1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Đánh giá hiệu quả bảo vệ cơ tim bằng dung dịch liệt tim máu ấm trên bệnh nhân phẫu thuật tim bẩm sinh

6 74 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 330,23 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu của nghiên cứu nhằm đánh giá hiệu quả của kỹ thuật bảo vệ cơ tim bằng dung dịch liệt tim máu ấm so với dung dịch liệt tim tinh thể lạnh. Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 12/2010 đến tháng 3/2012 tại khoa Phẫu thuật Tim Mạch bệnh viện Đại học Y Dược TP HCM.

Trang 1

ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ BẢO VỆ CƠ TIM BẰNG DUNG DỊCH LIỆT TIM MÁU ẤM TRÊN BỆNH NHÂN PHẪU THUẬT TIM BẨM SINH

Lê Ngọc Hân*, Lê Quang Đình*,Nguyễn Văn Chừng**

TÓM TẮT

Mở đầu: Vấn đề bảo vệ cơ tim trong phẫu thuật tim bẩm sinh ngày càng được quan tâm Việc lựa chọn loại

dung dịch liệt tim nào đem đến hiệu quả bảo vệ cơ tim tối ưu là một thử thách đối với êkíp mổ tim Phương pháp liệt tim bằng máu ấm được đánh giá là một kỹ thuật giúp bảo vệ cơ tim tốt trong phẫu thuật tim

Mục tiêu nghiên cứu: Đánh giá hiệu quả của kỹ thuật bảo vệ cơ tim bằng dung dịch liệt tim máu ấm so với

dung dịch liệt tim tinh thể lạnh

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu can thiệp lâm sàng tiền cứu có đối chứng, từ tháng

12/2010 đến tháng 3/2012 tại khoa Phẫu thuật Tim Mạch bệnh viện Đại học Y Dược TP HCM Nhóm nghiên cứu gồm 79 bệnh nhân phẫu thuật thông liên nhĩ và thông liên thất chia làm 2 nhóm ngẫu nhiên, 36 trường hợp

áp dụng phương pháp liệt tim máu ấm và 43 trường hợp với tinh thể lạnh

Kết quả nghiên cứu: nghiên cứu cho thấy phương pháp liệt tim máu ấm có hiệu quả bảo vệ cơ tim tốt hơn

phương pháp liệt tim tinh thể lạnh được thể hiện qua sự khác biệt có ý nghĩa nồng độ lactat trong xoang vành (6,3 mmol/L so với 8,7 mmol/L với p<0,001), nồng độ troponin I cũng có sự khác biệt ở hai nhóm (2,9 ng/ml so với 3,7 ng/ml với p = 0,014) Tuy nhiên, không có khác biệt về thời gian kẹp động mạch chủ và thời gian thở máy, cũng như các biến chứng và tỷ lệ tử vong

Kết luận: phương pháp liệt tim máu ấm dễ thực hiện và đem lại hiệu quả bảo vệ cơ tim tốt Tuy nhiên,

không có sự khác biệt về triệu chứng lâm sàng và tỷ lệ tử vong giữa 2 nhóm liệt tim

Từ khóa: Liệt tim máu ấm, liệt tim tinh thể lạnh, bảo vệ cơ tin, phẫu thuật tim bẩm sinh

ABSTRACT

EVALUATION OF CARDIOPROTECTIVE EFFECTS OF WARM BLOOD CARDIOPLEGIA IN

PATIENTS UNDERGOING CONGENITAL CARDIAL SURGERY

Le Ngoc Han, Le Quang Dinh, Nguyen Van Chung

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 16 - Supplement of No 2 - 2012: 90 - 95

Objective: To evaluate the efficacys of myocardial protection by warm blood cardioplegia (WBCP) compared

with crystalloid cardioplegia (CCP) in patients undergoing congenital cardial surgery

Subjects and method: Prospective study of experimental clinical control from December 2010 to March

2012 There were 79 patients undergoing atrial septal defect and ventricular septal defect surgery were divided into two groups, 36 patients were randomly allocated WBCP and 43 patients served as CCP

Results: Base on our data, the efficacys of warm blood cardioplegia were better crystalloid cardioplegia The

lactate concentration in coronary sinus was significantly lower after warm blood than crytalloid cardioplegia (6.3 mmol/L vs 8.7 mmol/L, p<0.001), and troponin I release also significantly differrent between groups (2.9 ng/ml

vs 3.7 ng/ml, p = 0,014) However, there were no sinificantly different between in crossclamp times, duration of mechanical ventilation, complications and ratio of fatality

Conclution: Warm blood cardioplegic method provides the benefit of myocardial protection and feasibility

*Bệnh viện Đại Học Y Dược TP.HCM, **Đại Học Y Dược TP.HCM

Tác giả liên lạc: Bs Lê Ngọc Hân, ĐT: 0918599580, Email: dr.ngochan@gmail.com

Trang 2

However, there are no significantly different clinical and ratio of fatality between two groups

Key words: Warm blood cardioplegia, cystalloid cardioplegia, myocardial protection

ĐẶT VẤN ĐỀ

Phẫu thuật tim bẩm sinh ngày càng được

phát triển mạnh mẽ nhờ sự hiểu biết về cơ chế

bệnh sinh cũng như sự tiến bộ của khoa học kỹ

thuật, đã đem đến những thành công trong điều

trị bệnh tim bẩm sinh phức tạp Vấn đề bảo vệ

cơ tim trong phẫu thuật tim mạch có vai trò rất

lớn vào sự thành công của cuộc phẫu thuật Liệt

tim máu ấm được đánh giá là một phương pháp

có hiệu quả bảo vệ cơ tim trong thời gian kẹp

động mạch chủ(7,10) Trong khi đó, dung dịch liệt

tim tinh thể lạnh hầu như không có dưỡng khí

cung cấp đến mạch vành, đồng thời với nồng độ

thẩm thấu thấp dễ làm phù mô cơ tim Ngoài ra,

việc hạ nhiệt độ gây tăng kháng lực mạch vành

sẽ dẫn đến giảm phân phối dịch liệt tim đến

toàn bộ mô cơ tim và làm giảm sự phóng thích

oxy từ hemoglobin cho mô Những yếu tố trên

góp phần ảnh hưởng đến sự hồi phục chức

năng thất sau mổ(16) Do đó, dung dịch liệt tim

máu ấm ngày càng được quan tâm đáng kể

trong phẫu thuật tim trên thế giới cũng như tại

Việt Nam Chúng tôi thực hiện nghiên cứu này

nhằm chứng minh tính khả thi và hiệu quả của

phương pháp liệt tim máu ấm trong phẫu thuật

tim bẩm sinh

Mục tiêu nghiên cứu

Tính hiệu quả của kỹ thuật bảo vệ cơ tim

bằng dung dịch liệt tim máu ấm so với dung

dịch liệt tim tinh thể lạnh

Lượng giá các nguy cơ của kỹ thuật, từ đó

rút ra ưu và khuyết điểm của phương pháp để

áp dụng trên bệnh nhân phẫu thuật tim bẩm

sinh

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu

Các bệnh nhân bệnh tim bẩm sinh có chỉ

định phẫu thuật tim hở hỗ trợ tuần hoàn ngoài

cơ thể (THNCT), điều trị tại Khoa Phẫu thuật

Tim mạch BV.ĐHYD TP.HCM

Phương pháp nghiên cứu

Loại hình nghiên cứu

Nghiên cứu can thiệp lâm sàng tiền cứu, có đối chứng

Tiêu chuẩn chọn bệnh

Bệnh nhân được lên lịch mổ chương trình Bệnh nhân có bệnh tim bẩm sinh: thông liên thất và thông liên nhĩ không cao áp động mạch phổi

Bệnh nhân có cân nặng trên 10 kg

Tiêu chuẩn loại trừ

Bệnh nhân có bệnh tim bẩm sinh phức tạp Thời gian thực hiện

Từ tháng 12/2010 đến tháng 3/2012

Phương pháp tiến hành

Các bệnh nhân (BN) được chuẩn bị trước mổ thường quy Theo dõi trong và sau mổ với điện tâm đồ liên tục, huyết áp động mạch xâm lấn, bão hòa oxy mao mạch, khí máu động mạch ở những thời điểm cần thiết Đảm bảo an thần và giảm đau trong quá trình phẫu thuật bằng thuốc

mê bốc hơi Sevoflurane kết hợp với thuốc giảm đau Sufentanil và có thể kèm theo thuốc mê tĩnh mạch Huyết động duy trì ổn định trong suốt cuộc mổ(14)

Thiết lập hệ thống THNCT giữa ống thông động mạch chủ, tĩnh mạch chủ trên, tĩnh mạch chủ dưới và dưới gốc động mạch chủ Tiến hành THNCT với hạ nhiệt độ nhẹ (32-35oC) hoặc nhiệt độ bình thường (37oC) Phần trăm dung tích hồng cầu cần đạt 28-30% Lưu lượng bơm duy trì từ 2,0 đến 2,5ml/kg/m2 để ổn định huyết

áp 60-70mmHg Bệnh nhân được duy trì mê bằng thuốc mê bốc hơi Sevoflurane, khí mê trộn với oxy đưa qua hệ thống trao đổi khí Kẹp ngang động mạch chủ, bơm dung dịch liệt tim thuận chiều với một trong hai phương pháp được lựa chọn ngẫu nhiên:

Dung dịch liệt tim tinh thể lạnh

Trang 3

Thành phần gồm 1L Natriclorid pha các

dung dịch ion: 20mmol/L K+, 16mmol/L Mg++,

2mmol/L Ca++, 20mmol/L NaHCO3, Procain

hydrochloride 1mmol/L

Nhiệt độ dung dịch từ 4 – 8oC (ngâm đá)

Liều đầu 30ml/kg/3 phút (dd tinh thể được

hút bỏ)

Các liều sau 15ml/kg/1,5phút (Lấy máu động

mạch pha với 10-15 mmol/L K+, 8 mmol/L Mg++

và Procain hydrochloride 0,5mmol/L)

Thời gian giữa 2 lần bơm dung dịch liệt tim

là 15 – 30 phút

Dung dịch liệt tim máu ấm

Máu được dẫn ra sau khi trao đổi oxy qua

bộ dây dẫn được thiết kế tương hợp rồi trộn với

dung dịch có nồng độ 0.8mmol/ml K+,

0.8mmol/ml Mg++, Procain hydrochloride

0.05mmol/ml (ống Cardioplegia 20ml)

Nhiệt độ dung dịch bằng với nhiệt độ máu

cơ thể bệnh nhân

Tốc độ bơm được tính trên diện tích da của

bệnh nhân

Áp lực bơm < 50mmHg (tại gốc động mạch

chủ)

Liều đầu bơm trong 2 phút, các liều sau

trong 1 phút

Thời gian giữa 2 lần bơm dung dịch là 10 –

15 phút

Toàn bộ dung dịch liệt tim được hút về bình

chứa máu

Bộ dây liệt tim máu được thiết kế theo yêu

cầu của nghiên cứu (Hình 1)

Theo dõi và điều chỉnh nồng độ Kali trong

máu về giá trị bình thường trước khi thả kẹp

động mạch chủ

Thả kẹp động mạch chủ và cho tim đập lại

sau khi hoàn thành sửa chữa trên tim Cho bệnh

nhân thông khí trở lại, điều chỉnh các rối loạn

nhịp nếu có Khi BN được thông khí tốt, huyết

động ổn định tiến hành cai máy tim phổi nhân

tạo

Hình 1: Bộ dây liệt tim máu: 1.Nối vào đường

ĐM 2 Ống silicon được lắp vào bơm 3 Dây liệt tim & bơm tiêm 4 Nối đến BN

Xử lý và phân tích số liệu

Số liệu được nhập và xử lý bằng phần mềm SPSS 11,5

Số liệu thống kê mô tả:

Tuổi, cân nặng

Số lần làm liệt tim

Nồng độ lactate động mạch và xoang tĩnh mạch vành tại thời điểm ngay sau khi tái tưới máu động mạch vành

Số trường hợp sử dụng thuốc vận mạch

Số trường hợp có lại nhịp xoang, và cần shock điện chuyển nhịp sau khi thả kẹp động mạch chủ

Thời gian kẹp động mạch chủ, thời gian thở máy, thời gian nằm hồi sức

Nồng độ troponin I vào giờ thứ 12 sau thả kẹp động mạch chủ

Đánh giá chức năng co bóp cơ tim sau mổ tại hồi sức bằng siêu âm doppler qua thành ngực

Kết quả của phương pháp: tỉ lệ biến chứng,

tử vong sau mổ

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Nhóm nghiên cứu gồm 79 trường hợp (TH) phẫu thuật sửa chữa thông liên nhĩ và thông liên thất tại bệnh viện Đại học Y Dược TP HCM, được chia làm 2 nhóm sử dụng phương pháp liệt tim như sau:

Dung dịch liệt tim máu ấm: 36 TH (45,6%), Tuổi trung bình: 9,3

Trang 4

Dung dịch tinh thể lạnh: 43 TH (54,4%), Tuổi

trung bình: 8,3

Cả 2 nhóm tương đồng về bệnh lý, ASA, cân

nặng, và các xét nghiệm cận lâm sàng

Bảng 1: Phân bố bệnh theo dị tật, giới tính

Giới Dị tật Nam Nữ

Thông liên nhĩ

Thông liên thất

PP Liệt

tim

Số lần bơm dung dịch liệt tim

Tinh thể: 43 TH bơm 1 lần duy nhất (thời

gian liệt tim từ 15 đến 35 ph)

Máu ấm: 26 TH bơm 1 lần duy nhất (thời

gian liệt tim từ 12 đến 17 ph), 10 TH (27.8%) bơm

lần 2

Bảng 2: Kết quả so sánh

Phương pháp liệt tim

P Tinh thể Máu ấm T/bình T/bình

Nồng độ Lactate ĐM sau thả

kẹp (mmol/L)

Nồng độ Lactate xoang vành

(mmol/L)

8,7 6,3 <0,001 Hiệu số Lactate (x/vành – ĐM)

(mmol/L)

4,9 2,2 <0,001 Nồng độ Troponine I sau 12 giờ

(ng/ml)

Một số đặc điểm khác tương đồng

Không có trường hợp nào cần truyền máu

Thời gian kẹp động mạch chủ

Hầu hết trường hợp có lại nhịp xoang sau

khi thả kẹp động mạch chủ Duy nhất 1 trường

hợp bị rung thất trong nhóm liệt tim bằng tinh

thể lạnh

Không sử dụng thuốc vận mạch sau khi cai

máy THNCT

Chức năng co bóp cơ tim đánh giá qua siêu

âm tim sau mổ tốt ở cả hai nhóm

Không khác biệt về thời gian lưu lại hồi sức,

không có trường hợp tử vong

BÀN LUẬN

Về kỹ thuật

Bộ dây liệt tim được thiết kế chuyên biệt có

hệ thống đo áp lực ngay trước khi bơm vào gốc động mạch chủ Khi đó áp lực bơm tại gốc thấp hơn khoảng 30 – 40mmHg Áp lực bơm ghi nhận trong khoảng 70 – 90mmHg, phù hợp với yêu cầu kỹ thuật, do đó không có trường hợp nào tuột dây ra ở các vị trí nối

Đối với phương pháp tinh thể lạnh, khi cần liệt tim lần thứ hai, máu được lấy ra từ bình chứa sau đó làm lạnh bằng phương thức thủ công Quy trình lấy máu cho liệt tim các lần sau phức tạp và cần nhiều thao tác nên gây khó khăn cho ê-kíp chạy THNCT, cũng như tăng nguy cơ nhiễm trùng khi lấy máu ra túi chứa Trong khi đó, với phương pháp liệt tim bằng máu ấm, máu đã oxy hóa được lấy trực tiếp qua

hệ thống bơm đẩy máu vào mạch vành, máu làm liệt tim là chu trình kín và tương tự nhau ở các lần liệt tim sau Do đó, phương pháp liệt tim máu ấm đơn giản và giảm tối đa nguy cơ nhiễm trùng trong quá trình tuần hoàn ngoài cơ thể

Đảm bảo tim ngừng ngay khi bơm dung dịch liệt tim máu

Dung dịch liệt tim gây tăng nồng độ kali là 13,5 mEq/L sau khi hòa vào với máu nồng độ kali cuối cùng khoảng 18 mEq/L Đồng thời lưu lượng bơm đủ áp lực đưa máu đến toàn bộ hệ mạch vành Do đó hầu hết các trường hợp tim đều ngừng ngay trong phút đầu khi bơm dung dịch liệt tim

Thời gian giữa các lần liệt tim máu ấm từ 12 đến 17 phút, không ghi nhận trường hợp tim đập lại hay có hoạt động điện thấy trên monitor trước thời gian này Thời gian bơm dịch liệt tim lặp lại có sớm hơn 3 phút so với dịch tinh thể là

20 phút, nhưng theo khuyến cáo về bảo vệ cơ tim thì cần lặp lại liều liệt tim máu sớm khi lần đầu là dịch tinh thể Do đó, không ảnh hưởng đến thời gian kẹp động mạch chủ

Trang 5

Giảm hiện tượng pha loãng máu

Đối với phương pháp liệt tim tinh thể lạnh,

toàn bộ dung dịch cần được hút bỏ qua đường

mở nhĩ phải Tuy nhiên, khi mở nhĩ phải đã có

sẵn một lượng máu và cần được hút về bình

chứa để tránh làm mất máu, sau khi hút sạch

máu thì phẫu trường sẽ thấy rõ dịch liệt tim tinh

thể chảy ra từ xoang vành Thao tác thực hiện

cần nhanh và chính xác vì sẽ dễ dàng hút máu

bỏ đi hay hút nhầm cả dịch liệt tim về bình chứa

máu, hậu quả sẽ làm mất máu hay pha loãng

máu Vấn đề này vô cùng quan trọng đối với

bệnh nhân nhỏ ký, vì chỉ cần lượng nhỏ dịch

cũng sẽ làm pha loãng máu đáng kể và đôi khi

cần truyền thêm máu hay dùng bộ lọc máu

Như vậy sẽ tăng chi phí điều trị và có thể gây ra

những biến chứng của truyền máu

Đối với phương pháp liệt tim máu ấm, toàn

bộ dung dịch liệt tim được hút về bình chứa,

thao tác thực hiện đơn giản, không làm mất máu

và hạn chế việc truyền máu cho tất cả các trường

hợp Nhận định này tương tự với tác giả Yves(7)

trong một nghiên cứu về phương pháp liệt tim

máu ấm cho thấy lượng dịch cần thêm vào

không đáng kể và giảm truyền máu

Thể tích dung dịch liệt tim ít hơn 60 lần so

với thể tích máu Chẳng hạn, đối với bệnh nhân

nặng 10kg thì thành phần trong dịch liệt tim

máu có 150ml máu và 2,5ml dịch tinh thể Vì thế

việc pha loãng máu là không đáng kể

Hiệu quả bảo vệ cơ tim

Hiệu quả bảo vệ cơ tim được đánh giá trong

và sau phẫu thuật qua nồng độ lactate ở xoang

vành do tế bào cơ tim tiết ra trong thời gian kẹp

động mạch chủ, nồng độ troponin I tại thời

điểm 12 giờ sau phẫu thuật, chức năng co bóp

cơ tim qua siêu âm thành ngực, thời gian thở

máy, giảm thiểu biến chứng

Lactate được sản xuất bởi sự chuyển hóa tế

bào của pyruvate thành lactate trong tình trạng

yếm khí Tăng nồng độ lactate trong máu kèm

với hiện tượng toan chuyển hóa gây ra bởi sự

mất cân bằng giữa cung và cầu oxy ở mô Vì thế

nó liên quan đến mức độ nghiêm trọng của

giảm tưới máu mô(13) Trong nghiên cứu của chúng tôi, nồng độ lactate trong xoang vành được định lượng ngay sau khi thả kẹp động mạch chủ cao hơn có ý nghĩa (p<0,001) ở nhóm dung dịch liệt tim tinh thể lạnh Nồng độ lactate trong xoang vành có thể bị ảnh hưởng bởi dung dịch liệt tim tinh thể lạnh, nên chúng tôi so sánh hiệu số nồng độ lactate giữa máu xoang vành và máu động mạch cùng thời điểm ở cả hai nhóm

và kết quả ghi nhận nồng độ lactate ở nhóm liệt tim tinh thể lạnh vẫn cao hơn nhóm liệt tim máu

ấm (p<0.001) Điều này chứng tỏ có tổn thương

tế bào trong thời gian thiếu máu ở nhóm liệt tim tinh thể lạnh Tương tự với nghiên cứu của chúng tôi, Kerstin(1) cũng ghi nhận nồng độ lactate tại xoang vành với liệt tim tinh thể lạnh cao hơn so với phương pháp liệt tim máu ấm Trong nghiên cứu ghi nhận có 1 trường hợp rung thất sau thả kẹp động mạch chủ đối với phương pháp liệt tim tinh thể lạnh Cơ tim bị rung sau khi tái tưới máu có thể do các nguyên nhân: cơ tim bị tổn thương trong quá trình thiếu máu mà chủ yếu là do bảo vệ cơ tim không đạt yêu cầu, xuất hiện những bọt khí trong mạch vành gây tắc nghẽn cấp và thiếu máu cơ tim So với tác giả Yves và Sylvie(7), tỷ lệ có lại nhịp xoang với dung dịch liệt tim máu ấm cao hơn có ý nghĩa (99% so với 77%; p<0,001) với liệt tim máu lạnh Sự khác biệt có lẽ là do trong mẫu nghiên cứu của Yves gồm những bệnh lý tim bẩm sinh phức tạp, thời gian kẹp động mạch chủ dài hơn gấp 2 đến 3 lần so với nghiên cứu của chúng tôi Trong nghiên cứu chỉ chọn những bệnh lý đơn giản, thời gian THNCT ngắn nên ảnh hưởng của dung dịch liệt tim lên sự hồi phục nhịp xoang chưa nhận thấy rõ trên lâm sàng

Kết quả ngắn hạn

Thời gian thở máy không liên quan trực tiếp đến hiệu quả bảo vệ cơ tim nhưng thường là chỉ số đánh giá chất lượng bảo vệ

cơ tim trong phẫu thuật Khi bệnh nhân tự thông khí là khoảng thời gian hậu phẫu quan

Trang 6

trọng vì điều đó phản ánh huyết động ổn

định và trao đổi khí đảm bảo Kết quả nghiên

cứu cho thấy thời gian thở máy giữa 2 nhóm

không có sự khác biệt Sự biến đổi nồng độ

troponin I trong hậu phẫu thường được sử

dụng để đánh giá chất lượng bảo vệ cơ tim

Mức tăng troponin I liên quan đến loại tổn

thương tim và không ảnh hưởng đến tuổi(15)

Nghiên cứu ghi nhận nồng độ troponin tăng

cao hơn có ý nghĩa ở nhóm tinh thể lạnh

(p=0.014) Tương tự với nghiên cứu của chúng

tôi, Yves(7) nghiên cứu trên 1400 trường hợp

tim bẩm sinh cũng tìm thấy sự khác biệt có ý

nghĩa nồng độ troponin I sau 12 giờ phẫu

thuật, nhưng thời gian thở máy ở nhóm tinh

thể lạnh thì kéo dài hơn nhóm máu ấm

KẾT LUẬN

Phương pháp liệt tim máu ấm dễ áp dụng

và có hiệu quả bảo vệ cơ tim tốt trong phẫu

thuật tim bẩm sinh Kỹ thuật thực hiện đơn

giản, an toàn, giảm nguy cơ nhiễm trùng, không

ảnh hưởng đến thời gian kẹp động mạch chủ

Dung dịch liệt tim máu ấm đã hạn chế tổn

thương mô cơ tim trong thời gian kẹp động

mạch chủ Tuy nhiên, không có sự khác biệt về ý

nghĩa lâm sàng ở hai nhóm

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Sunnegårdh J (2005) “Blood Cardioplegia Provides Superior

Protection in Infant Cardiac Surgery” Ann Thorac Surg

2005;80:989 –994

child’s heart.” J Thorac Cardiovasc Surg ;88:287–293

et al.(2002)“Cold blood versus cold crystalloid cardioplegia for repair of ventricular” Ann Thorac Surg;74:530-535

J., Etievent J (2000) “Intermediate Lukewarm (20°C) antegrade intermittent blood cardioplegia compared with cold and warm blood cardioplegia.” J Thorac Cardiovasc Surg.;119:610-616

the heart: I clinical assessment of coronary sinus metabolites.” Ann Thorac Surg;72(6):S2220-2226

pediatric surgery.” The virtual textbook of extracorporeal technology

cardioplegia in the surgical treatment of congenitalheart disease: Clinical experience with 1400 cases.” J Thorac Cardiovasc Surg;133:241-246

Bài giảng Nhi khoa Nhà xuất bản Y học, chi nhánh Tp HCM, tr 43-67

9 Jacob S, Kallikourdis A, Sellke F, Dunning J (2008) “Is blood cardioplegia superior to crystalloid cardioplegia?” Interact CardioVasc Thorac Surg;7:491–499

cross-clamptime with warm heart surgery.” Lancet.;1:1443

CT, et al (1994) “Prospective, randomized trial of retrograde warm blood cardioplegia: myocardial benefit and neurological threat.” Ann Thorac Surg.;57:298-304

cardioplegia.”Ann Thorac Surg.;60: 19-23

GD, Caputo M (2004) “Myocardial metabolic changes during pediatric cardiac surgery: a randomized study of 3 cardioplegic techniques.” J Thorac Cardiovasc Surg;128:67–75

quản sớm ngay tại phòng mổ trong mổ thông liên nhĩ với tuần hoàn ngoài cơ thể" Tạp chí y học Tp HCM, tr 178-181

(2001),“Cardiac troponin I after heart surgery corrective operation in infancy and childhood” Z Kardiol; 90:408-413

Protection.” Gravlee GP., Davis RF Cardiopulmonary bypass principles and practice, Third edition; 235-243

Ngày đăng: 20/01/2020, 03:38

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w