1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Hiệu quả của dụng cụ tử cung chứa levonorgestrel trong điều trị u xơ tử cung

7 64 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 320,42 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết Hiệu quả của dụng cụ tử cung chứa levonorgestrel trong điều trị u xơ tử cung với mục tiêu nhằm xác định tỷ lệ giảm thể tích tử cung sau đặt DCTC-L 6 tháng tại bệnh viện Hùng Vương. Mời các bạn cùng tham khảo bài viết.

Trang 1

HIỆU QUẢ CỦA DỤNG CỤ TỬ CUNG CHỨA LEVONORGESTREL

TRONG ĐIỀU TRỊ U XƠ TỬ CUNG

Nguyễn Duy Tài*, Võ Thị Tuyết Mai*

TÓM TẮT

Mục tiêu: Xác định tỷ lệ giảm thể tích tử cung sau đặt DCTC-L 6 tháng tại bệnh viện Hùng Vương Phương pháp: Trong thời gian từ 6/2010 đến 4/2011, chúng tôi thực hiện một nghiên cứu thử nghiệm lâm

sàng không nhóm chứng đánh giá hiệu quả sau 6 tháng đặt dụng cụ tử cung chứa levonorgestrel (DCTC-L) vào buồng tử cung để điều trị trên 50 trường hợp u xơ tử cung nhỏ có biến chứng rong kinh, đau bụng kinh chưa có chỉ định phẫu thuật Qua nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng không nhóm chứng u xơ tử cung nhỏ có biến chứng rong kinh, đau bụng kinh chưa có chỉ định phẫu thuật tại bệnh viện Hùng Vương

Kết quả: Tỷ lệ giảm thể tích tử cung là 7,.1%, giảm trung bình 13,67 ± 8,47 (S.D.)cm³, p < 0,05 Tỷ lệ giảm

lượng máu mất khi hành kinh là 80,8% Tỷ lệ giảm đau bụng kinh là 84,7% Tỷ lệ các tác dụng phụ:Tăng cân: 11,5% (p > 0,05) Rơi DCTC-L: 3,8% Không ra kinh: 5,8% Các tác dụng phụ này chiếm tỷ lệ ít và ở mức độ nhẹ Tỷ lệ hài lòng với biện pháp điều trị là 80,8%

Kết luận: Dụng cụ tử cung chứa levonorgestrel là biện pháp điều trị nội khoa hiệu quả, ít có biến chứng

nặng nề, nên được mở rộng chỉ định điều trị tại bệnh viện giúp giảm hoặc tránh được cắt tử cung, giảm gánh nặng về tâm lý và chi phí điều trị, gia tăng chất lượng cuộc sống cho người bệnh

Từ khóa: đặt dụng cụ tử cung chứa Levonorgestrel, bệnh viện Hùng Vương, rong kinh, đau bụng kinh

ABSTRACT

THE EFFECT OF LEVONORGESTREL – INTRAUTERINE DEVICE IN MYOFIBROMA TREATMENT

Nguyen Duy Tai, Vo Thi Tuyet Mai

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 16 - Supplement of No 1 - 2012: 158 - 163

Objective: To identify the proportion of uterine volume decrese after 6 month of L-IUD insertion at Hung

Vuong Hospital

Methods: A non-controlled clinical trial was conducted at Hung Vuong Hospital from June 2010 to April

2011 The aim of this study was to evaluate the results after 6 months of L-IUD insertion for the treatment of 50 cases of small uterine fibroid with metrorrhagia and dysmenorrhea but still no indication for surgery

Results: The proportion of decreased uterine volume cases was 73.1% The average volume decrease was

13.67 ± 8.47 (S.D.) cm³, p < 0.05 The proportion of decreased blood loss was 80.8% The proportion of decreased dysmenorrhea was 84.7% The rate of side effects were: weight gain: 11.5% (p>0.05) L-IUD expulsion: 3.8% Amenorrhea: 5.8% These side effects were few and not severe The satisfaction rate was 80.8%

Conclusion: L-IUD insertion is an effective medical treatment with few severe complications Therefore, it

should have larger indication in order to avoid hysterectomy, psychologic and financial burden, and increase the life quality for the patients

Keywords: L-IUD insertion, uterine volume, Hung Vuong Hospital, metrorrhagia, dysmenorrheal

*Bộ Môn Sản – Đại học Y Dược TP HCM

Tác giả liên lạc: GS Nguyễn Duy Tài ĐT: 0903856439 Email: duytamv2002@yahoo.com

Trang 2

ĐẶT VẤN ĐỀ

U xơ cơ tử cung (thường được gọi là u xơ tử

cung) là loại u lành tính thường thấy nhất ở tử

cung Điều trị phẫu thuật được chỉ định cho

những trường hợp u xơ tử cung to tương đương

tử cung có thai từ 12 tuần trở lên, u xơ to có biến

chứng chèn ép các cơ quan lân cận (nhất là niệu

quản) hay u xơ ở những vị trí đặc biệt dễ gây

biến chứng (u xơ dưới niêm mạc, u xơ trong dây

chằng rộng) hoặc khi nghi ngờ u xơ bị ung thư

hóa(1) Ngoài phương pháp điều trị phẫu thuật,

hiện nay còn có nhiều biện pháp khác để điều trị

u xơ tử cung như kỹ thuật làm tắc động mạch tử

cung chọn lọc, hoặc điều trị nội tiết chủ yếu là

Progestogen, hay các chất đồng vận GnRH,

Danazol với mục đích làm teo nhỏ khối nhân

xơ hay giảm chảy máu từ khối nhân xơ Tại

Bệnh Viện Hùng Vương, hàng năm chúng tôi đã

tiếp nhận một số lượng khá lớn bệnh nhân đến

khám và điều trị u xơ tử cung Năm 2010, bệnh

viện Hùng Vương đã có 1 099 trường hợp nhập

viện để điều trị phẫu thuật vì u xơ tử cung,

trong số đó có 832 trường hợp (75,7%) phải cắt

tử cung, chiếm tỷ lệ 59,6% tổng số các trường

hợp cắt tử cung trên tổng số bệnh phụ khoa có

chỉ định mổ

Với mục đích góp phần đa dạng hóa các

biện pháp điều trị u xơ tử cung, chúng tôi tiến

hành nghiên cứu về hiệu quả của dụng cụ tử

cung chứa levonorgestrel (DCTC-L) trong điều

trị u xơ tử cung có biến chứng rong kinh, đau

bụng kinh, chưa có chỉ định phẫu thuật nhằm

tìm hiểu những điểm mạnh và hạn chế của biện

pháp này để mở rộng chỉ định điều trị tại bệnh

viện, giảm gánh nặng về tâm lý và chi phí điều

trị cho người bệnh

Mục tiêu nghiên cứu

Xác định tỷ lệ giảm thể tích tử cung sau đặt

DCTC-L 6 tháng tại bệnh viện Hùng Vương

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Thiết kế nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu báo cáo hàng loạt

ca

Đối tượng nghiên cứu

Tất cả bệnh nhân có u xơ cơ tử cung, có rong kinh, đau bụng kinh, chưa có chỉ định phẫu thuật điều trị bằng đặt dụng cụ tử cung chứa levonorgestrel tại Bệnh viện Hùng Vương trong thời gian từ tháng 6/2010 đến tháng 4/2011

Tiêu chuẩn nhận vào

Bệnh nhân có u xơ tử cung chưa có chỉ định phẫu thuật, có rong kinh, đau bụng kinh, đã có

ít nhất một con, có nhu cầu điều trị bảo tồn, đồng ý tham gia vào nghiên cứu

Bệnh nhân có u xơ tử cung chưa có chỉ định phẫu thuật, có rong kinh, đau bụng kinh, điều trị bằng đặt dụng cụ tử cung chứa levonorgestrel (DCTC-L) tại Bệnh viện Hùng Vương

Tiêu chuẩn loại trừ

Bệnh nhân không đồng ý tham gia vào nghiên cứu

Bệnh nhân đang có bệnh lý nội, ngoại khoa khác cần điều trị

Bệnh nhân có các chống chỉ định dùng dụng

cụ tử cung chứa levonorgestrel

KẾT QUẢ Phân bố theo nhóm tuổi, địa chỉ

≤ 30 tuổi

31 – 35 t

36 – 40 t

41 – 45 t

> 45 tuổi

1

8

14

15

14

1,9 15,4 26,9 28,8 26,9 Nhận xét: Tuổi trung bình của bệnh nhân trong mẫu nghiên cứu là 42 ± 0.8; nhỏ nhất là 29 tuổi, lớn nhất là 50 tuổi

Phân bố theo nghề nghiệp, trình độ văn hóa

Nội trợ Buôn bán Công nhân Làm nông Trí thức Khác

23

15

5

7

2

0

44,2 28,8 9,6 13,5 3,8

0

Trang 3

Đặc điểm Tần suất Tỉ lệ %

Mù chữ

Cấp I

Cấp II-III

THCN-CĐ

ĐH- sau ĐH

0

11

36

3

2

0 21,2 69,2 5,8 3,8 Nhận xét: nghề nghiệp: Nội trợ chiếm tỉ lệ

cao nhất 44,2%, kế đến là buôn bán 28.8%, còn

lại là các ngành nghề khác

Phân bố theo đặc điểm về số con

1 con

2 con

3 con

4 con

12

31

5

4

23,1 59,6 9,6 7,7

Nhận xét: đa số bệnh nhân có số con còn

sống là 2, chiếm tỷ lệ 59,6%; 1 con chiếm 32,1%

Còn lại số bệnh nhân có 3 đến 4 con ít hơn,

chiếm tỷ lệ 11,5 và 7,7%

Phân bố theo lý do đến khám và điều trị

trước đó

Đau bụng kinh

Rong kinh

Cường kinh

Đau bụng kinh + cường kinh

10

9

26

7

19,2 17.3 50,0 13,5 Thuốc giảm đau

Thuốc cầm máu

Thuốc giảm đau+ cầm máu

Progestogen uống

Mổ bóc nhân xơ tử cung

17

22

7

7

8

2,7 42,3 13,5 13,5 5,5

Nhận xét: đa số bệnh nhân đến khám là vì lý

do rong kinh cường kinh, chiếm 63,7%; khoảng

19,2% là do đau bụng kinh Trong số các bệnh

nhân có 22 người (42,3%) đã từng được điều trị

trước đó với thuốc cầm máu, thuốc giảm đau 17

người (32,7%) và progestogen uống là 7 người

(13,5%) Có 15,5% các đối tượng đã được phẫu

thuật bóc nhân xơ tử cung trước đó

Thể tích tử cung trung bình (cm³)

Thời điểm Thể tích trung

bình

Giảm trung bình

P

Trước đặt

DCTC-L

Sau 1 tháng

105,58 ± 26,3 (S.D.) 103,33 ± 25,7 (S.D.) 97,04 ± 23,85

2,25 ± 3,03 (S.D.) 8,54 ± 5,12

<0,001

Thời điểm Thể tích trung

bình

Giảm trung bình

P

Sau 3 tháng Sau 6 tháng

(S.D.) 91,90 ± 20,23 (S.D.)

(S.D.) 13,67 ± 8,47(S.D.)

<0,001

<0,001

Thể tích nhân xơ tử cung trung bình (cm³)

Thời điểm Thể tích trung

bình

Giảm trung bình

P

Trước đặt DCTC-L Sau 1 tháng Sau 3 tháng Sau 6 tháng

24,32 ± 11,07 (S.D) 23,74 ± 11,08 (S.D) 22,17 ± 10,3 (S.D) 21,35 ± 9,95 (S.D)

0,58 ±1,26 (S.D) 2,15 ± 2,08 (S.D) 2,97 ± 2,14 (S.D)

<0,001

<0,001

<0,001

Nhận xét: trong kết quả này, thể tích toàn tử cung và thể tích nhân xơ tử cung đều giảm dần theo thời gian nghiên cứu Thể tích tử cung trước đặt DCTC-L là 105,58 ± 26,33 (S.D.) cm³, sau đặt 6 tháng là 91,90 ± 20,23 (S.D.) cm³; như vậy thể tích tử cung giảm từ 2,25 ± 3,03 (S.D.) cm³ đến 13,67 ± 8,47 (S.D.) cm³, bằng phép kiểm định T- test với t = 5,348 và 11,632, độ tự do là 51

và p= 0,001 có ý nghĩa thống kê Tương tự như vậy, thể tích nhân xơ tử cung giảm từ 0,58 ± 1,26 (S.D.) cm³ đến 2,97 ± 2,14 (S.D.) cm³, với t = 3,00

và 8,98, độ tự do là 41, p = 0,001 (<0,05), có ý nghĩa thống kê

Tỷ lệ máu mất khi hành kinh

Trước đặt DCTC-L Sau 1 tháng Sau 3 tháng Sau 6 tháng

100 47,2 ± 24,5 58,7 ± 18,9 80,8 ± 14,2

<0,001

<0,001

<0,001

Mức độ mất máu khi hành kinh

Thời điểm Rất

nhiều

kinh

Trước đặt DCTC-L Sau 1 tháng Sau 3 tháng Sau 6 tháng

26,9 11,5 1,9

40,4 28,8 9,6 1,9

32,7 57,7 65,4 38,0

1,9 25,0 51,9 5,8 Nhận xét: kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ

lệ máu mất khi hành kinh giảm rõ khi so sánh thời điểm trước đặt DCTC-L và các thời điểm sau đặt 1 tháng, 3 tháng, 6 tháng; bằng phép

Trang 4

kiểm định phi tham số Wilcoxon với trị số z

lần lượt là -4,234, -5,718, -6,312 và p = 0,001, có

ý nghĩa thống kê

Tỷ lệ giảm đau bụng kinh

Trước đặt DCTC-L

Sau 1 tháng

Sau 3 tháng

Sau 6 tháng

100 47,8 ± 40,1 75,6 ± 25,0 84,7 ± 22,4

0,04

<0,001

<0,001

Có 44 đối tượng thấy có giảm đau bụng kinh

rõ rệt, từ đau nhiều và rất nhiều trước đặt

DCTC-L đến chỉ còn đau ít hoặc không đau sau

đặt 6 tháng, chiếm tỷ lệ 84,7%, với p < 0,001

0

10

20

30

40

50

60

70

80

Trước

đặt

Sau đặt 1 tháng

Sau đặt 3 tháng

Sau đặt 6 tháng

Rất nhiều Nhiều Vừa Ít

Mức độ đau bụng kinh

Nhận xét: Như vậy, triệu chứng đau bụng

kinh diễn tiến theo chiều hướng tốt với mức độ

đau giảm dần theo thời gian đặt DCTC-L Sau 6

tháng, mức độ đau rất nhiều và đau nhiều giảm

mạnh từ 30,7% xuống 0% và mức độ đau ít hoặc

không đau tăng từ 57,6% lên đến 98,1%

Kết quả này khi so sánh bằng phép kiểm

định phi tham số Wilcoxon cho ra trị số p=0,001,

có ý nghĩa thống kê

Thay đổi nồng độ hemoglobin trong máu

(g/dl)

Trước đặt

DCTC -L

Sau đặt 6 tháng

Tăng trung bình

P

Nồng độ

hemoglobin

trung bình

10,96 ± 2,15 12,24 ±

2,23

1,28 ± 0,78

< 0,001

Nhận xét: Nồng độ hemoglobin trung bình trước đặt DCTC-L là 10,96 ± 2,15 S.D g/dl Sau đặt 6 tháng là 12,24 ± 2,23 S.D g/dl Như vậy sau 6 tháng nồng độ hemoglobin trung bình tăng 1,28 ± 0,78 S.D g/dl, p = 0,001,

có ý nghĩa thống kê

Thay đổi cân nặng (kg)

Trước đặt DCTC-L

Sau 6 tháng

Tăng trung bình

P

Cân nặng trung bình

49,38 ± 5,02 49,60 ±

4,84 0,21 ± 0,91 0,102

Nhận xét: Có 6 đối tượng (11,5%) tăng cân

so với thời điểm trước đặt DCTC-L Cân nặng trung bình trước khi đặt là 49,38 ± 5,02 S.D kg

và cân nặng sau đặt 6 tháng là 49,60 ± 4,84 S.D kg, như vậy mức độ tăng cân rất ít, chỉ là 0,21 ± 0,91S.D kg, không có ý nghĩa thống kê với p = 0,102 (> 0,05)

11.5

0 5 10 15

Tăng cân Rơi

DCTC-L

Không ra kinh

Biểu đồ: Tỷ lệ các tác dụng phụ

Nhận xét: trong số 52 đối tượng nghiên cứu

có 11 đối tượng (20,1%) gặp các tác dụng phụ thường thấy khi đặt DCTC-L; trong đó tăng cân

là 11.5%, không ra kinh là 5,8% và 3,8% bị rơi DCTC-L Tuy nhiên tỷ lệ các tác dụng phụ này thấp và ít hơn so với y văn đã nêu(3) Không có đối tượng nào yêu cầu gỡ DCTC-L vì các tác

dụng phụ nêu trên

1.9%

80.8%

7.7% 9.6%

Không hài lòng Hài lòng

Rất hài lòng

Không có ý kiến

Biểu đồ Mức độ hài lòng với biện pháp điều trị

Trang 5

Nhận xét: Tỷ lệ các đối tượng hài lòng với

việc điều trị bằng DCTC-L cao, chiếm 80,8%, chỉ

có 1 người (1,9%) không hài lòng

BÀN LUẬN

Trong nghiên cứu của chúng tôi, các đối

tượng đến khám vì rong kinh chiếm tỷ lệ 17,3%,

tương đương với tỷ lệ nêu trên Tuy nhiên, do

đối tượng nghiên cứu là những phụ nữ có u xơ

tử cung có biến chứng nên kết quả ghi nhận lý

do đến khám nhiều nhất là cường kinh, chiếm tỷ

lệ 50,0 %, đau bụng khi hành kinh là 19,2%; đây

cũng là những triệu chứng thường gặp của u xơ

tử cung(4)

Ghi nhận từ kết quả nghiên cứu của chúng

tôi cho thấy có 53,8 % đối tượng nghiên cứu đã

đươc điều trị trước đó với thuốc giảm đau

không steroid (NAIDs) (26,9%), thuốc cầm máu

tranexamic acid (36,5%), các progestogen uống

(13,5%) và có 15,5% các trường hợp đã từng mổ

bóc nhân xơ tử cung

Từ kết quả nghiên cứu cho thấy DCTC-L

làm giảm thể tích tử cung và thể tích nhân xơ tử

cung có ý nghĩa thống kê với p< 0,001 Thể tích

toàn tử cung và thể tích nhân xơ tử cung đều

giảm dần theo thời gian nghiên cứu Tỷ lệ giảm

thể tích tử cung là 73,1% Thể tích trung bình tử

cung giảm 13,67 ± 8,47 (S.D.) cm³ (từ 105,58 ±

26,33 (S.D.)cm³ xuống còn 91,90 ± 20,23

(S.D.)cm³

So sánh với kết quả của các tác giả khác, kết

quả giảm thể tích trung bình của tử cung trong

nghiên cứu của chúng tôi tương đương với kết

quả của tác giả Grigorieva và cộng sự(3) (giảm

trung bình 13,3 ±8,1cm³), nhưng thấp hơn so với

kết quả của tác giả J Magalhães (giảm trung

bình 35,9 ± 15,3cm³); tuy nhiên sự so sánh này

chỉ ở mức độ tương đối vì nghiên cứu được thực

hiện ở những quốc gia khác nhau, có sự khác

biệt về chủng tộc, địa lý…Còn theo nghiên cứu

của tác giả Rosa e Silva JC(8) thì thể tích trung

bình của tử cung giảm không đáng kể sau điều

trị 6 tháng, từ 203,4 28,01cm³ đến 187,0 43,5cm³,

với p= 0,11, không có ý nghĩa thống kê

Thể tích nhân xơ tử cung cũng giảm từ 24,32 ± 11,07cm³ xuống còn 22,17 ± 10.43cm³ sau 3 tháng điều trị và sau 6 tháng giảm còn 21,35 ± 9,95cm³ (p< 0,001) Cũng so sánh với các tác giả trên thì kết quả của chúng tôi tương đương với kết quả của tác giả Grigorieva và cộng sự; còn theo nghiên cứu của tác giả J Magalhães thì thể tích nhân xơ

tử cung giảm ít, chỉ 5,2± 3,1 cm³ sau 3 năm theo dõi, không có ý nghĩa thống kê (p= 0,4099)

DCTC-L không chỉ ngừa thai mà còn có thể

ức chế u xơ tử cung phát triển(3) Một nghiên cứu dân số đa trung tâm so sánh DCTC-L và dụng

cụ tử cung có đồng cho thấy DCTC-L làm giảm

sự phát triển của u xơ tử cung và chỉ có tỷ lệ thấp phải phẫu thuật sau 5 năm sử dụng(8) Rất nhiều báo cáo và thử nghiệm lâm sàng cho thấy kết quả giảm kích thước nhân xơ tử cung cũng tương tự như kết quả giảm xuất huyết âm đạo ở những phụ nữ sử dụng DCTC-L(2) Một số nghiên cứu cho rằng DCTC-L có thể làm giảm thể tích tử cung ở bệnh nhân có rong kinh rong huyết cho dù có hay không có u xơ tử cung(3)

Nó có tác dụng trên nội mạc tử cung từ đó làm giảm lượng máu mất trong thời gian ngắn sau đặt(5)

Trên lâm sàng, việc giảm thể tích nhân xơ tử cung và giảm thể tích toàn tử cung tuy ít nhưng

rõ ràng và có ý nghĩa Kết quả của chúng tôi cũng phù hợp với những nghiên cứu trước đây

đã chứng minh có giảm kích thước tử cung ở những phụ nữ bị lạc nội mạc trong cơ tử cung được điều trị bằng DCTC-L Điều này trái ngược với dấu hiệu giảm thể tích quan sát được sau dùng các thuốc khác như leuprolide acetate hay mifepristone(7)

Theo nghiên cứu của các tác giả J Magalhães và cộng sự(9), Grigorieva và cộng sự(3)

cho thấy sau khi đặt DCTC-L cho những phụ nữ rong kinh rong huyết do u xơ tử cung có sự cải thiện chu kỳ kinh nguyệt có ý nghĩa sau thời gian theo dõi và giảm rõ rệt lượng máu mất khi hành kinh

Trang 6

Theo nghiên cứu của chúng tôi, lượng máu

mất khi hành kinh giảm đáng kể sau đặt

DCTC-L Tỷ lệ giảm lượng máu kinh đến 80,8% Có

khoảng một nửa số đối tượng đến khám vì rong

kinh cường kinh, tỷ lệ ra kinh nhiều và rất nhiều

giảm từ 67,3% trước khi đặt DCTC-L xuống

40,3% sau một tháng và đến sau 6 tháng thì tỷ lệ

này chỉ còn 3,8%

So sánh với kết quả nghiên cứu của tác giả J

Magalhães và cộng sự(9) thì tỷ lệ giảm lượng

máu mất sau 3 tháng của chúng tôi cao hơn

(22% so với 17,5%) và sau 6 tháng thì tương

đương (25,5% và 27,5%) Trong nghiên cứu của

tác giả Xiao B Trung Quốc(11) thì trong tháng

đầu tiên sau đặt DCTC-L, lượng máu kinh giảm

đến 35% (±12%) và sau một năm giảm 83,8% so

với trước điều trị

DCTC-L chủ yếu tác động tại chỗ, nồng độ

levonorgestrel tăng cao tại mô nội mạc tử cung

nhưng lại thấp trong tuần hoàn nên có tác động

rất ít đến chức năng buồng trứng

Levonorgestrel ức chế sự phát triển của nội mạc

tử cung; khi nội mạc tử cung tiếp xúc liên tục

với levonorgestrel gây tác động làm giảm các

thụ thể estrogen, từ đó ức chế sự kích thích của

estrogen lên nội mạc tử cung, hậu quả là làm teo

nội mạc tử cung gây thiểu kinh, vô kinh

Một tác dụng phụ khác được ghi nhận trong

nghiên cứu này là rơi DCTC-L chiếm tỷ lệ 3,8%

Tỷ lệ rơi DCTC-L nêu trong y văn là 2,9% ở

những phụ nữ dùng DCTC-L chỉ để tránh thai

và 8,9 – 13,6% ở những phụ nữ dùng DCTC-L

để điều trị xuất huyết âm đạo Hai trường hợp

rơi DCTC-L này là các đối tượng có thể tích tử

cung lớn (176cm³), lượng máu kinh và thể tích

tử cung giảm ít sau đặt DCTC-L

Nghiên cứu này cho thấy tỷ lệ hài lòng của

các đối tượng đối với biện pháp điều trị là

80,8%, là một tỷ lệ cao

KẾT LUẬN

Qua nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng không

nhóm chứng đánh giá hiệu quả sau 6 tháng đặt

dụng cụ tử cung chứa levonorgestrel (DCTC-L)

vào buồng tử cung để điều trị u xơ tử cung nhỏ

có biến chứng rong kinh, đau bụng kinh chưa có chỉ định phẫu thuật tại bệnh viện Hùng Vương,

từ tháng 6/2010 đến tháng 4/2011, chúng tôi rút

ra những kết luận sau:

Tỷ lệ giảm thể tích tử cung là 73,1%, giảm trung bình 13,67 ± 8,47 (S.D.)cm³, p < 0,05

Tỷ lệ giảm lượng máu mất khi hành kinh

là 80,8%

Tỷ lệ giảm đau bụng kinh là 84,7%

Tỷ lệ các tác dụng phụ:

Tăng cân: 11,5% (p > 0,05)

Rơi DCTC-L: 3,8%

Không ra kinh: 5,8%

Các tác dụng phụ này chiếm tỷ lệ ít và ở mức độ nhẹ

Tỷ lệ hài lòng với biện pháp điều trị là 80,8%

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Bộ Môn Phụ Sản Đại học Y Dược Thành Phố Hồ Chí Minh

(2008) “U xơ cơ tử cung”, Sản Phụ Khoa, Nhà xuất bản Y Học,

Tập II, trang 832- 841

2 Fong YF, Singh K (1999) “Effect of levonorgestrel-releasing intrauterine system on uterine myomas in a renal transplant

patient”, Contrception, 60: 51-3

3 Grigorieva V, Chen-Mok M, Tarasova M, Mikhailov A (2003)

“Use of a levonorgestrel-releasing intrauterine system to treat

bleeding related to uterine leiomyomas”, Fertil Steril, 79(5):

1194-8

4 Kaunitz AM., et al (2009) “Levonorgestrel – releasing intrauterine system and endometrial ablation in heavy menstrual bleeding: a systematic review and meta – analysis”,

Obstet Gynecol, 113(5): p.1104-16

5 Lethaby A, Cooke I, Rees Margaret C (2005) “Progesterone or progestogen-releasing intrauterine systems for heav menstrual

bleeding”, Cochrane Database of Systematic Reviews, DOI:

10.1002/14651858 CD002126 pub2

6 Magalhães J, Aldrighi JM, De Lima GR (2007) “Uterine volume and menstrual patterns in users of the levonorgestrel- releasing intrauterine system with idiopathic menorrhagia or menorrhagia

due to leiomyomas”, Contraception, 75(3): 193-8

7 Murphy AA, Morales AJ, Kettel LM, Yen SS (1995) “Regression

of uterine leiomyomata to the antiprogesterone RU486:

dose-response effect”, Fertil Steril, 64: 187-90

8 Rosa e Silva JC, de Sa Rosa e Silva AC, dos Reis FJ, Manetta LA, Ferriani RA, Nogueira AA (2005) “Use of a levonorgestrel – releasing intrauterine device for the symptomatic treatment of

uterine myomas”, J Reprod Med, 50: 613-7

9 Xiao B, Wu SC, Chong J, Zeng T, Luukkainen T (2003)

“Therapeutic effects of the levonorgestrel-releasing intrauterine

system in the treatment of idiopathic menorrhagia” Fertil Steril,

79(4):963-9

Ngày đăng: 20/01/2020, 03:52

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm