Bài viết bước đầu đánh giá vai trò của siêu âm và chọc hút kim nhỏ dưới hướng dẫn siêu âm trong chẩn đoán ung thư tuyến giáp. Nghiên cứu mô tả cắt ngang tiến cứu về đặc điểm lâm sàng, siêu âm, kết quả chọc hút kim nhỏ dưới hướng dẫn siêu âm, kết quả mô bệnh học (đối với trường hợp kết quả tế bào học ác tính) của 150 bệnh nhân đến khám ở phòng khám nội tiết Bệnh viện Bạch Mai từ ngày 24/11/2011 đến ngày 29/02/2012.
Trang 1VAI TRÒ CỦA SIÊU ÂM VÀ CHỌC HÚT KIM NHỎ
DƯỚI HƯỚNG DẪN SIÊU ÂM TRONG CHẨN ĐOÁN
UNG THƯ TUYẾN GIÁP Nguyễn Khoa Diệu Vân, Phạm Thu Hà, Đặng Bích Ngọc
Trường Đại học Y Hà Nội, Bệnh viện Bạch Mai Nghiên cứu được thực hiện nhằm bước đầu đánh giá vai trò của chọc hút kim nhỏ dưới hướng dẫn siêu
âm trong chẩn đoán ung thư tuyến giáp Nghiên cứu mô tả cắt ngang tiến cứu về đặc điểm lâm sàng, siêu
âm, kết quả chọc hút kim nhỏ dưới hướng dẫn siêu âm, kết quả mô bệnh học (đối với trường hợp kết quả tế bào học ác tính) của 150 bệnh nhân đến khám ở Phòng khám Nội tiết Bệnh viện Bạch Mai từ ngày 24/11/2011 đến ngày 29/02/2012 Kết quả cho thấy có 150 bệnh nhân tuổi trung bình là 47,6 ± 12,061, nam/
nữ = 6/1, lí do đến khám không có triệu chứng chiếm tỉ lệ nhiều nhất 51,3% Có 11 bệnh nhân kết quả tế bào học và mô bệnh học là ung thư tuyến giáp Kết quả siêu âm dự đoán ung thư tuyến giáp: Nhân giảm âm 80% lành tính, 10% ác tính, ranh giới nhân không rõ 78% lành tính, 12% ác tính, vi vôi hóa trong nhân 44% lành tính, 50% ác tính, phối hợp các đặc điểm trên siêu âm và kết quả giải phẫu bệnh, có 1 dấu hiệu nhân giảm âm 10% ác tính, có 2 dấu hiệu nhân giảm âm, ranh giới không rõ 25% là ác tính, có 3 dấu hiệu nhân giảm âm, ranh giới không rõ, vi vôi hóa 100% ác tính Các dấu hiệu trên siêu âm dự đoán ung thư tuyến giáp
là nhân giảm âm, ranh giới không rõ và vì vôi hóa trong nhân.
Từ khóa: Siêu âm tuyến giáp
Địa chỉ liên hệ: Nguyễn Khoa Diệu Vân, Bộ môn Nội tổng
hợp, Trường Đại học Y Hà Nội
Email: dieuvan62@yahoo.com.vn
Ngày nhận: 8/8/2015
Ngày được chấp thuận: 10/9/2015
I ĐẶT VẤN ĐỀ
Bướu nhân tuyến giáp là một bệnh thường
gặp trong bệnh lý tuyến giáp, rất được các
nhà lâm sàng và các nhà nghiên cứu quan
tâm Đa số bướu nhân tuyến giáp không có
triệu chứng, và nhiều trường hợp được phát
hiện tình cờ bởi chính bệnh nhân, người thân
trong gia đình hoặc thầy thuốc khi đi khám các
bệnh khác hay khám kiểm tra sức khỏe
Thăm khám bằng lâm sàng, tỉ lệ mắc bướu
nhân tuyến giáp trong cộng đồng ở California
Hoa Kỳ là 7,6% và ở Thái Lan là 4% [1] Ở
Hoa Kỳ khám lâm sàng có thể phát hiện được
bướu nhân tuyến giáp ước tính 4 - 7% dân số,
phụ nữ nhiều gấp 5 lần nam giới Tỉ lệ phát
hiện được bằng siêu âm lớn hơn rất nhiều dao động từ 19 - 67% tùy nhóm nghiên cứu, 1/20 số này là ác tính [2] Hàng năm, Hiệp hội ung thư Hoa Kỳ ước tính có 17000 ca ung thư tuyến giáp được chẩn đoán và có 1300 trường hợp tử vong do ung thư [2] Tuy nhiên, nếu được chẩn đoán và điều trị tốt thì tỷ lệ sống sót cao Tại Hoa Kỳ ước tính có 190000 bệnh nhân ung thư tuyến giáp còn sống, có bệnh nhân sống sót sau 40 năm [2]
Bướu nhân tuyến giáp có hình thái học khá
đa dạng nên nhiều khi khám lâm sàng, ta không thể nhận biết hết được Vấn đề chẩn đoán còn nhiều tranh cãi chủ yếu là làm cách nào phát hiện sớm ung thư tuyến giáp Hàng năm có hàng triệu người vẫn phải mổ bướu nhân tuyến giáp mà trước khi mổ không được chẩn đoán tế bào học và phương pháp phẫu thuật thường không đủ Sau mổ khi có kết quả chẩn đoán mô bệnh học là ung thư tuyến giáp
Trang 2mới điều trị theo hướng ung thư Điều này gây
thiệt thòi lớn cho người bệnh và làm ảnh
hưởng xấu tới tiên lượng của ung thư tuyến
giáp Bệnh nhân phải chịu một chi phí lớn về
vật chất, tổn thương về mặt tinh thần do chịu
nhiều cuộc mổ và việc mổ lại lần sau bao giờ
cũng khó khăn hơn việc mổ triệt để ngay từ
đầu Vì vậy, việc chẩn đoán sớm, kịp thời
bướu nhân tuyến giáp là một vấn đề bức thiết
đặc biệt là việc chẩn đoán tổn thương lành
tính hay ác tính là điều vô cùng quan trọng
Siêu âm đóng vai trò quan trọng trong chẩn
đoán.Việc phát hiện các nhân có đường kính
< 1cm trên lâm sàng là rất khó khăn [3; 4] Áp
dụng siêu âm vào chẩn đoán thì tỉ lệ phát hiện
bướu nhân tuyến giáp bằng siêu âm tăng lên
khoảng 10 lần so với khám lâm sàng [1] Siêu
âm với đầu dò tần số cao ≥ 7.5Mhz với độ
phân giải cao giúp khảo sát cấu trúc tuyến một
cách chính xác [5] Siêu âm là một phương
tiện đáng tin cậy trong chẩn đoán bướu nhân
tuyến giáp và giúp phát hiện sự thay đổi cấu
trúc tuyến từ rất sớm Do vậy, nhiều tác giả
như Lê Hồng Cúc, Douglas đã đề xuất nên sử
dụng siêu âm như là một phương tiện sàng
lọc bướu nhân tuyến giáp [6; 7]
Chọc hút kim nhỏ là kỹ thuật đơn giản,
nhưng rất giá trị vì có thể cung cấp các thông
tin trực tiếp và đặc hiệu về một nhân tuyến
giáp Theo AACE, đây là phương pháp "được
tin tưởng là hiệu quả nhất hiện nay trong phân
biệt các nhân giáp lành tính và ác tính" với độ
chính xác lên tới 95%, nếu người chọc có kinh
nghiệm và người đọc có trình độ [8] Theo các
nghiên cứu, kỹ thuật này có tỷ lệ âm tính giả là
1 - 11%, tỷ lệ dương tính giả là 1 - 8%, độ nhạy
là 68 - 98%, và độ đặc hiệu là 72 - 100% [7]
Vì vậy, vấn đề kết hợp siêu âm và chọc hút
kim nhỏ trong chẩn đoán và điều trị đóng vai
trò quan trọng trong chẩn đoán bướu nhân
Ở nước ta, có nhiều công trình nghiên cứu
về bệnh lý tuyến giáp hoặc bằng siêu âm hoặc bằng chọc hút kim nhỏ, nhưng có rất ít đề tài nghiên cứu về việc kết hợp siêu âm và chọc hút kim nhỏ dưới hướng dẫn siêu âm trong chẩn đoán bướu nhân tuyến giáp Vì vậy, nghiên cứu được tiến hành nhằm mục tiêu: Bước đầu đánh giá vai trò của siêu âm và chọc hút kim nhỏ dưới hướng dẫn siêu âm trong chẩn đoán ung thư tuyến giáp
II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
1 Đối tượng
150 bệnh nhân có bướu nhân tuyến giáp khám tại khoa Nội tiết bệnh viện Bạch Mai
- Tiêu chuẩn lâm sàng: sờ thấy bướu nhân
ở cổ hoặc nghi ngờ có bướu nhân tuyến giáp
- Không cường giáp, không có chống chỉ định chọc hút kim nhỏ
- Những bệnh nhân sau điều trị ung thư tuyến giáp có khối bất thường vùng cổ nghi ngờ tái phát
2 Phương pháp
Nghiên cứu mô tả cắt ngang tiến cứu các đặc điểm lâm sàng, siêu âm, kết quả tế bào học của chọc hút kim nhỏ dưới hướng dẫn siêu âm, kết quả mô bệnh học sau mổ của các bệnh nhân có kết quả tế bào học ác tính của những bệnh nhân đến khám ở Phòng khám Nội tiết bệnh viện Bạch Mai từ ngày 24/11/2011 đến ngày 29/02/2012
Đánh giá kết quả siêu âm
- Tính chất phản âm
- Kích thước nhân
- Giới hạn nhân
- Vôi hóa trong nhân
- Hạch vùng kèm theo
Tiêu chuẩn đánh giá kết quả tế bào học
Trang 3mãn tính, bướu nhân tuyến giáp lành tính,
viêm tuyến giáp Hashimoto, bướu giáp keo
- Ác tính: ung thư biểu mô tuyến giáp thể
nhú, thể nang, thể tủy, thể không biệt hóa
- Nghi ngờ: quá sản tế bào, tế bào Hurth,
tổn thương u không định loại
- Không đủ bệnh phẩm: phiến đồ ít tế bào
tuyến giáp hoặc chỉ có dịch keo, hoặc nhiều
hồng cầu
3 Xử lý số liệu
Xử lý số liệu bằng phần mềm SPSS 16.0
Sử dụng thuật toán Khi bình phương với độ tin
cậy 95% tương ứng p = 0,05 Sử dụng thuật toán
T-test với độ tin cậy 95% tương ứng p = 0,05
4 Đạo đức nghiên cứu
Các xét nghiệm máu và xét nghiệm giải
phẫu bệnh sử dụng trong nghiên cứu cũng là
những xét nghiệm thường qui trong thực hành
lâm sàng để chẩn đoán ở bệnh nhân bướu
nhân tuyến giáp nhằm chẩn đoán, điều trị và
tiên lượng cho bệnh nhân Tất cả bệnh nhân
đều tự nguyện tham gia nghiên cứu
III KẾT QUẢ
1 Đặc điểm dịch tễ học
Bệnh nhân ở lứa tuổi trên 35 chiếm tỉ lệ 81,3%, cao nhất là ở lứa tuối 46 - 55 tuổi chiếm tỉ lệ 32% Tuổi trung bình của bệnh nhân là 47,6 ± 12,061 Bệnh nhân ít tuổi nhất
là 20 tuổi và nhiều tuổi nhất là 78 tuổi Tỉ lệ nữ/nam là = 6/1
Lí do đến khám: biến dạng vùng cổ chiếm 53,3% 44% phát hiện tình cờ trên siêu âm và
4 bệnh nhân sau mổ cắt tuyến giáp do ung thư tuyến giáp khám vì nghi ngờ khối tái phát
ở vùng cổ
2 Đặc điểm siêu âm
Trong nhóm nghiên cứu, dựa vào kết quả
tế bào học, có 11 bệnh nhân được chẩn đoán
là ác tính và có 129 bệnh nhân được chẩn đoán là lành tính So sánh giữa 2 nhóm lành tính và ác tính ta thấy:
2.1 Tính chất phản âm của nhân giáp
Bảng 1 Phân bố tính chất phản âm
Độ phản âm
Trong nhóm lành tính, tỉ lệ nhân giảm âm là 45.7% , nhân hỗn hợp chiếm 34,1%, nhân trống
âm chiếm 12,5%, nhân tăng âm chiếm 5.4%, nhân đồng âm chiếm tỉ lệ 2,3% Trong nhóm ác tính (7 nhân giáp và 4 hạch nghi ngờ ác tính) 100% là nhân đặc giảm âm
Trang 4Giới hạn nhân
Bảng 2 Phân bố dấu hiệu giới hạn nhân
Trong nhóm lành tính, giới hạn rõ chiếm tỉ lệ 72,9% Trong nhóm ác tính, giới hạn không
rõ chiếm tỉ lệ 100%; ở nhóm nhân lành tỉ lệ này là 27.1% Sự khác biệt trên có ý nghĩa thống kê,
p = 0,05
3.Tính chất vôi hóa
Bảng 3 Phân bố dấu hiệu vôi hóa trong nhân
Tính chất vôi hóa
Tỉ lệ vi vôi hóa trong các nhân ác tính là 72,7%; ở nhóm nhân lành tỉ lệ này là 6,2% Sự khác biệt trên có ý nghĩa thống kê, p = 0,05
4 Hạch vùng kèm theo
Siêu âm nghi ngờ hạch lympho ác tính (mất cấu trúc rốn hạch, hạch ovan, echo không đồng nhất, canxi hóa nhỏ trong hạch, xâm lấn tổ chức xung quanh), trong nghiên cứu, có 5 trường hợp hạch vùng nghi ngờ ác tính, kết quả tế bào học đều là hạch di căn của ung thư tuyến giáp thể nhú
Bảng 4 Phân bố dấu hiệu hạch vùng
Hạch vùng
Trang 5Kết hợp các đặc điểm siêu âm và kết quả giải phẫu bệnh
Xét 2 dấu hiệu trên siêu âm là nhân giảm âm, ranh giới không rõ, so sánh với kết quả tế bào học, tỉ lệ ác tính của nhóm có 2 dấu hiệu nghi ngờ trên siêu âm là 25%
Bảng 5 Dấu hiệu nhân giảm âm, ranh giới không rõ và kết quả tế bào học
Kết quả siêu âm, kết quả tế bào học Nhân giảm âm, ranh giới không rõ %
Xét 3 dấu hiệu nghi ngờ trên siêu âm là nhân giảm âm, ranh giới không rõ, canxi hóa nhỏ trong nhân và so sánh với kết quả tế bào học, thấy có 6 bệnh nhân đủ 3 dấu hiệu trên tương ứng 100% là ác tính
Bảng 6 Dấu hiệu nhân giảm âm, ranh giới không rõ, vi vôi hóa và kết quả tế bào học
Kết quả siêu âm, kết quả tế bào học Có đủ 3 dấu hiệu %
IV BÀN LUẬN
Trong nhóm lành tính, tỉ lệ nhân giảm âm
là 45,7%, nhân hỗn hợp chiếm 34,1%, nhân
trống âm chiếm 12,5%, nhân tăng âm chiếm
5,4%, nhân đồng âm chiếm tỉ lệ 2,3% Theo
Trịnh Thị Thu Hồng, giới hạn rõ trong nhóm
nhân lành là 62,5% [9] Nghiên cứu của Trần
Văn Tuấn là 83,3% [10] Nghiên cứu của
chúng tôi giới hạn rõ chiếm tỉ lệ 72,9 %; giới
hạn không rõ chiếm tỉ lệ 27,1%; sự khác biệt
này có ý nghĩa thống kê với p = 0,05 Không
vôi hóa trong nhân chiếm tỉ lệ cao nhất 78,3%
Cũng theo tác giả Trịnh Thị Thu Hồng thì tỉ lệ
này là 52,3% [9], của Trần Văn Tuấn là 33%
[10] Như vậy, đặc điểm chủ yếu của nhóm
lành tính trên siêu âm là nhân có bờ rõ, không
có vôi hóa trong nhân Moon HG nghiên cứu trên 153 bệnh nhân cũng có kết luận dấu hiệu nhân lành tính trên siêu âm như trên [11] Trong nhóm ác tính, theo nghiên cứu của các tác giả khác như Blum, Gharib, Goellner, Hegedüs… [8; 12] về mối liên quan giữa hình ảnh tổn thương trên siêu âm và tế bào học: các nhân ác tính hay gặp ở các bướu đơn nhân, trên siêu âm thường là các nhân đặc hay hỗn hợp và không gặp nhân lỏng Lê Hồng Cúc đã khảo sát trên 350 bệnh nhân bướu nhân tuyến giáp tổn thương dạng đặc cho thấy tỉ lệ tế bào học ác tính trên những bệnh nhân này là 21,6% [7] Madison cho rằng
tỉ lệ ác tính ở bướu đơn nhân cao hơn bướu
Trang 6đa nhân [13] Qua nghiên cứu, tỉ lệ đơn nhân
là 85,7% trong đó 100% là nhân đặc giảm âm
Không có chẩn đoán ác tính ở nhóm bệnh
nhân có hình ảnh nhân lỏng trên siêu âm Giới
hạn không rõ chiếm tỉ lệ 100%; ở nhóm nhân
lành tỉ lệ này là 27,1% Tỉ lệ vi vôi hóa trong
các nhân ác tính là 72,7%; ở nhóm nhân lành
tỉ lệ này là 6,2% Sự khác biệt trên có ý nghĩa
thống kê Trên siêu âm nghi ngờ hạch lympho
ác tính (mất cấu trúc rốn hạch, hạch ovan,
echo không đồng nhất, canxi hóa nhỏ trong
hạch, xâm lấn tổ chức xung quanh), trong
mẫu nghiên cứu của chúng tôi, có 5 trường
hợp hạch vùng nghi ngờ ác tính trên siêu âm,
kết quả tế bào học đều là hạch di căn của ung
thư tuyến giáp thể nhú
Như vậy, các dấu hiệu ác tính trên siêu âm
trong nhóm nghiên cứu của chúng tôi là nhân
giảm âm, đơn độc, bờ không rõ, có canxi hóa
nhỏ trong nhân, điển hình nhất là có hạch
vùng nghi ngờ ác tính Nhận định trên phù
hợp với nhiều tác giả khác Theo nghiên cứu
của Trần Văn Tuấn và Nguyễn Đình Tùng đều
kết luận rằng dấu hiệu nghi ngờ ác tính trên
siêu âm là nhân giảm âm, tổn thương đơn
độc, giới hạn không rõ, tăng sinh mạch trung
tâm và kết luận độ nhậy và độ đặc hiệu là
66,66% và 86,66% [10] Tác giả Trịnh Thị Thu
Hồng nghiên cứu trên 146 bệnh nhân bướu
giáp đa nhân cũng cho ra kết luận dấu hiệu
nghi ngờ ác tính trên siêu âm là nhân giảm
âm, vi vôi hóa, ranh giới không rõ và có hạch
cổ và kết luận độ nhậy và đô đặc hiệu của
siêu âm lần lượt là 46,6% và 87% [9] Moon
HG nghiên cứu trên 153 bệnh nhân cũng có
kết luận dấu hiệu nghi ngờ ác tính trên siêu
âm là như trên và đã ghi nhận độ nhậy độ đặc
hiệu của siêu âm lần lượt là 84,9% và 95,5%
[11] Xét riêng dấu hiệu nhân giảm âm trên
siêu âm, thì theo kết quả tế bào học, tỉ lệ ác
tính của nhóm nhân giảm âm là 9,5%; tỉ lệ
lành tính là 79,7% Xét riêng dấu hiệu nhân ranh giới không rõ trên siêu âm, tỉ lệ ác tính là 13,3% Xét riêng dấu hiệu vi vôi hóa trên siêu
âm, tỉ lệ ác tính theo kết quả tế bào học là 50% Nếu xét 2 dấu hiệu trên siêu âm là nhân giảm âm, ranh giới không rõ , so sánh với kết quả tế bào học, tỉ lệ ác tính của nhóm có 2 dấu hiệu nghi ngờ trên siêu âm là 25% Nếu ta xét cả 3 dấu hiệu nghi ngờ trên siêu âm là nhân giảm âm, ranh giới không rõ, canxi hóa nhỏ trong nhân và so sánh với kết quả tế bào học, thấy có 6 bệnh nhân đủ 3 dấu hiệu trên
và đều có kết quả tế bào học ác tính Như vậy, những nhân có cả 3 đặc điểm trên trong nhóm nghiên cứu của chúng tôi 100% là ung thư sau mổ Douglas đã dẫn ra nghiên cứu của Palpini và cộng sự trong nghiên cứu về hình ảnh siêu âm của bướu nhân tuyến giáp cho thấy các ca ung thư đều có tổn thương dạng đặc, giảm âm và có vi canxi hóa trong nhân Palpini đã chọn những bệnh nhân có tiêu chuẩn siêu âm như trên và phát hiện được 87% số 102 bệnh nhân được chọc hút kim nhỏ có chẩn đoán là ác tính [6] Xét cả 3 dấu hiệu nghi ngờ ác tính của nhân giáp trên siêu âm thì 100% các nhân đều là ác tính và
có kết quả mô bào học sau mổ là ung thư tuyến giáp thể nhú Như vậy, các tác giả trong nước và nước ngoài đều có kết luận rằng: các nhân có các đặc điểm trên siêu âm là nhân giảm âm, ranh giới không rõ, vi vôi hóa trong nhân thì khả năng rất cao là ác tính Douglas
đã kết luận rằng lợi ích của siêu âm là giúp phát hiện các tổn thương nghi ngờ ác tính và
là phương tiện hướng dẫn chọc hút kim nhỏ [6] Nhiều tác giả nhận định rằng kết hợp siêu
âm và chọc hút kim nhỏ là phương tiện tốt để chẩn đoán sớm ung thư tuyến giáp
V KẾT LUẬN
Qua nghiên cứu chúng tôi rút ra được kết
Trang 7luận như sau: các dấu hiệu nghi ngờ nhân
giáp ác tính trên siêu âm là nhân giảm âm,
giới hạn không rõ, vi vôi hóa trong nhân
Lời cảm ơn
Nhóm tác giả xin cảm ơn sự giúp đỡ của
các anh chị nhân viên tại khoa Nội tiết – Đái
tháo đường bệnh viện Bạch Mai đã hỗ trợ
trong quá trình hoàn thành đề tài nghiên cứu
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Nguyễn Thị Thắng, Trần Đình Ngạn
(2003) Đánh giá vai trò của siêu âm và chọc
hút tế bào kim nhỏ trong chẩn đoán bướu
nhân tuyến giáp Tạp chí y học, 38, 39.
2 Nguyễn Thy Khê, Mai Thế Trạch
(2007) Ung thư tuyến giáp Nội tiết học đại
cương Nhà xuất bản Y học, 198 - 207.
3 Mazzaferri EL (1993) Management of a
solitary thyroid nodule N Engl J Med, 328,
553 - 559
4 Rojeski MT, Gharib H (1985) Nodular
thyroid disease: Evaluation and
Manage-ment N Engl Med, 313, 428 - 436
5 Martin Schlumberger, Furio Pacini
(2006) Thyroid Tumors 3th edition 11 - 63,
111 - 127
6 Douglas S (2002) Non - palpable
Thyroid Nodules – Managing an Epidemic
The Journal of Clinical Endocrinology &
Metabolisme, 87(5), 1983 – 1940.
7 Lê Hồng Cúc (2002) Phát hiện sớm
ung thư tuyến giáp bằng siêu âm kết hợp với
chọc hút tế bào bằng kim nhỏ Kỷ yếu toàn văn hội nghị chẩn đoán hình ảnh và y học hạt nhân thành phố Hồ Chí Minh mở rộng Tháng
3 - 2002
8 Hegedüs L, Bonnema S.J, Benned-baek FN (2003) Management of Simple
Nod-ule goitre: Current Status and Future
Perspec-tives Endocr Rev, 24, 102 - 113.
9 Trịnh Thị Thu Hồng, Vương Thừa
Đức (2010) Hình ảnh của siêu âm trong dự
đoán ung thư bướu giáp đa nhân Y học thành
phố Hồ Chí Minh, 14(1), 55.
10 Trần Văn Tuấn, Nguyễn Đình Tùng (2010) Khảo sát hình ảnh siêu âm và chọc
hút tế bào kim nhỏ dưới hướng dẫn siêu âm các khối bất thường tuyến giáp tại bệnh viện
trung ương Huế Y học thành phố Hồ Chí
Minh, 14(4), 518.
11 Moon HG (2007) Role of
ultrasonogra-phy in predicting malignancy in patients with
thyroid nodule World J Surg, 31(7), 1410 - 1416.
12 Gharib H, Goellner JR (1993) Fine
-needle aspiration biopsy of the thyroid: an
ap-paraisal Ann Intern Med, 282 - 289.
13 Maddison D (1998) The work-up for
solitary thyroid nodules: A logical approach
Women Health Primary Care, 1(8), 641 - 644.
Summary MALIGNANCY DIAGNOSTIC VALUES OF THYROID ULTRASOUND AND FINE - NEEDLE ASPIRATION CYTOLOGY IN THYROID NODULES
Objectives of this study were to describe the characteristic of thyroid nodules and to evaluate the malignancy diagnostic values of thyroid ultrasound and fine–needle aspiration cytology in thyroid nodules 150 patients with thyroid nodule were invovled into study This is a descriptive cross- sectional study about the characteristic of thyroid nodules, the result of ultrasound, the result of fine - needle aspiration cytology under ultrasound guideline and the histopathology of the patients in the endocrinology clinic of the Bach Mai hospital from 11/24/2011 to 02/29/2012 There
Trang 8were 150 patients The average age was 47.6 ± 12.061 and the female to male ratios was 6/1 There were 11 malignant patients The malignancy diagnostic values of each ultrasound sign were poor echoes with 80% benign, 10% malignant, irregular limit with 78% benign, 12% malignant, intranodular calcification with 44% benign, 55% malignant To associate the signs ultrasound with results: 1 sign poor echo: 10% malignant, 2 signs poor echo and irregular limit: 25% malignant, 3 signs poor echo, irregular limit, and intranodular calcification: 100% malignant In conclusion, the malignancy diagnostic values of ultrasound are poor echoes, irregular limits, and intranodular cal-cification
Key word: Thyroid gland ultrasound