1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Tìm hiểu các yếu tố dịch tễ, lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả điều trị đối với những bệnh nhân nhiễm ký sinh trùng đường ruột đến khám tại viện SR-KST-CT TP. HCM

8 77 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 368,44 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các bệnh ký sinh trùng đường ruột là phổ biến tại Việt Nam, việc phòng chống bệnh ký sinh trùng đường ruột cho người dân tại khu vực Nam bộ - Lâm Đồng hiện tại chưa được thực hiện một cách có hệ thống. Bài viết cho thấy việc tìm hiểu các yếu tố dịch tễ, lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả điều trị các bệnh này là cần thiết.

Trang 1

TÌM HIỂU CÁC YẾU TỐ DỊCH TỄ, LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG

VÀ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ ĐỐI VỚI NHỮNG BỆNH NHÂN

NHIỄM KÝ SINH TRÙNG ĐƯỜNG RUỘT ĐẾN KHÁM

TẠI VIỆN SR-KST-CT TP HCM

Lương Trường Sơn*, Đặng Thị Nga*, Nguyễn Ngọc Ánh*,

Đỗ Thị Phượng Linh*, Phạm Thị Thu Giang*, Trần Thị Ngân*, Mai Anh Lợi*

TÓM TẮT

Đặt vấn đề: Các bệnh ký sinh trùng đường ruột (KSTĐR) là phổ biến tại Việt Nam.Việc phòng chống bệnh

ký sinh trùng đường ruột cho người dân tại khu vực Nam bộ - Lâm Đồng hiện tại chưa được thực hiện một cách

có hệ thống Việc tìm hiểu các yếu tố dịch tễ, lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả điều trị các bệnh này là cần thiết

Đối tượng và phương pháp: Bệnh nhân đến khám, điều trị bệnh KSTĐR tại Viện Sốt rét- KST- CT TP

HCM từ tháng 6/2012 đến 12/2012 Ghi nhận các triệu chứng lâm sàng và soi phân, làm công thức máu, khảo sát men gan, chẩn đoán huyết thanh ELISA, siêu âm Thuốc điều trị theo hướng dẫn của Bộ Y tế

Kết quả: Có 302 đối tượng được nghiên cứu, chủ yếu là người có học, biết khai thác internet Triệu chứng

ngứa chiếm từ 67-100% và nổi mề đay chiếm từ 31% đến 100% Riêng nhiễm sán dây, biểu hiện chính là có đốt sán bò ra ngoài hậu môn (100%) Nhiễm amip đường ruột có biểu hiện chính là đau bụng, đi ngoài phân lỏng hoặc táo từng đợt (94%) Tỷ lệ tăng bạch cầu ái toan (BCAT) cao nhất ở bệnh sán lá gan lớn (28,6%),bệnh ấu trùng giun đũa chó (20,4%), bệnh sán gạo heo (12,3%), bệnh sán dây (14,3%), bệnh amip đường ruột (19,2%) Riêng các bệnh do giun đũa, giun móc, giun đầu gai, giun lươn thì BCAT không tăng Sau điều trị triệu chứng lâm sàng chính giảm 80-100% Với bệnh giun đũa chó lạc chủ có 73% bệnh nhân hết ngứa, 92% hết nổi mề đay, 88% bệnh nhân xét nghiệm ELISA trở về (-) Kiến thức về bệnh cũng như thực hành phòng bệnh của người bệnh đạt tỷ lệ cao

Kết luận: Triệu chứng lâm sàng chính là ngứa da, nổi mề đay; mắc sán dây có biểu hiện chính là đốt sán bò

ra ngoài hậu môn, kèm theo rối loạn tiêu hóa.Soi phân tìmthấy trứng giun đũa, giun móc, kén E histolytica Máu ngoại biên có BCAT tăng tùy theo từng bệnh Siêu âm có hình ảnh tổn thương gan trong nhiễm sán lá gan lớn Chẩn đoán huyết thanh dương tính với các bệnh ấu trùng giun đũa chó, sán lá gan lớn, giun lươn, giun đầu gai,

ấu trùng sán lợn Kết quả điều trị là các triệu chứng lâm sàng chính giảm 80-100% và triệu chứng cận lâm sàng

giảm từ 88-100%

Từ khóa: Bệnh ký sinh trùng đường ruột, Albendazole, ELISA

ABSTRACT

SURVEY ON EPIDEMIOLOGICAL, CLINICAL AND PARACLINICAL CHARACTERISTICS AND TREATMENT RESULTS OF PATIENTS INFECTED WITH INTESTINAL PARASITES ATTENDING THE INSTITUTE OF MALARIOLOGY – PARASITOLOGY – ENTOMOLOGY IN HO CHI MINH CITY

Luong Truong Son, Dang Thi Nga, Nguyen Ngoc Anh, DoThi Phuong Linh, Pham Thu Giang, Tran Thi Ngan and Mai Anh Loi

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 17 - Supplement of No 1 - 2013: 87 - 94

*: Viện Sốt rét - KST - CT TP HCM

Trang 2

Backgrounds: Intestinal parasitic diseases are common in Vietnam Currently the control of intestinal

parasitic diseases in Southern provinces of Vietnam is not systematically organized Assessment of epidemiological, clinical, Para clinical characteristics and treatment results of intestinal parasitic diseases is necessary

Subjects and methods: Patients infected with intestinal parasites attending the Institute of

Malariology-Parasitology-Entomology in Ho Chi Minh City from June, 2012 till Dec 2012 Clinical symptoms were recorded

as well as stool examination, complete blood count, liver enzymes, serodiagnosis by ELISA, ultra-sonography were performed Treatment was done according to guidelines of Ministry of Health

Results: There were 320 patients mainly knowledgeable persons, who can access the Internet Pruritus

accounted for 67-100% and urticarial 31-100% For taeniasis, proglottids creeping from the anus (100%) was the main manifestation In enteric amebiasis, abdominal pain, episodes of diarrhea and constipation accounted for 94% Eosinophilia was present in fascioliasis (28.6%), toxocariasis (20.4%), cysticercosis (12.3%), taeniasis (14.3%), and enteric amebiasis (19.2%) but not increases in ascariasis, hookworm infection, gnathostomiasis, and strongyloidiasis Following treatment, main clinical symptoms were decreased by 80-100% In toxocariasis, pruritus and urticaria were decreased by 73% and 92% of patients, respectively, and 88% of patients had Elisa results (-) Practical knowledge of the disease as well as disease prevention of patients reaches the high rate

Conclusion: Main clinical symptoms were pruritus and urticaria, while in taeniasis it was the crawling of

proglottids from the anus, accompanied by other digestive perturbations Stool exam revealed ova of ascaris, hookworms, and cysts of E histolytica There was eosinophilia depending on nature of infection and hepatic lesions in fascioliasis on ultra-sonography Serodiagnosis was positive in toxocariasis, fascioliasis, strongyloidiasis, gnathostomiasis, cysticercosis Results of treatment are the main clinical symptoms reduced by 80-100%, and clinical symptoms decreased from 88-100%

Keywords: Intestinal parasites, Albendazole, ELISA

ĐẶT VẤN ĐỀ

Nhiễm ký sinh trùng đường ruột (KSTĐR) là

một trong những bệnh phổ biến nhất ở những

quốc gia đang và kém phát triển Có khoảng 300

triệu người nhiễm giun, sán nặng là kết quả của

hơn 150.000 các ca tử vong mỗi năm (Crompton

1999; Montresor và cs, 2002)(4,5) Theo Tổ chức Y

tế Thế giới, trên thế giới có khoảng 1,2 tỷ người

nhiễm giun đũa, 1,2 tỷ người nhiễm giun móc

và 1 tỷ người nhiễm giun tóc Và khoảng 40

triệu người nhiễn sán lá nói chung, 10% dân số

trên thế giới nhiễm đơn bào (amip, trùng lông,

trùng roi…) và 10% trong số đó phát triển thành

bệnh(1)

Ở nước ta, bệnh KSTĐR khá phổ biến Vì

nằm trong khu vực nhiệt đới nên điều kiện khí

hậu thuận lợi cho mầm bệnh phát triển ở ngoại

cảnh, cùng với ý thức vệ sinh cá nhân, vệ sinh

môi trường không đảm bảo và những tập quán

sinh hoạt lạc hậu dẫn đến khả năng nhiễm ký

sinh trùng càng cao Viện Sốt rét-KST-CT TƯ điều tra từ 2006 đến 2010 cho thấy tỷ lệ nhiễm giun chung ở các tỉnh điều tra là 34% Số bệnh nhân nhiễm sán lá gan lớn năm 2006 là 4.094 ca, năm 2007 là 2.196 ca, năm 2008 là khoảng 2.250

ca bệnh, năm 2009 có khoảng 4.300 lượt ca bệnh,

và 6 tháng đầu năm 2010 có khoảng 1.300 người bệnh Bệnh sán dây và ấu trùng sán lợn được phát hiện tại 50 tỉnh thành trong cả nước (Nguyễn Mạnh Hùng, 2011)(3)

KSTĐR gây nên rất nhiều tác hại cho con người Các triệu chứng bệnh thường rất đa dạng

và dễ nhầm lẫn với bệnh cảnh lâm sàng của các chứng bệnh khác ở đường tiêu hóa với những nguyên nhân khác nhau

Khu vực Nam Bộ-Lâm Đồng hiện tại tổ chức phòng chống bệnh ký sinh trùng đường ruột cho người dân chưa được thực hiện một cách có

hệ thống Khi người dân có nghi ngờ mắc bệnh mới tự tìm đến Viện Sốt rét- KST-CT TP HCM

Trang 3

để được khám và điều trị Trước nhu cầu thực tế

nhằm bảo vệ sức khỏe của người dân, Viện đã

thành lập Trung tâm khám bệnh chuyên ngành

chuyên khám, tư vấn, xét nghiệm và điều trị các

bệnh về giun, sán, đơn bào Để đánh giá tình

trạng bệnh ký sinh trùng đường ruột của người

dân khu vực Nam Bộ - Lâm Đồng chúng tôi tiến

hành đề tài: Tìm hiểu các yếu tố dịch tễ, lâm

sàng, cận lâm sàng và kết quả điều trị đối với

những bệnh nhân nhiễm giun, sán đến khám tại

Viện Sốt rét – Ký sinh trùng – Côn trùng TP Hồ

Chí Minh

Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu tổng quát

Tìm hiểu các yếu tố dịch tễ, lâm sàng, cận

lâm sàng và kết quả điều trị bệnh nhân nhiễm

giun, sán ở những người đến khám tại Viện Sốt

rét – Ký sinh trùng – Côn trùng TP Hồ Chí

Minh

Mục tiêu cụ thể

Mô tả một số đặc điểm dịch tễ, lâm sàng, kết

quả xét nghiệm và điều trị của bệnh nhân nhiễm

giun, sán

Tìm hiểu mối liên quan giữa triệu chứng lâm

sàng, cận lâm sàng và dịch tễ của bệnh nhân

nhiễm ký sinh trùng đường ruột

Đánh giá sự hiểu biết về bệnh KSTĐR và các

biện pháp phòng chống của người bệnh tại

điểm nghiên cứu

PHƯƠNG PHÁP, KỸ THUẬT Thời gian, địa điểm và đối tượng nghiên cứu

Thời gian thực hiện: từ tháng 1/6 đến 30/12 năm 2012

Địa điểm: tại Viện Sốt rét – Ký sinh trùng – Côn trùng TP Hồ Chí Minh

Đối tượng: Bệnh nhân đến khám tại Viện

Thiết kế nghiên cứu

Dịch tễ học mô tả phân tích

Các bước tiến hành

- Phỏng vấn khi bệnh nhân đến

- Thăm khám

- Ghi chép bệnh án

- Cận Lâm sàng:

+ Soi phân bằng phương pháp Kato-Katz và soi trực tiếp

+ Xét nghiệm Công thức máu, đếm bạch cầu

ái toan, kiểm tra chức năng gan, chức năng thận + Siêu âm gan mật, ổ bụng

+ Test chẩn đoán huyết thanh: Ấu trùng giun đũa chó, Giun đầu gai, Giun lươn, Sán lá gan lớn, Ấu trùng sán lợn, Amip gan, phổi

- Chẩn đoán

- Thuốc điều trị:

Bảng 1 Phác đồ điều trị KSTĐR được áp dụng trong nghiên cứu

1 Ấu trùng giun đũa chó Chưa có Albendazole 400mg 400mg x 2lan/ngày x 21 ngày, 1 – 3 đợt

2 Giun đũa Bộ Y tế Albendazole 400mg 400mg x 1lan/ngay x 1-3 ngày

3 Giun móc Bộ Y tế Albendazole 400mg 400mg x 1lan/ngay x 3 ngày

4 Giun đầu gai Chưa có Albendazole 400mg 400mg x 2lan/ngày x 21 ngày

5 Giun lươn Khuyến cáo Cục Y tế

dự phòng

Albendazole 400mg, Ivermectin 6mg

400mg x 2lan/ngày x 7 ngày 6mg x 2 lần/ngaỳ x 2 ngày

6 Sán lá gan lớn Bộ Y tế Triclabendazole 0,25g Liều duy nhất 10mg/kg

7 Ấu trùng sán lợn Bộ Y tế Praziquantel 600mg

Albendazole 400mg

15mg/kg/lần x 2 lần / ngày x 10 ngày x 2-3 đợt, mỗi đợt cách nhau 10-20 ngày Praziquantel liều duy nhất 20mg/kg Sau đó

dùng: Albendazole 7,5mg/kg/lần x 2 lần/ngày x 30 ngày x 2-3 đợt, mỗi đợt cách nhau 10-20 ngày

8 Sán dây Bộ Y tế Praziquantel 600mg 20mg/kg x 1 lần

Trang 4

TT Cơ cấu bệnh Phác đồ Thuốc điều trị Liều dùng

9 Amip đường ruột Khuyến cáo Cục Y tế

dự phòng

Metronidazole 250mg 500mg x 2 lan/ngày x 5 – 15 ngày

- Theo dõi kết quả điều trị

Chọn mẫu

302 mẫu

Phân tích và xử lý dữ liệu

Phần mềm thống kê Stata 3.02

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Đặc điểm, dịch tễ bệnh KSTcủa đối tượng

tham gia nghiên cứu

Bảng 2 Đặc điểm của đối tượng tham gia nghiên

cứu

Đặc tính Số

người

Tỷ lệ

%

Đặc tính Số

người

Tỷ lệ

%

Giới Nam 97 32,1 Nghề

nghiệp

Làm ruộng 48 15,8

Nữ 205 67,8 Trồng rừng 15 4,9

Tuổi < 18

tuổi

7 2,3 Cán bộ VC 100 33,1

>= 18

tuổi

295 97,6 Công nhân 90 29,8

Dân Kinh 302 100 Nghề khác 49 16,4

tộc

Nhận xét: Đa số người bệnh đến khám và

điều trị là người lớn chiếm 98% và chủ yếu là cán bộ viên chức hoặc công nhân (52,9%), ngoài

ra cũng có các thành phần khác như người dân làm ruộng, trồng rừng, nội trợ chiếm tỷ lệ thấp

Bảng 3 Phân bố theo địa dư (N=302)

Địa chỉ Số

người

Tỷ lệ

%

Địa chỉ Số người Tỷ lệ

%

TP HCM 96 32,0 Đắc Lắc 15 5,0 Bình Dương 12 4,0 Quảng Ngãi 13 4,3 Cần Thơ 15 5,0 Vũng Tàu 6 2,0 Đồng Nai 5 1,7 Các tỉnh khác 140 46,3

Nhận xét: Người dân khu vực Nam Bộ -

Lâm Đồng, nhất là dân các tỉnh chưa biết tìm đến Viện để khám và điều trị Phần lớn bệnh nhân là người dân sinh sống tại thành phố, hoặc người dân Miền Trung nhân tiện đến TP HCM khám bệnh ở các bệnh viện khác giới thiệu đến

Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của người bệnh nhiễm KSTĐR

Bảng 4 Tỷ lệ (%) xuất hiện triệu chứng lâm sàng và cận lâm sàng của từng bệnh

STT Triệu chứng

Tên bệnh/số lượng

Ngứa Mề đay

Ăn kém, mệt mỏi

Rối loạn tiêu hóa

Đau đầu

Đau bụng

Sán bò

ra HM

Ngứa

HM

Bach cầu

ái toan tăng

Soi phân

có trứng hay đơn bào

Siêu âm

có tổn thương gan

ELISA

1 Ấu trùng giun đũa

chó/103

9 E histolytica (amip

đường ruột)/83

Nhận xét:

- Với bệnh ấu trùng giun đũa chó (103 bệnh

nhân), bệnh nhân đến khám với triệu chứng

ngứa, nổi mề đay là chính (94,2%), biểu hiện đau

đầu cũng xuất hiện đáng kể 25,3%, kèm theo là

những rối loạn hệ tiêu hóa Tỷ lệ bệnh nhân có

số lượng bạch cầu ái toan (BCAT) tăng trên

những bệnh nhân có huyết thanh chẩn đoán

dương tính với Toxocara canis là 20,4%

- Nhiễm sán lá gan lớn triệu chứng gây khó

chịu nhất cho bệnh nhân cũng là ngứa da, nổi

mề đay, 80% ca bệnh có ăn kém kèm theo số ít

ca bệnh có vàng da và các rối loạn khác về tiêu hóa 60% bệnh nhân có hình ảnh siêu âm tổn

Trang 5

thương gan Tỷ lệ bệnh nhân có BCAT tăng trên

bệnh nhân có huyết thanh chẩn đoán dương

tính với SLGL là 28,6%

- Ngứa da, mề đay cũng là triệu chứng chính

để người bệnh đến khám phát hiện ấu trùng sán

gạo heo Tỷ lệ bệnh nhân có BCAT tăng trên

những bệnh nhân nhiễm ấu trùng sán gạo heo là

12,3% và 100% ca bệnh xét nghiệm ELISA(+)

- Bệnh sán dây được phát hiện với 100%

bệnh nhân có sán bò ra ngoài hậu môn và ngứa

hậu môn Ngoài ra có kèm theo các triệu chứng

tiêu hóa khác Tỷ lệ bệnh nhân có BCAT tăng trên bệnh nhân nhiễm sán dây là 14,3%

- Amip đường ruột, biểu hiện rối loạn tiêu

hóa như triệu chứng phân lỏng hoặc táo bón

là biểu hiện chính của bệnh chiếm 94% Nhiễm amip đường ruột cũng gây cho người bệnh ngứa da, nổi mề đay 67,4%, Tỷ lệ bệnh nhân có BCAT tăng trên những bệnh nhân nhiễm amip đường ruột là 19,2% và 100% xét nghiệm phân có kén amip

Kết quả điều trị

Bảng 5 Tỷ lệ % biến đổi triệu chứng sau điều trị

STT Triệu chứng

Tên bệnh/số lượng

Hết ngứa

Hết

mề đay

Hết ăn kém, mệt mỏi

Hết rối loạn tiêu hóa

Hết đau đầu

Hết đau bụng

Hết sán bò

ra HM

Hết ngứa

HM

Bach cầu ái toan tăng về ngưỡng

BT

Soi phân sạch trứng /đơn bào

Siêu âm giảm KT hoặc mất hình ảnh ổ tổn thương gan

ELISSA Kháng thể trở

về BT

1 Ấu trùng giun đũa

chó/103

6 Sán lá gan lớn/35 84,6 81,8 100 100 100 100 100 100

9 E Histolytica(amip

đường ruột)/83

91,0 100 100 100 100 100 100

Nhận xét:

Bệnh ấu trùng giun đũa chó

Điều trị bệnh ấu trùng giun đũa chó bằng

Albendazole đạt hiệu quả cao Sau điều trị

biểu hiện ngứa ngoài da và nổi mề đay giảm

đáng kể Các biểu hiện khác gần như hết hoàn

toàn Đặc biệt bệnh nhân sau điều trị đều cảm

thấy ăn, ngủ tốt hơn và có 7 người tăng cân

Về cận lâm sàng, 100% chỉ số bạch cầu ái toan

sau điều trị trở về ngưỡng bình thường Với

bảng thống kê trên, sau điều trị xét nghiệm

ELISA âm tính là 23 ca tương đương với 88%

bệnh nhân có huyết thanh chẩn đoán âm tính

với ấu trùng giun đũa chó

Bệnh giun đũa, giun móc, giun đầu gai, giun lươn

- Các triệu chứng lâm sàng và cận lâm sàng của người nhiễm giun đũa sau điều trị mất hoàn toàn 100% sau điều trị sạch trứng Cũng tương

tự như điều trị giun đũa Hiệu quả điều trị bằng Albendazole cho bệnh giun móc đạt tỷ lệ cao tuyệt đối: 100% bệnh nhân khỏi bệnh

- Chỉ có 2 bệnh nhân nhiễm giun đầu gai và

6 bệnh nhân nhiễm giun lươn được phát hiện, sau điều trị bằng Albendazole các triệu chứng giảm đáng kể, về cận lâm sàng: chẩn đoán huyết thanh cho kết quả âm tính với 2 ca bệnh giun đầu gai và 6 ca bệnh giun lươn

Bệnh sán lá gan lớn

Điều trị sán lá gan lớn bằng Triclabendazole cho thấy các triệu chứng giảm rõ rệt, hình ảnh

Trang 6

siêu âm gan mật sau điều trị cho kết quả: kích

thước các ổ tổn thương giảm của hầu hết bệnh

nhân, xét nghiệm ELISA sau 3-5 tháng điều trị

cho kết quả âm tính với 100% bệnh nhân

Bệnh ấu trùng sán gạo heo

Điều trị bằng Praziquantel bệnh ấu trùng

sán gạo heo cho kết quả 98% bệnh nhân xét

nghiệm ELISA sau điều trị trở về âm tính, các

triệu chứng về tiêu hóa hết hoàn toàn, chỉ còn

biểu hiện ngứa da, mề đay, có thể bệnh mắc kèm

theo bệnh dị ứng do nguyên nhân khác

Bệnh sán dây

Bảng số liệu trên cho thấy 100% bệnh nhân

mắc sán dây đường ruột được điều trị khỏi hoàn

toàn bằng Praziquantel liều duy nhất

Bệnh amip đường ruột

Metronidazoleđạt hiệu quả cao 100% người

bệnh sau điều trị sạch kén

Kiến thức của người dân về bệnh KSTĐR

và thực hành phòng chống bệnh tại điểm

nghiên cứu

Bảng 6: Bệnh nhân tìm đến Viện theo thông tin

STT Nguồn thông tin Số người Tỷ lệ %

3 Người khác giới thiệu 85 28,3

4 Tự tìm đến (nhìn thấy

biển tên Viện)

35 11,7

Nhận xét: Với 55,0% bệnh nhân tìm đến Viện

theo nguồn Internet cho thấy số bệnh nhân chủ

yếu biết đến Viện là đối tượng có kiến thức khai

thác các trang mạng xã hội, trực tiếp hoặc gián

tiếp được tiếp xúc với Internet Với các nguồn

thông tin khác tỷ lệ thấp Điều này chứng tỏ

người dân có bệnh về KSTĐR vẫn chưa biết tìm

đến Viện để điều trị Nhất là những người dân

nông thôn

Bảng 7 Hiểu biết về bệnh KSTĐR

STT Nội dung nhận thức Số người nhận

thức đúng

Tỷ lệ

%

1 Biết tên một trong những

loại KST gây bệnh cho

251 83,7

STT Nội dung nhận thức Số người nhận

thức đúng

Tỷ lệ

%

người

2 Biết tác hại KST gây bệnh

cho người

70 23,3

3 Biết nguyên nhân KTS gây

bệnh cho người

167 55,7

Nhận xét: Người bệnh biết tên 1 vài con giun

sán đạt tỷ lệ cao, bên cạnh đó cũng có 16,3% số người mắc bệnh không kể tên được loài KSTĐR nào Và biết 1 đến 2 tác hại do nó gây ra cũng như 1 đến 2 nguyên nhân nó gây bệnh cho người Đa số họ không nắm được đầy đủ những thông tin của bệnh KSTĐR

Bảng 8 Thực hành phòng chống các bệnh do

KSTĐR

STT Nội dung thực hành Số người thực

hành đúng

Tỷ lệ

%

1 Biết cách phòng chống đúng 86 28,7

2 Có tẩy giun định kỳ 281 93,7

3 Biết rửa rau, đồ ăn đúng 165 55,0

4 Có đi dép khi tiếp xúc với đất 299 99,7

Nhận xét: Đối tượng trong nghiên cứu hầu

hết biết thực hành tốt việc phòng chống bệnh KSTĐR, ý thức tẩy giun định kỳ đạt tỷ lệ cao 93,7%

BÀN LUẬN

Về yếu tố dịch tễ

Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy số bệnh nhân nhiễm KSTĐR tìm đến Viện điều trị với số lượng ít, chủ yếu là tầng lớp người có trình độ, những người sinh sống quanh thành phố, những người biết khai thác Internet Điều đó không có nghĩa là người dân thành phố mắc bệnh nhiều hơn nông thôn Bởi thực tế, Viện mới thành lập Trung tâm khám bệnh chuyên ngành Người dân trong khu vực chưa mấy ai biết đến Viện có phòng khám, điều trị bệnh Chính vì vậy ngoài việc tìm trên Internet người bệnh được cán bộ y tế giới thiệu đến hoặc từ các bệnh viện khác chuyển về

Về triệu chứng lâm sàng

Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy hầu hết người nhiễm bệnh KSTĐR tìm đến Viện điều trị đều có triệu chứng ngứa 67-100% và nổi mề đay

Trang 7

chiếm từ 31% đến 100% Riêng nhiễm sán dây,

biểu hiện chính của nguời bệnh là có đốt sán bò

ra ngoài hậu môn chiếm tỷ lệ 100% Và nhiễm

amip đường ruột hiểu hiện chính của người

bệnh là đau bụng, đi ngoài phân lỏng hoặc táo

từng đợt chiếm 94% Ngoài ra các triệu chứng

khác chủ yếu biểu hiện của rối loạn tiêu hóa

(đau bụng, kém ăn, vàng da…chiếm tỷ lệ thấp)

Về triệu chứng cận lâm sàng

Trong nghiên cứu 302 bệnh nhân nhiễm

giun, sán, đơn bào có tỷ lệ bệnh nhân tăng

BCAT thấp nhất là 0% và cao nhất gặp trong

bệnh sán lá gan lớn là 28,6% Thực tế người

bệnh đến điều trị đa số là người dân nhiễm bệnh

từ lâu, đã đi chữa bệnh ở nhiều nơi không khỏi,

nên cơ thể đã có sự thích nghi Chính vì vậy với

nghiên cứu này cho kết quả khác với các nghiên

cứu đã tham khảo(2). Bệnh ấu trùng giun đũa

chó: BCAT tăng chiếm 20,4% Bệnh giun đũa,

giun móc, giun đầu gai, giun lươn: BCAT không

tăng Bệnh sán gạo heo: BCAT tăng 12,3% Bệnh

Sán dây BCAT tăng 14,3% Bệnh Sán lá gan lớn

BCAT tăng 28,6% Bệnh amip đường ruột BCAT

tăng 19,2% Siêu âm có hình ảnh tổn thương gan

trong nhiễm sán lá gan lớn 60% Chẩn đoán

huyết thanh dương tính với bệnh: ấu trùng giun

đũa chó, sán lá gan lớn, giun lươn, giun đầu gai,

ấu trùng sán lợn

Về điều trị

Sau điều trị các triệu chứng của bệnh giảm

đáng kể, với các bệnh: giun đũa, giun móc,

giun lươn, giun đầu gai, sán dây, amip đường

ruột bệnh nhân sau điều trị triệu chứng lâm

sàng giảm từ 80-100%, chỉ số BCAT sau điều

trị trở về mức bình thường là 100% Tỷ lệ sạch

trứng, khi soi phân ở bệnh giun đũa, giun

móc là 100%, tỷ lệ sạch kén amip là 100% Với

bệnh giun lươn, sán lá gan lớn, giun đầu gai,

xét nghiệm ELISA trở về âm tính là 100%

Điều trị ấu trùng sán lợn cho tỷ lệ âm tính với

ELISA là 98% Riêng với bệnh giun đũa chó

lạc chủ, sau điều trị 73% bệnh nhân hết ngứa,

92% bệnh nhân hết nổi mề đay, 88% bệnh

nhân xét nghiệm ELISA trở về âm tính

Kiến thức, thực hành của người bệnh

Đối tượng trong nghiên cứu chủ yếu là tầng lớp tri thức, có kiến thức về bệnh cũng như thực hành phòng bệnh tốt

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ Kết luận

Viện mới thành lập TTKBCN, với số ít người tới khám và điều trị bệnh nên chưa kết luận được yếu tố dịch tễ Đề nghị trong thời gian tới Viện nghiên cứu thêm

Triệu chứng lâm sàng chính của của người nhiễm KSTĐR là triệu chứng ngứa chiếm từ 67-100% và nổi mề đay chiếm từ 31% đến 67-100% Riêng mắc sán dây đường ruột biểu hiện chính

là có đốt sán bò ra ngoài hậu môn 100%, kèm theo triệu chứng về rối loạn tiêu hóa: chán ăn, đau bụng, đi ngoài phân lỏng hoặc táo, vàng da…

Cận lân sàng: Soi phân trong những bệnh

tương ứng tìm thấy trứng giun đũa, giun móc,

kén E Histolytica Xét nghiệm máu ngoại biên có

BCAT tăng, cao nhất là bệnh sán lá gan lớn BCAT tăng 28,6% Bệnh ấu trùng giun đũa chó: BCAT tăng chiếm 20,4% Bệnh sán gạo heo: BCAT tăng 12,3% Bệnh sán dây BCAT tăng 14,3% Bệnh amip đường ruột BCAT tăng 19,2% Bệnh giun đũa, giun móc, giun đầu gai, giun lươn: BCAT không tăng Siêu âm có hình ảnh tổn thương gan trong nhiễm sán lá gan lớn 60% Chẩn đoán huyết thanh dương tính với bệnh: ấu trùng giun đũa chó, sán lá gan lớn, giun lươn, giun đầu gai, ấu trùng sán lợn

Sau điều trị các triệu chứng lâm sàng chính giảm 80-100% và triệu chứng cận lâm sàng giảm

từ 88-100% Riêng với bệnh sán dây 100% bệnh nhân được sổ sán

Kiến nghị

Đề tài có nội dung nghiên cứu rộng, nhiều căn bệnh, cần nhiều thời gian đi sâu phân tích từng căn bệnh cụ thể Đề nghị sang năm 2013 Viện cho phép tiếp tục nghiên cứu

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 8

1 Đỗ Trung Dũng (2011), Thực trạng nhiễm giun truyền qua đất

và thiếu máu ở phụ nữ tuổi sinh sản tại một số điểm của Lào,

Campuchia và Việt Nam Công trình khoa học Báo cáo tại hội

nghị ký sinh trùng lần thứ 38 Viện Sốt rét-KST-CT TW Nhà

xuất bản Y học Hà Nội 2011, trang 64-75

2 Lê Thị Cẩm Ly, Trần Phủ Mạnh Siêu, Trần Thị Kim Dung,

Trần Vinh Hiển (2012), Tìm hiểu một số đặc điểm trong bệnh

giun sán phổ biến trên bệnh nhân tăng bạch cầu toan tính tại

bệnh viện Bệnh Nhiệt Đới TP HCM từ 2010 đến 2011 Y học

thành phố Hồ Chí Minh, chuyên đề ký sinh trùng, Phụ bản

Tập 16, Số 1, 2012, trang 18-23

3 Nguyễn Mạnh Hùng, Đỗ Trung Dũng (2011), Công tác phòng

chống giun sán giai đoạn 2006-2010, phương hướng thực hiện

chương trình phòng chống bệnh giun sán 2011-2015 Công

trình khoa học Báo cáo tại hội nghị ký sinh trùng lần thứ 38 Viện Sốt rét-KST-CT TW Nhà xuất bản Y học Hà Nội 2011, trang 7-15

4 Montresor, A, D, W, T, Crompton, T, W, Gyorkos, and L, Savioli (2002), Helminth Control in School-Age Children: A Guide for Managers of Control Programmes, Geneva: World Health Organization

5 Crompton, D,W, (1999), “How Much Helminthiasis Is There in the World?” Juornal of Parasitology 85:

397-403

Ngày đăng: 20/01/2020, 03:23

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w