1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Nhân một trường hợp viêm cầu thận cấp hậu nhiễm staphylococcus aureus kháng methicilline trên bệnh nhân viêm thận lupus

9 66 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 761,05 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề tài nghiên cứu báo cáo một trường hợp viêm cầu thận cấp hậu nhiễm staphylococcus aureus kháng methicilline (MRSA) ở một bệnh nhân nam 22 tuổi được chẩn đoán lupus đỏ hệ thống biến chứng đa phủ tạng (viêm đa khớp, viêm cơ tim, viêm thận dạng hội chứng thận hư). Tình trạng nhiễm MRSA khởi phát từ viêm mô tế bào cánh tay phải, sau lan sang viêm phổi, viêm mủ màng ngoài tim có biến chứng chèn ép tim và nhiễm trùng huyết. Bệnh nhân được mổ dẫn lưu màng ngoài tim và điều trị theo kháng sinh đồ, với kháng sinh chủ yếu vancomycine.

Trang 1

NHÂN MỘT TRƯỜNG HỢP VIÊM CẦU THẬN CẤP HẬU NHIỄM

STAPHYLOCOCCUS AUREUS KHÁNG METHICILLINE

TRÊN BỆNH NHÂN VIÊM THẬN LUPUS

Phan Thanh Nhựt*, Trần Lê Quân*, Trần Thị Bích Hương* , **

TÓM TẮT

Chúng tôi báo cáo một trường hợp viêm cầu thận cấp hậu nhiễm staphylococcus aureus kháng methicilline (MRSA) ở một bệnh nhân nam 22 tuổi được chẩn đoán lupus đỏ hệ thống biến chứng đa phủ tạng (viêm đa khớp, viêm cơ tim, viêm thận dạng hội chứng thận hư) Tình trạng nhiễm MRSA khởi phát từ viêm mô tế bào cánh tay phải, sau lan sang viêm phổi, viêm mủ màng ngoài tim có biến chứng chèn ép tim và nhiễm trùng huyết Bệnh nhân được mổ dẫn lưu màng ngoài tim và điều trị theo kháng sinh đồ, với kháng sinh chủ yếu vancomycine Viêm cầu thận cấp có biến chứng suy thận cấp thể thiểu niệu và bn được chỉ định lọc máu sớm hổ trợ các điều trị trên Sinh thiết thận được tiến hành để xác định chẩn đoán nguyên nhân của viêm cầu thận cấp, ghi nhận viêm cầu thận cấp nặng do nhiễm trùng với thâm nhiễm bạch cầu đa nhân trung tính vào cầu thận, tăng sinh nội mạch và ngọai mạch, kèm tạo liềm tế bào và phá hủy bao Bownman Miễn dịch huỳnh quang có lắng đọng dạng hạt ở trung mô của IgG, IgA, Fibrinogen, C3, C1q

Kết quả: Mặc dù khống chế được nhiễm trùng MRSA, nhưng tình trạng suy thận cấp hậu nhiễm không

hồi phục sau đó, và bệnh nhân được lọc máu định kỳ

Từ khóa: Staphylococcus aureus kháng methicilline, viêm cầu thận cấp hậu nhiễm trùng, viêm thận lupus

ABSTRACT

A CASE REPORT OF AN ACUTE GLOMERULONEPHRITIS ASSOCIATED TO METHICILLINE

RESISTANT STAPHYLOCOCCUS AUREUS IN A LUPUS NEPHRITIS MAN

Phan Thanh Nhut, Tran Le Quan, Tran Thi Bich Huong

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 15 - Supplement of No 4 - 2011: 278 - 286

We reported a case of acute glomerulonephritis associated to methicilline resistant Staphylococcus aureus (MRSA) infection in a 22 yo man, who was diagnosed systemic lupus erythematosus with arthritis manifestations in joints, myocarditis and glomerulonephritis MRSA infection started from a cellulitis in the right arm, then widespreaded to pneumonia, pericardial effusion with cardiac tamponade and sepsis The pericardiac tamponade was managed by surgical drainage and antibiotics, mainly vancomycine With acute glomerulonephritis manifested by oliguric acute renal failure, hemodialysis was indicated Renal biopsy was performed to differentiate the cause of acute glomerulonephritis It showed severe acute glomerulonephritis due to infection with infiltration of neutrophils in the glomeruli, endo- and extracapillary proliferative with cellular crescentic formation and damaging the Bowmann’s capsule Immunoflourescent staining showed IgG, IgA, Fibrinogen, C3, C1q granular deposits in the mesangial region

Conclusion: Although MRSA infection was finally controlled but the acute renal failure was not recovered

and patient required long term hemodialysis

Key words: Acute glomerulonephritis, Acute postinfectious glomerulonephritis, Methicillin- Resistant

Staphylococcus Aureus

* Khoa Thận, BV Chợ Rẫy, ** Bộ Môn Nội, Đại Học Y Dược Tp Hồ Chí Minh

Trang 2

MỞ ĐẦU

Viêm cầu thận cấp (VCTC) hậu nhiễm trùng

là một đáp ứng miễn dịch của thận xảy ra sau

một nhiễm trùng ngoài thận Bệnh cảnh viêm

cầu thận này được biết đến từ năm 1849 khi

Miller và cộng sự quan sát thấy bệnh nhân (bệnh

nhân) tiểu đạm, tiểu máu, thiểu niệu và tử vong

sau sốt tinh hồng nhiệt (scarlet fever)(286) Chỉ 50

năm sau, tác nhân gây bệnh là vi trùng

streptococcus mới được biết đến và điều trị với

penicillin Bệnh cảnh điển hình của VCTC hậu

nhiễm liên cầu trùng bao gồm tiểu máu xảy ra

sau 1-3 tuần bn viêm họng hoặc viêm da do

streptococcus group A tán huyết beta, strain M

có thể kèm tăng huyết áp, phù, suy thận cấp

Bệnh thường diễn tiến lành tính và tự hồi phục

sau đó 2-3 tuần Những năm gần đây, y văn bắt

đầu ghi nhận lẻ tẻ những trường hợp viêm cầu

thận cấp sau nhiễm các chủng khác của

streptococcus không thuộc nhóm A (group C và

G), vi khuẩn gram dương và âm,

staphylococcus, mycobacteria, ký sinh trùng,

nấm và virus(4) Từ đó dẫn đến một thuận ngữ

mới, bao quát hơn là “viêm cầu thận hậu nhiễm

trùng” (postinfectious glomerulonephritis) hoặc

viêm cầu thận liên quan đến nhiễm trùng

(infection associated glomerulonephritis) để

thay thể cho thuật ngữ kinh điển viêm cầu thận

hậu nhiễm streptococcus(4,5,11) Chúng tôi xin

trình bày một trường hợp nhiễm trùng huyết do

staphylococcus aureus kháng methicilline

(MRSA) trên bn viêm thận lupus Tổn thương

gây suy thận cấp không phải do lupus mà là

VCTC hậu nhiễm MRSA

Bn Phạm Minh T., nam 22 tuổi, được chuyển

bệnh viện Chợ Rẫy ngày 1/6/2010, với chẩn đoán

tăng huyết áp trên bn bệnh tự miễn (SNV

45167)

Cách nhập viện 20 ngày, bn đau khớp cổ

chân, cổ tay 2 bên Mười ngày sau, sưng đau

thêm khớp vai phải, kèm tiểu ít, phù tăng dần

đến toàn thân, bn đến khám tại phòng khám

Thận, BV Chợ Rẫy Với xét nghiệm creatinine

huyết thanh 1,8mg/dL, kháng thể kháng nhân

dương tính (20/05/10), tiểu đạm, bn được chẩn đoán viêm thận lupus và điều trị methylprednisolone 48mg/ngày uống Một ngày trước nhập viện, bn co giật toàn thân kèm sốt cao, nhập bệnh viện địa phương ghi nhận huyết

áp tăng 170/100mmHg Tại bệnh viện, bn co giật toàn thân 2 lần, sưng đau các khớp gây giới hạn

cử động khớp, creatinine huyết thanh

246 mol/L (2,78mg/dL) Bn được điều trị furosemide và aldomet và chuyển bv Chợ Rẫy Tiền căn: Sưng đau khớp cổ chân và cổ tay 2 bên từ 1 năm, được chẩn đoán viêm khớp, điều trị không rõ Bn thường sốt từng đợt không rõ nguyên nhân và tự giới hạn Bn là sinh viên đại học năm thứ 3, lối sống lành mạnh, không tiêm chích ma túy, không tiền căn đái tháo đường, bệnh thận mạn

Khám tại khoa khớp bệnh viện Chợ Rẫy (1-3/6/10): bn tỉnh, tiếp xúc được, thể trạng mập, cân nặng 90Kg, cao 175cm, da niêm hồng, không xuất huyết da niêm, kết mạc mắt không vàng, phù toàn thân Nhiệt độ 39oC, mạch 90 lần/phút, huyết áp 170/90mmHg, nhịp thở 20 lần/phút Bệnh nhân sưng đau khớp vai phải, không hồng ban cánh bướm, không hồng ban dạng đĩa, không dấu viêm da, không dấu tiêm chích ở các chi, không loét miệng, không viêm họng Các cơ quan khác không ghi nhận bất thường

Xét nghiệm

Công thức máu: hồng cầu 4,31T/L, Hb 11,7g/dL, Hct 33%, bạch cầu 15,8G/L, tiểu cầu 247G/L Ion đồ huyết tương: Na 128mMol/L, K 4mMol/L, Cl 96mMol/L, CaTP 1,7mMol/L; đường huyết 150mg%, ALT 28IU/L, AST 54IU/L; protid máu 5,4g/L; albumin 2,8g/l, CPK 1.787IU/L; LDH 1.055IU/L; cholesterol 254mg%; triglyceride 272mg%; CRP 96,7mg/L (<6mg/L), rheumatoid factor 21IU/mL (<20IU/mL); anti dsDNA 39,8IU/mL (2/6/2010), 260UI/mL (10/6/2010) (0,5-10IU/mL) Tổng phân tích nước

tiểu: pH 5.5; tỷ trọng 1.020; đường (-); protein

5.840mg%; máu > 250/ L; bạch cầu (-), Nitrit (-); XQuang tim phổi: bình thường

Trang 3

Diễn tiến

Với biểu hiện lâm sàng đau tại các khớp,

ho khạc đàm trong kèm tăng cao CRP, CKP,

anti dsDNA dương tính, bn được chẩn đoán

viêm đa cơ trên lupus đỏ hệ thống, viêm phế

quản Bn được điều trị trong 3 ngày tại khoa

khớp với Solumedrol 125mg/ngày tiêm mạch

chậm mỗi ngày trong 3 ngày, Ceftriaxon

2g/ngày tiêm mạch, Amlodipine 5mg,

Irbesartan 150mg/ngày Sau 3 ngày, kiểm tra

creatinin huyết tương 5,1mg%, bn được hội

chẩn chuyên khoa Thận, và nhận về khoa

Thận với chẩn đoán theo dõi biến chứng suy

thận cấp trên bn viêm thận lupus

Tại khoa Thận (từ 4/6/2010)

Bn được phát hiện vùng cánh tay phải sưng,

nóng đỏ, đau, từ vùng vai đến khuỷu, sốt

38,5oC, mạch 120lần/phút, huyết áp (HA)

150/80mmHg, phù toàn thân tăng, thiểu niệu

(V=300ml/24h), nước tiểu vàng trong Bạch cầu

máu tăng cao, chủ yếu neutrophil, (bảng 1) Cấy

máu âm tính 2 lần Bn được chẩn đoán viêm mô

tế bào cánh tay phải ở bn viêm thận lupus, theo

dõi suy thận cấp, phân biệt viêm cầu thận tiến

triển nhanh trên bn viêm thận lupus Bn được

dùng cefepim 2g/ngày x 11 ngày, levofloxacin

250mg truyền tĩnh mạch/ngày x 21 ngày,

methylprednisolone 48mg uống mỗi ngày và

giảm còn 24mg/ngày sau đó Tình trạng viêm

mô tế bào cánh tay cải thiện sau 3 ngày dùng

kháng sinh nhưng tình trạng ho và khó thở tăng

Bn khó thở phải ngồi, phù tăng, nhịp tim nhanh

có gallop T3 ở mỏm, phổi ran ẩm nổ 2 đáy, thể

tích nước tiểu giảm dần từ 300ml còn 100ml sau

1 tuần điều trị, kèm BUN, creatinine huyết

tương tăng dần (Bảng 1) Đạm niệu 24 giờ 2,7g,

Cặn Addis: Hồng cầu 266.660/phút, bạch cầu

88.880/phút (V=320ml) Siêu âm tim: Tràn dịch

màng ngoài tim lượng ít, dày dãn buồng thất

trái, chức năng tâm thu thất trái bình thường (EF

65%), không thấy sùi ECG: Nhịp nhanh xoang

120 lần/phút Siêu âm bụng: hai thận to, thận

phải 146 x 86mm, thận trái 145 x 64mm, giới hạn

vỏ tủy rõ, echo vỏ thận dầy hơn gan, theo dõi

bệnh lý chủ mô thận, gan nhiễm mỡ, tràn dịch

đa màng

Bảng 1: Diễn tiến nước tiểu và cận lâm sàng

Trước

NV 10 ngày N1 N4 N7 N8 N10 N12 N 18

BUN (mg/dL) 80 48 115 139 115 96 64 Creatinine HT

(mg/dL) 1,8 5,1 6,0 7,9 9,7 7,3 7,1 5,9

Na + (mMol/L) 128 132 129 132 137 133

K+ (mMol/L) 4,0 4,0 4,3 4,5 3,6 3,7 Bạch cầu máu

(G/L)

15,8

1

22,9

7

17,9 18,2 20,5 22,2

4 Neutrophil (%) 89 90 80 78 88,6 87

Hb (g/L) 11 11,7 11 10,3 9,9 6,5

V nước tiểu 500 500 400 300 350 100 100 100 Đạm niệu

(mg/dL)

2.92

0

5.84

0 Máu trong nt

(/ L)

>250 >250

Bn được chẩn đoán lupus đỏ hệ thống có biến chứng viêm cơ tim, viêm cầu thận gây suy thận cấp và có chỉ định lọc máu ngày 8 sau nhập viện (8/6) Bn được đặt catheter tĩnh mạch cảnh trong phải và lọc máu cách ngày (bảng 1) Với lọc máu, bn giảm khó thở, giảm phù, thiểu niệu (V=100ml), BUN và creatinine huyết thanh bình

ổn với creatinine ở mức 5-6mg/dL, ion đồ ổn định nhưng bạch cầu trong máu không giảm, bn được tiếp tục kháng sinh như trên

Ngày thứ 14

Bn xuất hiện hồng ban dạng đĩa ở 2 chân, và tiểu máu đại thể, Tầm soát các xét nghiệm đông cầm máu bình thường, tiểu cầu bình thường CPK 1.56IU/L (18/6/10), LDH 1.527 UI/L, procalcitonin >0,5ng/ml (9/7/10) Các triệu chứng

tự giảm sau 7 ngày

Ngày thứ 21

Lâm sàng ổn định, không sốt, không đau khớp, vẫn phù chân, vô niệu, thiếu máu diễn tiến nặng (Hct 16,6%), screening test (22/6) âm tính ở các điều kiện, không có sự hiện diện của kháng thể bất thường trong mẫu thử Bổ thể C3 77mg/dL (90-180mg/dL); C4 40mg% (10-40mg/dL) Bn được truyền 2 đơn vị hồng cầu

Trang 4

lắng, ngưng kháng sinh, tăng

methylprednisolone 48mg uống/ngày

Ngày thứ 23

Bn tạm ổn, không khó thở, được sinh thiết

thận dưới siêu âm bằng súng tự động theo kỹ

thuật free hand để xác định chẩn đoán bệnh

lý thận

Ngày thứ 25

Bệnh nhân sốt 39oC, ho khan, HA

120/80mmHg, mạch 120 lần/phút, không có

mạch nghịch, khó thở phải nằm đầu cao, tiếng

tim nghe mờ, phổi không ran Xét nghiệm: bạch

cầu máu 19,7 G/L, với neutrophil 86%,

procalcitonin 2,7mg%, XQ tim phổi: bóng tim to,

phổi sung huyết 2 rốn phổi Siêu âm tim: tràn

dịch màng ngoài tim lượng trung bình đến

nhiều, tập trung chủ yếu ở thành bên và thành

sau thất trái, dịch lợn cợn, có nhiều giả mạc và

đóng thành kén, không thấy dấu hiệu chèn ép

tim cấp Bn được hội chẩn nội tim mạch chẩn

đoán viêm mủ màng ngoài tim, và được chỉ

định chọc dò màng ngoài tim dưới siêu âm ra 50

ml dịch màu trắng đục Xét nghiệm dịch màng

tim: protein 2.900mg% (protid máu 5,4g/L),

LDH 447U/L (LDH máu 1.059U/L), thành phần

tế bào: nhiều tế bào, nhiều hồng cầu, và bạch

cầu, trong đó 24% neutrophil, 2% lymphocyte,

54% tế bào liên võng, 20% tế bào nội bì, có 1 số tế

bào kích thước lớn, nguyên sinh chất bắt màu

kiềm đậm chứa 1-2 nhân mang tiểu hạch Cấy

mủ màng ngoài tim âm tính Cell block: dịch

phản ứng viêm xuất tiết ưu thế lympho bào

Công thức máu: bạch cầu 19,73G/L, neutrophil

86%, lymphocyte 8,2% Bn được dùng kháng

sinh theo kinh nghiệm ceftriaxon 2 g/ngày x 2

ngày, levofloxacin 0,5g/ngày x 2 ngày Sau 2

ngày, lâm sàng bn chưa cải thiện, siêu âm tim

ghi nhận tràn dịch màng tim lượng nhiều đè sụp

thất phải, chẩn đoán chèn ép tim do viêm mủ

màng ngoài tim đáp ứng kém kháng sinh đang

dùng Bn được đổi sang vancomycin 1g ngày

đầu (và chỉnh liều sau đó theo nồng độ thuốc

trong máu và theo độ thanh thải cầu thận), phối hợp ciprofloxacin 0,4/ngày truyền tĩnh mạch, giảm methylprednisolone còn 24mg ngày và được chuyển khoa Ngoại Lồng ngực

Ngàythứ 29

Bn được mổ dẫn lưu màng ngoài tim dưới mũi ức, phá giả mạc Sau mổ 6 ngày, dịch màng tim còn lại rất ít, bệnh nhân hết sốt, giảm khó thở, bớt phù, tiểu khá hơn 500 – 650ml/ngày, bn được rút dẫn lưu và chuyển lại khoa Thận Tại khoa Thận, Bn hết sốt, tổng trạng khỏe hơn, nhưng vẫn ho, khó thở nhẹ phải nằm đầu cao, phổi ran ẩm nổ 2 đáy

Ngày thứ 30

Kết quả cấy máu và đàm dương tính cùng với Staphylococcus aureus Kết quả kháng sinh

đồ: kháng: ciprofloxacin, amikacin, clindamycin,

erythromycin, oxacillin, trimethoprim/ sufamethoxazole, teicoplanin, gentamicin –

NCCLS; nhạy: vancomycin, fosmycin SFM Bn

được tiếp tục kháng sinh như đã cho

Ba tuần sau dùng vancomycin, bệnh nhân sốt trở lại 39oC, bạch cầu máu tăng từ 8,3G/L lên 15,48G/L, với neutrophil chiếm 90%, bn được tầm soát tìm ổ nhiễm trùng nhưng không thấy,

do đó theo dõi nhiễm trùng liên quan catheter tĩnh mạch cảnh (đã lưu 29 ngày) Bn được cấy máu lấy từ catheter tĩnh mạch cảnh và từ tĩnh mạch ngoại biên, cả 2 đều âm tính Bn được hội chẩn khoa để phối hợp imipenem 1g/ ngày x 22 ngày, với vancomycin Sau đó, khi hết biểu hiện nhiễm trùng, BN được pulse steroid methylprednisone 250mg/ngày truyền tĩnh mạch trong 3 ngày Nhưng chức năng thận vẫn không cải thiện nên bn được đươc mổ tạo dò động tĩnh mạch tay trái để lọc máu định kỳ

Chẩn đoán xuất viện

Nhiễm trùng huyết, viêm phổi, viêm mủ màng tim do Staphylococcus aureus kháng methicilline ở bn lupus đỏ biến chứng đa phủ tạng (viêm cơ tim, viêm cầu thận, viêm khớp)

Trang 5

Kết quả sinh thiết thận

BS Nguyễn Tấn Sử và BS Trần Hiệp Đức

Thắng, khoa Giải phẫu bệnh, bệnh viện Nhân

Dân Gia Định đọc (ngày 23/6/2010):

Đại thể

Hai mẫu sinh thiết hình trụ dài 0,7 và 0.4cm,

đường kính 0,1cm

Vi thể

(nhuộm thường quy HE, PAS, trichrome):

Có tối đa 04 vi cầu (02 ở HE và PAS, 04 ở

trichrome).Tất cả các vi cầu đều có tổn thương

nặng: tăng sinh tế bào (endo và extracapillary)

tạo múi (lobulation) + cellular crescents + hư hủy

bao Bowmann’s Nhiều tế bào viêm, kể cả đa

nhân trung tính (PMN) trong và quanh vi cầu

Vi cầu không xơ hoá Các ống thận tương đối

tốt, mô kẽ viêm nhẹ, không xơ hoá Mạch máu dạng bình thường

Khảo sát miễn dịnh huỳnh quang với các kháng huyết thanh IgA, IgM, Fibrinogen, C3, C1q, Kappa và Lambda, đồng thời nhuộm chứng âm với anti-Albumin Kết quả: Dương tính mạnh (3+) dạng hạt chủ yếu ở gian mô với IgG, Fibrinogen, C1q Tương tự nhưng với mức

độ yếu hơn (từ 2+ đến 1+) với IgA, C3, và C1q Dương tính mức độ vừa (2+) rải rác dưới nội mô với Kappa và Lambda Âm tính với IgM

Kết luận

Tổn thương hình thái học và miễn dịch hùynh quang phù hợp với tình trạng nhiễm trùng nặng Lupus khó xác định do tình trạng viêm nhiễm nặng với số lượng cầu thận khảo sát

ít (hình 1-6)

Hình 1: Viêm cầu thận tăng sinh nội mạc và ngọai mạc, tăng sinh liềm tế bào (đầu mũi tên), thâm nhiễm

bạch cầu đa nhân (mủi tên nhỏ) (nhuộm Hematoxylin Eosin x400) Hình 2: Tăng sinh liềm tế bào (đầu

mũi tên), phá hủy bao Bownman ( mũi tên nhỏ) (nhuộm trichrome x400)

Hình 3: Phá hủy bao Bowman (mủi tên nhỏ), liềm tế bào (đầu mũi tên), (nhuộm PAS x400)

Hình 4: nhuộm miễn dịch hùynh quang với kháng thể kháng IgG dương tính 3+ dạng hạt vùng trung mô

Trang 6

BÀN LUẬN

Staphylococcus aureus (S aureus) là một trong

số những vi khuẩn thường trú ở người, hiện

diện ở mũi, da, họng, âm đạo, nách, tầng sinh

môn Khoảng 25-50% người lành mang vi khuẩn

này kéo dài hoặc tạm thời, đặc biệt các đối tượng

như bn đái tháo đường type 1, nhiễm HIV, tiêm

chích đường tĩnh mạch, đang lọc máu, hoặc có

tổn thương da(4,14).Những đối tượng này một khi

có S aureus ký sinh sẽ có nguy cơ bị nhiễm trùng

cao hơn những người không có vi khuẩn ký

sinh S.aureus kháng methicilline (Methicilline

Resistant Staphylococcus Aureus MRSA) là nhóm

tụ cầu vàng đề kháng với các kháng sinh nhóm

β-lactam, bao gồm penicillin và cephalosporin

MRSA đã được ghi nhận ngay sau khi

methicillin được đưa vào lâm sàng để điều trị tụ

cầu vàng từ những năm 1960 Tần suất đề kháng

này tăng dần trong 30 năm sau đó, tập trung vào

những đối tượng nằm viện, và ngay cả những

người hoặc nhân viên y tế có tiếp xúc với bn

đang nhiễm MRSA, hoặc tiền căn dùng thuốc

gây nghiện đường tĩnh mạch Từ những năm

1990, xuất hiện một chủng MRSA khác mắc phải

trong cộng đồng (community associated MRSA)

và nhạy với clindamycin và cũng ít đề kháng

hơn với các kháng sinh nhóm β-lactam(9)

Để gây bệnh, S aureus sẽ đi theo các bước

sau, (1) ký sinh trên mô ký chủ; (2) xâm nhập; (3)

khởi phát đáp ứng viêm của ký chủ làm gia tăng

đáng kể lượng bạch cầu đa nhân trung tính, tiếp sau là thâm nhiễm đại thực bào và nguyên bào

sợi (fibroblast) S.aureus tiết men catalase là men

có tác dụng chuyển fibrinogen thành fibrin và collagen bọc quanh ổ mủ, và vi khuẩn được bảo

vệ; (4) sau đó S aureus lan rộng qua các cơ quan

khác và vào máu Điểm cần lưu ý là bn khi đã

nhiễm S aureus dễ tái phát (nhất là khi có điều

kiện thuận lợi như tình trạng suy giảm miễn dịch, dùng corticosteroid) vì vi khuẩn có khả năng sống sót và tồn tại kéo dài không gây triệu chứng trong các tế bào, ngay cả trong bạch cầu

đa nhân trung tính, và trong mô(8,9) Bn của chúng tôi bị viêm da lúc nhập viện tuy ban đầu

có đáp ứng lâm sàng với cefepim,và levofloxacin, nhưng bn lại đồng thời được dùng methylprednisone liều cao và sau đó duy trì ở liều 48mg methylprednisolone để điều trị các biến chứng tim và thận của lupus Có thể đây là

lý do khác để bệnh trở nặng sau đó, lan nhanh, nhiễm trùng huyết, viêm phổi và viêm mủ màng ngoài tim

Khác với các nội tạng khác, MRSA không chỉ gây viêm mủ, nhiễm trùng tiểu hoặc abscess tại thận mà còn gây tổn thương cầu thận qua cơ chế miễn dịch gây ra do phức hợp miễn dịch kháng MRSA lưu thông và lắng đọng tại cầu thận gây viêm cầu thận cấp Hai bệnh cảnh viêm cầu thận

(VCT) sau nhiễm trùng Staphylococcus thường

được mô tả trong y văn(5,6,11) là (1) VCT cấp sau

Trang 7

nhiễm trùng shunt não thất- tâm nhĩ (V-A

shunt), hoặc não thất-phúc mạc (V-P shunt)

(điều trị não úng thủy) (shunt nephritis), với

70% do S epidermidis và 20% do S aureus và (2)

VCT sau viêm nội tâm mạc Tổn thương VCT

cấp trong những trường hợp này có sự tham gia

chủ yếu IgG và C3, tương tự VCTC hậu nhiễm

liên cầu trùng với các đặc điểm mô bệnh học

như sau(13):

Dưới kính hiển vi quang học

(1) Tăng sinh tế bào lan tỏa ở mọi cầu thận,

nhẹ nhất là chỉ tăng sinh tế bào trung mô, nặng

hơn là tăng sinh nội mạc mao mạch

(endocapillary proliferative) bao gồm tăng sinh

tế bào trung mô và tế bào nội mô mao mạch,

kèm hoặc không kèm tăng sinh tế bào ngoài

mao mạch (ngoại bì) tạo liềm (crescent) Liềm tế

bào ngoại bì nếu tăng sinh mạnh có thể gây phá

vỡ bao Bowman Liềm được hình thành bao

gồm tế bào ngoại bì lá thành bao Bowman và đại

thực bào Kích thước và phân bố của liềm tế bào

thay đổi từ cầu thận này sang cầu thận khác,

những liềm vòng quanh mao mạch cầu thận sẽ

chèn ép mao mạch này, và bít tắc hoàn toàn cầu

thận; (2) Thâm nhiễm tế bào bạch cầu đa nhân

trung tính, nều nhiều được gọi là viêm cầu thận

tăng tiết (exudative glomerulonephritis); (3)

Màng đáy bình thường

Khảo sát miễn dịch huỳnh quang

Ghi nhận giai đoạn đầu lắng đọng dạng hạt

chủ yếu IgG, ít C3 Giai đoạn sau, IgG giảm dần

biến mất chỉ còn C3 Ba dạng lắng đọng được

mô tả (1) “starry sky” (bầu trời đầy sao) lắng

đọng dạng hạt, không đều, dọc mao mạch cầu

thận, thường gặp trong tăng sinh nội mạc kèm

xuất tiết nặng; (2) lắng đọng chủ yếu vùng trung

mô; (3) “garland” lắng đọng IgG và C3 trên

thành mao mạch cầu thận

Khảo sát kính hiển vi điện tử

Khẳng định hình ảnh tăng sinh các tế bào

của kính hiển vi quang học Nhưng đặc trưng

của VCT cấp hậu nhiễm liên cầu trùng là các

hump lắng đọng ở lớp đặc ở trung tâm của màng đáy, về phía tế bào ngoại bì

Trong hơn 10 năm gần đây, hàng loạt các báo cáo từ Nhật(1,5,6,7,17), sau đó tại các nước khác như Đài Loan(16), Mỹ(10,4), Trung Quốc, Thailand(4) ghi nhận một thể bệnh VCTC sau nhiễm trùng huyết do MRSA, có các đặc điểm sau (1) lâm sàng biểu hiện VCT tiến triển nhanh, VCT cấp,

và đôi khi cả hội chứng thận hư, thời gian từ lúc nhiễm MRSA đến lúc có biểu hiện lâm sàng tại thận là từ 5,4 đến 6 tuần; (2) huyết thanh có tăng IgA, IgG, có hiện diện phức hợp miễn dịch lưu thông, bổ thể C3 bình thường hoặc giảm, nồng

độ enterotoxin gia tăng, nhất là SE-A và SE-C, cả toxic shock syndrome toxin-1 (TSST-1); (3) khảo sát miễn dịch huỳnh quang, lắng đọng IgA là nổi trội hoặc cùng cường độ với IgG, và C3 ở vùng trung mô, dọc theo mao mạch cầu thận; (4) kính hiển vi điện tử ghi nhận có lắng đọng vùng trung mô, vùng dưới nội mô và cả dưới ngoại bì,

có thể gây phá hủy màng đáy cầu thận

Qua các nghiên cứu mức tế bào và cytokine,

so sánh giữa nhóm MRSA gây VCT với nhóm không gây VCT, các tác giả Nhật đưa ra cơ chế bệnh sinh(1,5,6,7,17) như sau: MRSA sản xuất các enterotoxin (Staphylococcal enterotoxin, SE) SE đóng vai trò như là một siêu kháng nguyên (superantigen) Đây là độc tố có khả năng gây nhiễm trùng huyết hoặc hội chứng choáng do độc tố (toxic shock syndrome) SE kết gắn lên phân tử HLA- class II của tế bào trình diện kháng nguyên và vào vùng Vβ của receptor tế bào T, dẫn đến kích hoạt rất mạnh tế bào T (CD4

và CD8), memory T cell, natural killer cell SE làm tăng bộc lộ các receptor tế bào T, tăng sinh

tế bào T và tăng phóng thích nhiều loại cytokine (IL2, IL4, IL6, IL8, IL1, IL10, TNF, IFN-γ…) Các cytokine này sẽ (1) kích hoạt tế bào B hoạt hóa

đa clone (polyclonal activation) làm tăng sản xuất các immunoglobuline kháng enterotoxin (IgA và IgG) và phức hợp kháng nguyên kháng thể được thành lập; (2) tác dụng trực tiếp gây viêm cầu thận và viêm ống thận mô kẽ Từ đó,

Trang 8

tác giả(5) cho rằng nhiễm MRSA có thể là một

trong các nguyên nhân gây bệnh thận IgA

Satoska A và cộng sự(15) qua hồi cứu kết quả

giải phẫu bệnh tại Ohio, Mỹ, nhận thấy 8 bn có

miễn dịch huỳnh quang tăng bắt IgA kèm với

IgG có bệnh sử liên quan nhiễm trùng

Staphylococcus với 5 bn do MRSA, 2 bn do

methicilline sensitive S aureus (MSSA) và 1 bn

do methicilline resistant S.epidermidis (MRSE)

Tác giả đưa ra những lưu ý để phân biệt giữa

nhóm bệnh cầu thận này với bệnh thận IgA vô

căn (Bảng 2) Như vậy, cùng một tác nhân gây

nhiễm trùng như S aureus có thể gây nhiều loại

sang thương bệnh học khác nhau trên thận và

cùng một sang thương bệnh thận có thể có nhiều

nguyên nhân gây ra Do vậy, trước bất kỳ một

viêm cầu thận tăng sinh nào mà nguyên nhân

chưa rõ phải được xem như do nhiễm trùng

Điều trị VCT cấp hậu nhiễm MRSA chủ yếu

là kháng sinh diệt MRSA theo kháng sinh đồ, thường là vancomycin với thời gian kéo dài 4 tuần Cho đến nay, tuy có nghiên cứu về thành công của steroid trong điều trị dạng VCT này(12), song tác giả cũng khuyến cáo, chỉ dùng steroid liều trung bình khi đã khống chế nhiễm trùng thành công như khuyến cáo chung của điều trị nhiễm trùng MRSA(3)

Tiên lượng bệnh tùy thuộc mức độ trầm trọng của nhiễm trùng, tình trạng miễn dịch của

bn, tuổi bn và kết quả sinh thiết thận.Tiên lượng của VCT hậu nhiễm trùng thường diễn tiến thuận lợi, nhưng đôi khi diễn tiến đến suy thận mạn giai đoạn cuối, nếu tổn thương cầu thận nặng như VCT liềm hậu nhiễm Mức độ lan rộng của liềm tăng sinh trên kết quả sinh thiết thận là yếu tố tiên lượng tốt nhất khả năng diễn tiến đến suy thận mạn giai đoạn cuối(12,13,14)

Bảng 2: Phân biệt giữa VCT liên quan nhiễm trùng Staphylococcus với bệnh thận IgA vô căn (14)

Đặc điểm lâm sàng Viêm cầu thận liên quan nhiễm Staphylococcus(Staphylococcus infection- associated GN) Bệnh thận IgA vô căn (Idiopathic IgA Nephropathy)

Chủng tộc Chủ yếu người Nhật, người da trắng, Hispanic Cao nhất ở người Châu Á, thấp ở người da đen

Liên quan đến nhiễm trùng Thường có 30-40% có tiền căn nhiễm trùng

Vi khuẩn gây bệnh Staphylococcus, khoảng 70% do MRSA Siêu vi hoặc vi khuẩn

Vị trí nhiễm khuẩn Abscess nội tạng, nhiễm trùng sau mổ, nhiễm trùng da, nhiễm trùng chân trên bn đái tháo đường Nhiễm trùng hô hấp trên

Thời gian tiềm ẩn 5-10 tuần sau nhiễm Staphylococcus, một số có thểđến 16 tuần nhưng tiểu máu đồng thời với nhiễm trùng 1-2 ngày sau nhiễm trùng hô hấp trên,

hô hấp trên Tiểu máu đại thể 50-60% 30-40%, hay tái phát

Tiểu đạm Nhiều, có thể đến giới hạn hội chứng thận hư Nhẹ, trừ phi bệnh thận tiến triển

Bổ thể Giảm trong 30%, có thể giảm nhẹ Bình thường

Điều trị Kháng sinh Steroid/thuốc ức chế miễn dịch nếu bệnh tiến triển

Bn của chúng tôi được chẩn đoán viêm thận

lupus trước khi bị nhiễm trùng da và nhiễm

trùng huyết do MRSA, nên thời điểm bị VCT

cấp khó xác định, có thể sau nhiễm trùng da

khoảng 2-3 tuần, nghĩa là sớm hơn các báo cáo

khác Với bổ thể giảm nhẹ, đáng tiếc là chúng tôi

không làm điện di miễn dịch huyết thanh để

phát hiện những thay đổi của các globulin miễn

dịch trong máu, nhưng kết quả giải phẫu bệnh hoàn toàn phù hợp với y văn, với lắng đọng IgG, IgA, C3, và fibrinogen Mặc dù viêm thận lupus cũng có hình ảnh VCT liềm, nhưng trong VCT tăng sinh do lupus (1) không có thâm nhiễm bạch cầu đa nhân trung tính; và (2) với bệnh cảnh nặng, miễn dịch huỳnh quang sẽ có biểu hiện “full house” với lắng đọng tất cả các

Trang 9

thành phần tại cầu thận(13,18).Do bn bị VCT hậu

nhiễm trùng MRSA trên nền lupus đỏ biến

chứng viêm cơ tim, viêm thận, nên chúng tôi

không thể ngưng hoàn toàn steroid, mà chỉ giảm

steroid còn liều kháng viêm Việc lọc máu định

kỳ đã hỗ trợ chúng tôi rất nhiều trong việc duy

trì cân bằng điện giải, tránh phù phổi cấp và bảo

vệ tính mạng bn Khi điều kiện bn vừa tạm ổn,

chúng tôi làm sinh thiết thận Đây là ca bn đầu

tiên mà chúng tôi tiến hành sinh thiết thận trong

giai đoạn thiểu niệu của suy thận cấp, trong điều

kiện bn phù toàn thân và đang chạy thận nhân

tạo 3-4 lần trong tuần Sau sinh thiết thận, bn ổn

định và không tiểu máu Tuy mẫu thận chỉ có 4

cầu thận, nhưng với tổn thương lan tỏa, cho

phép chúng tôi chẩn đoán bệnh Thành công

này đã mở ra hướng tiếp cận chẩn đoán tích cực

để điều trị hiệu quả cho các bn bệnh thận nặng

KẾT LUẬN

Qua bệnh án này, chúng tôi đã trình bày một

dạng VCT cấp nặng tạo liềm kèm lắng đọng IgG

và IgA, gây ra do nhiễm trùng huyết do MRSA

gây viêm da, viêm phổi, viêm mủ màng ngoài

tim Việc điều trị nội khoa tích cực bằng kháng

sinh phối hợp với các biện pháp can thiệp ngoại

khoa, hỗ trợ của lọc máu giúp bảo vệ được tính

mạng của bn, mặc dù chúng tôi không bảo vệ

được thận của bn này

Ghi nhớ (Acknowledgements): Xin chân

thành cảm ơn các khoa như khoa Thận nhân tạo,

khoa Nội tim mạch, khoa Ngoại lồng ngực, khoa

Sinh hóa, Khoa Vi sinh, khoa Siêu âm, khoa

Huyết học bệnh viện Chợ Rẫy và khoa Giải

phẫu bệnh bệnh viện Nhân Dân Gia định đã hỗ

trợ chúng tôi trong chẩn đoán và điều trị bn này

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Arakawa Y, Shimizy Y, Sakurai H et al, (2006), Polyclonal

activation of an IgA subclass against Staphylococcus aureus

cell membrane antigen in post-methicillin-resistant S.aureus

infection glomerulonephritis, Nephrol Dial Transplant;

21,pp.1448-1449

Staphylococcus aureus, N Engl J Med 359;1, pp 86-87

3 Gould E.K Brindle R, Chadwick PR, et al, on behalf of the MRSA working party of the British Society for Antimicrobial Chemotherapy (2009) Guidelines (2008) for the prophylaxis and treatment of methicillin- resistant Staphylococcus aureus

(MRSA) infections in the United Kingdom J.Antimicrobial Chem;63, pp849-861

4 Kanjanabuch T, Kittikowit W.,Eiam-Ong S., (2009) An update

on acute postinfectious glomerulonephritis worldwide Nat Rev.Nephrol; 5, pp 259-269

Staphylococcus aureus related glomerulonephritis Nephrol Dial Transplant, 14 (Suppl1), pp 17-18

associated with Staphylococcus aureus infection Internal Medicine; 40 (5), pp 365-366

7 Koyama A, Sharmin S, Sakural H, et al (2004) Staphylococcus aureus cell envelope antigen is a new candidate for the

induction of IgA nephropathy Kidney Int.; 66, pp 121-132

8 Lowy F (2005) Staphylococcal infections In Harrison’ principles of Internal Medicine, Kasper D, Braunwald E, et al, McGraw Hill 16 th ed Ch 120, pp 814-823

Methicilline resistant S areus infections among patients in the

emergency department N.EngJ Med; 355, pp666-74

10 Nasr SG, Share DS, Vargas MT, D’Agati VD, Markowitz GS, (2007) Acute poststaphylococcal glomerulonephritis

superimposed on diabetic glomerulosclerosis Kid Intern;71,pp1317-1321

11 Nasr SH, Fidler ME, Valeri AM, et al (2011), Postinfectious

glomerulonephritis in the elderly, J Am Soc Nephrol ;22, pp

187-195

12 Okuyama S, Wakui H, Maki N, Kuroki J, Nishinari T, Asakura

K, Komatsuda A, Sawada K (2008) Successful treatment of post-MRSA infection glomerulonephritis with steroid therapy

Clin Nephrol;70 (4),pp 344-7

13 Parakeuwrycz OG, Sturgill BC, Bolton WK (2000) Proliferative glomerulonephritis: postinfectious, noninfectious, and crescentic forms In Tisher C, and Brenner BM, Renal pathology with clinical and functional correlations Lippincott

Co, 2 nd ed, Vol 1,Ch 8, pp 222- 257

14 Rodriguez-Iturbe B., Musser J.M (2008) The current state of poststreptococcal glomerulonephritis J Am Soc Nephrol; 19,pp 1855-1864

15 Satoskar A, Nadasky G, Plaza J.A et al, (2006) Staphylococcus infection associated glomerulonephritis mimicking IgA

Nephropathy Clin J Am Soc Nephrol; 1, pp1179-1186

16 Wen YK, Chen ML., (2010).The significance of atypical morphology in the changes of spectrum of postinfectious

glomerulonephritis; 73 (3), pp.173-9

17 Yoh K, Kobayashi M, Yamaguchi N, et al (2000).Cytokines and

T cell responses in superantigens related glomerulonephritis following Methicilline resistant Staphyloccus aureus infection

Nephrol Dial Transplant;15,pp 1170-1174

18 Yu F, Tan Y, Liu G., Wang S, Zou W, Zhao M (2009) Clinicopathological characteristics and outcomes of patients

with crescnetic lupus nephritis, Kidney Intern; 76, pp307-317

Ngày đăng: 20/01/2020, 04:01

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w