BN nhóm thứ nhất để phát huy

khả năng làm sạch ổ bụng (lau rửa, dẫn

lưu) của mổ nội soi nhằm giảm thiểu nguy

cơ nhiễm trùng ổ bụng Với nhóm BN thứ

hai, cần cân nhắc chỉ định mổ nội soi đến

khả năng biến chứng trên từng BN cụ

thể Để giảm thiểu nguy cơ biến chứng

liên quan đến gây mê nội khí quản bơm

hơi ổ bụng, PTNS cắt ruột thừa dưới gây

tê tuỷ sống có sử dụng khung nâng thành

bụng, phương pháp này đang được

chúng tôi tiến hành nghiên cứu

KẾT LUẬN

Qua nghiên cứu trên 625 BN VRTC được PTNS cắt ruột thừa tại Bệnh viện Quân y 103 từ 2014 - 2015, chúng tôi rút

ra kết luận: thời gian mắc bệnh muộn quá

48 giờ, BN có bệnh kết hợp là những yếu

tố làm tăng tỷ lệ biến chứng sau mổ

BN cao tuổi, có tiền sử mổ cũ không phải là yếu tố chống chỉ định cắt ruột thừa nội soi Nên ưu tiên chỉ định cắt ruột thừa nội soi cho những BN viêm ruột thừa muộn, ruột thừa ở vị trí khó (sau manh tràng, dưới gan, giữa các quai ruột) Cần cân nhắc chỉ định cắt ruột thừa nội soi cho BN có bệnh hô hấp hoặc tim mạch kết hợp

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Bộ môn Ngoại Chung Viêm ruột thừa

cấp Bệnh học Ngoại khoa bụng Học viện Quân y 1997

2 Lê Thanh Sơn Nghiên cứu ứng dụng

PTNS điều trị VRTC tại Bệnh viện Quân y

103 Đề tài nghiên cứu cấp cơ sở Học viện Quân y 2010

3 Đào Tuấn, Hà Văn Quyết Kết quả

PTNS điều trị viêm phúc mạc do viêm ruột thừa ở người lớn tại Bệnh viện Xanh Pôn Hà Nội Ngoại khoa 2008, số 4, tr.7-12

4 Ball CG, Kortbeek JG et al

Laparoscopic appendectomy for complicated appendicitis: an evaluation of postoperative factors Surg Endosc 2004, 18, pp.969-973

5 Johnson AB, Peetz ME Laparoscopic

appendectomy is an acceptable alternative treartment of perforated appendicitis Surg Endosc 1998, 12, pp.940-943

6 Kiriakopoulos A, Tsakayannis D et al

Laparoscopic management of complicated appendicitis JSLS 2006, 10, pp.453-456

Ngày đăng: 20/01/2020, 04:02

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w