1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Kiến thức, thái độ, thực hành nuôi con của bà mẹ có trẻ ở các trường mẫu giáo tại Thành phố Mỹ Tho tỉnh Tiền Giang năm học 2013-2014

9 87 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 336,07 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết Kiến thức, thái độ, thực hành nuôi con của bà mẹ có trẻ ở các trường mẫu giáo tại Thành phố Mỹ Tho tỉnh Tiền Giang năm học 2013-2014 với mục tiêu xác định tỉ lệ bà mẹ có kiến thức, thái độ, thực hành nuôi con không đúng.

Trang 1

KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ, THỰC HÀNH NUÔI CON CỦA BÀ MẸ CÓ TRẺ

Ở CÁC TRƯỜNG MẪU GIÁO TẠI THÀNH PHỐ MỸ THO TỈNH TIỀN GIANG

NĂM HỌC 2013 – 2014

Tạ Văn Trầm*, Trần Quang Dư*

TÓM TẮT

Mục tiêu: Xác định tỉ lệ bà mẹ có kiến thức, thái độ, thực hành nuôi con không đúng

Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang mô tả

Kết quả: Tỉ lệ các bà mẹ có kiến thức chung không đúng là 29,8%, có thái độ chung không đúng là 41,4%, có

thực hành chung không đúng là 27,3%

Kết luận: Kiến thức, thái độ, thực hành nuôi con của bà mẹ vẫn chưa cao

Từ khóa: Suy dinh dưỡng, kiến thức, thái độ, thực hành

ABSTRACT

KNOWLEDGE, ATTITUDE, PRACTICE OF MOTHER WITH CHILD IN NURSERY SCHOOL IN MY

THO CITY, TIEN GIANG PROVINCE IN 2013 – 2014

Tran Quang Du, Ta Van Tram * Y Hoc TP Ho Chi Minh * Supplement of Vol 19 - No 3 - 2015: 42 - 50

Objectives: Determining the rate of mothers with incorrect knowledge, attitude, practice

Methods: Cross-sectional descriptive

Results: Percentage of mothers with incorrect knowledge was 29.8%, the general incorrect attitude is 41.4%,

the common incorrect practice is 27.3%

Conclusion: Knowledge, attitudes and practices of mothers in raising children is not high

Key words: Malnutrition, knowledge, attitude, practice

ĐẶT VẤN ĐỀ

Trong những năm qua, cùng với sự phát

triển của nền kinh tế xã hội, sự triển khai có hiệu

quả của nhiều chương trình phòng chống suy

dinh dưỡng (SDD) trẻ em, sự thay đổi về kiến

thức, thái độ, thực hành của các bậc cha mẹ trong

vấn đề nuôi dưỡng con trẻ, tỉ lệ trẻ SDD đã giảm

nhiều nhưng vẫn còn ở mức cao, đặc biệt là ở trẻ

dưới 5 tuổi

Hiện nay SDD vẫn là vấn đề sức khỏe toàn

cầu Năm 2011 theo số liệu của Tổ chức Y tế Thế

giới (TCYTTG) và Quỹ Nhi đồng Liên hiệp quốc

(QNĐLHQ), số trẻ dưới 5 tuổi bị SDD thể thấp

còi là 165 triệu, SDD thể nhẹ cân là 101 triệu và

trong khoảng 3 triệu trẻ tử vong trên toàn thế giới thì hơn một phần ba số trường hợp liên quan đến SDD Do đó TCYTTG đã đưa ra mục tiêu giảm tỉ lệ SDD trẻ em xuống dưới 15% vào năm 2015 Tuy nhiên, mục tiêu này khó có thể đạt được một cách dễ dàng vì giảm tỉ lệ SDD không chỉ phụ thuộc vào tăng trưởng kinh tế, giảm bớt đói nghèo mà còn phụ thuộc nhiều vào những nỗ lực làm thay đổi nhận thức và hành vi của cộng đồng

Theo nhiều y văn, một trong những nguyên nhân hàng đầu của SDD là do kiến thức và phương pháp nuôi con của các bà mẹ chưa đúng(12) Mục tiêu của “Chiến lược Quốc gia về Dinh dưỡng giai đoạn 2011 - 2020” là nâng cao

* Bệnh viện Đa khoa Tiền Giang

Trang 2

hiểu biết và tăng cường thực hành dinh dưỡng

hợp lý, trong đó nâng cao tỉ lệ nữ thanh niên

được huấn luyện về dinh dưỡng và kiến thức cơ

bản về làm mẹ đạt 60% vào năm 2015 Vì vậy

trong những năm qua, kế hoạch dinh dưỡng

quốc gia tập trung nhiều vào việc tuyên truyền,

giáo dục kiến thức, thực hành về dinh dưỡng mà

người dân có thể thực hiện được bằng khả năng

và phương tiện sẵn có tại gia đình

Mỹ Tho là thành phố trung tâm của tỉnh Tiền

Giang, có điều kiện kinh tế, xã hội phát triển và

được tập trung đầu tư nhiều nhất của tỉnh Năm

2013, thành phố Mỹ Tho hoàn thành chỉ tiêu phổ

cập giáo dục mầm non Đây là một điều kiện rất

tốt để thành phố triển khai các chương trình giáo

dục, chăm sóc sức khỏe trẻ ở lứa tuổi mẫu giáo

có hiệu quả hơn Đồng thời đó cũng là điều kiện

thuận lợi để việc tuyên truyền, phổ biến kiến

thức về y tế cho các bà mẹ được tốt hơn

Theo điều tra của Viện Dinh dưỡng, tỉ lệ trẻ

SDD thể nhẹ cân ở trẻ dưới 5 tuổi của tỉnh Tiền

Giang năm 2012 là 13,9%, thể thấp còi là 26,4%

Mặc dù SDD trẻ em vẫn đang là vấn đề sức khỏe

cộng đồng quan trọng cần can thiệp tích cực

nhưng từ trước đến nay, tại Tiền Giang nói

chung và thành phố Mỹ Tho nói riêng, chưa có

công trình nghiên cứu về kiến thức, thái độ, thực

hành nuôi con của các bà mẹ

Mục tiêu nghiên cứu

Xác định tỉ lệ bà mẹ có kiến thức, thái độ,

thực hành nuôi con không đúng

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Dân số chọn mẫu

Trẻ đang học ở các trường mẫu giáo tại

thành phố Mỹ Tho tỉnh Tiền Giang năm học

2013 - 2014 và bà mẹ của những trẻ này

Tiêu chí chọn mẫu

Trẻ đang học ở các lớp được chọn trong các

trường mẫu giáo tại thành phố Mỹ Tho tỉnh Tiền

Giang năm 2014 và các bà mẹ có con được chọn

Tiêu chí loại trừ

Trẻ có tên trong các lớp được chọn nhưng không đi học vào thời điểm thực hiện nghiên cứu; Bà mẹ không biết chữ; Bà mẹ không đồng ý

tham gia vào nghiên cứu

Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu cắt ngang mô tả

Xử lý và phân tích dữ liệu

Phần mềm SPSS 16.0

KẾT QUẢ

Đặc điểm kiến thức nuôi con của bà mẹ

Bảng 1: Kiến thức nuôi con của bà mẹ qua từng

nội dung khảo sát (n = 1063)

Kiến thức Tần số Tỉ lệ (%)

Loại thức ăn tốt nhất đối với trẻ

Thời gian cho trẻ bú

mẹ sau sinh

Thức ăn bổ sung trong 6 tháng đầu

Thời điểm cho trẻ ăn dặm

Thời điểm cai sữa mẹ

Từ 12 – 24 tháng tuổi 608 57,2

Nhóm thức ăn trong bữa ăn (nhiều lựa chọn)

Xơ, vitamin, khoáng chất 978 92,0

Bổ sung vitamin A cho trẻ

Cách tẩy giun cho trẻ

Trang 3

Kiến thức Tần số Tỉ lệ (%)

Ảnh hưởng

của SDD

(nhiều lựa

chọn)

Làm trẻ dễ bệnh tật 902 84,9

Ảnh hưởng đến sự phát

Ảnh hưởng sự phát triển trí

Không ảnh hưởng nghiêm

Bảng 2: Tỉ lệ kiến thức nuôi con không đúng của bà

mẹ (n = 1063)

số

Tỉ lệ

%

Không biết thời điểm cho trẻ cai sữa mẹ 694 65,3

Không biết thời điểm cho trẻ ăn dặm 422 39,7

Không biết bữa ăn của trẻ có đủ 4 nhóm thức

Không biết chế độ dinh dưỡng của trẻ trong 6

Không biết ảnh hưởng của SDD đối với trẻ 204 19,2

Không biết cách tẩy giun cho trẻ 196 18,4

Không biết thời gian cho trẻ bú sau sinh 176 16,6

Không biết sữa mẹ là tốt nhất đối với trẻ 60 5,6

Không biết trẻ dưới 5 tuổi cần bổ sung vitamin

Bảng 3: Kiến thức chung về cách nuôi con của bà mẹ

(n = 1063)

Biến số Tần số Tỉ lệ %

Kiến thức chung đúng (7 - 9 điểm) 746 70,2

Kiến thức chung không đúng (0 - 6 điểm) 317 29,8

Đặc điểm thái độ nuôi con của bà mẹ

Bảng 4: Thái độ của bà mẹ qua từng nội dung khảo

sát (n = 1063)

Thái độ Tần số Tỉ lệ (%)

Trẻ dưới 6 tháng chỉ

cần bú mẹ

Cho trẻ bú mẹ ít nhất

đến 24 tháng

Cho trẻ tiêm ngừa

đầy đủ

Bảng 5: Thái độ chung của bà mẹ (n = 1063)

Biến số Tần số Tỉ lệ (%)

Thái độ chung đúng (3 điểm) 623 58,6

Thái độ chung không đúng (0 - 2 điểm) 440 41,4

Đặc điểm thực hành nuôi con của bà mẹ

Bảng 6: Thực hành của bà mẹ qua từng nội dung

khảo sát (n = 1063)

Thực hành Tần số Tỉ lệ (%)

Nuôi con bằng sữa

mẹ

Thời điểm cai sữa cho trẻ

Trước 24 tháng 678 63,8

Thêm dầu vào bữa ăn ngày hôm qua của trẻ

Cho trẻ ăn rau trong ngày hôm qua

Tẩy giun cho trẻ trong

6 tháng qua

Theo dõi cân nặng của trẻ

Khoảng 3 tháng 899 84,6

3 tháng - 1 năm 92 8,6

Bảng 7: Tỉ lệ bà mẹ thực hành nuôi con không đúng

Thực hành không đúng NTần số Tỉ lệ (%)

Cai sữa mẹ trước 24 tháng tuổi 1011 678 67,1

Không theo dõi cân nặng của trẻ 1024 125 12,2 Không tẩy giun cho trẻ 1047 118 11,3

Không nuôi con bằng sữa mẹ 1063 30 2,8

- Không tiêm ngừa cho trẻ 1063 23 2,2

: không tính những trường hợp bà mẹ có câu trả lời là không nhớ

Bảng 8: Thực hành chung về cách nuôi con của bà mẹ

(n = 952)

Biến số Tần số Tỉ lệ %

Thực hành chung đúng (6 - 7 điểm) 692 72,7 Thực hành chung không đúng

(0 - 5 điểm)

BÀN LUẬN

Kiến thức, thái độ, thực hành của bà mẹ qua các nội dung khảo sát

Sữa mẹ

Sữa mẹ là thức ăn tốt nhất và phù hợp nhất đối với trẻ nhỏ Trong sữa mẹ có đầy đủ chất

Trang 4

dinh dưỡng cần thiết cho trẻ với một tỉ lệ cân

đối, dễ hấp thu nhất là Protein, Lipid, vitamin A

và nhiều tố chất sinh học mà thức ăn khác không

thể có như kháng thể, Enzym sinh học, bạch cầu

giúp cơ thể trẻ chống nhiễm khuẩn trong thời kỳ

đầu khi sức đề kháng của trẻ chưa hoàn chỉnh

Mặt khác cho trẻ bú sữa mẹ còn mang lại những

tiện lợi về kinh tế, gắn bó tình cảm mẹ con

Trong những năm gần đây, ít có vấn đề trong

dinh dưỡng trẻ em được quan tâm nhiều bằng

nuôi con bằng sữa mẹ TCYTTG và QNĐLHQ

đã coi nuôi con bằng sữa mẹ là một trong những

biện pháp quan trọng nhất để bảo vệ sức khỏe

trẻ em(3,12)

Kết quả nghiên cứu của chúng tôi có đến

94,4% các bà mẹ biết sữa mẹ là thức ăn phù hợp,

tốt nhất cho trẻ và trong thực hành đã có đến

97,2% các bà mẹ nuôi con bằng sữa mẹ So với

các nghiên cứu trước đây thì tỉ lệ các này đã tăng

lên đáng kể

Điều đó cho thấy các bà mẹ ngày càng nhận

thức được tầm quan trọng của sữa mẹ đối với trẻ

và tỉ lệ bà mẹ nuôi con bằng sữa mẹ cũng tăng

lên Tuy nhiên, trong nghiên cứu của chúng tôi

có 5,6% các bà mẹ không có kiến thức đúng về

vấn đề này Trong đó, tỉ lệ các bà mẹ cho rằng

thức ăn tốt và phù hợp nhất với trẻ là thức ăn

khác là 2,3%, sữa hộp là 1,9% và không biết thức

nào tốt nhất cho trẻ là 0,8% Vì vậy vai trò của

sữa mẹ đối với trẻ vẫn là vấn đề cần quan tâm tại

địa phương, cần tiếp tục tuyên truyền, phổ biến

hơn nữa để nâng cao kiến thức cho bà mẹ và qua

đó nâng cao tỉ lệ trẻ được nuôi dưỡng bằng sữa

mẹ

Thời điểm cho trẻ bú mẹ lần đầu sau sinh

Hiện nay theo khuyến cáo của TCYTTG nên

cho trẻ bú mẹ ngay trong vòng giờ đầu sau sinh

và càng sớm càng tốt(12) Bởi vì như vậy trẻ sẽ sử

dụng được sữa non, là loại sữa rất tốt, hoàn hảo

về dinh dưỡng và các chất sinh học thích ứng với

cơ thể trẻ Hơn nữa, động tác bú của trẻ sẽ kích

thích sự tiết sữa của người mẹ Trong nghiên cứu

của chúng tôi có 16,6% bà mẹ không có kiến thức

đúng về vấn đề này Cụ thể có 13,2% các bà mẹ cho rằng thời điểm trẻ bú mẹ lần đầu là 2 - 24 giờ sau sinh và đặc biệt có 2,9% các bà mẹ cho rằng thời điểm đó là vào ngày hôm sau (sau 24 giờ sau sinh)

Các nghiên cứu trước đây cũng cho kết quả tương tự Kết quả nghiên cứu của tác giả Huỳnh Văn Sơn (năm 2004, cỡ mẫu 600) thì 8,8% các bà

mẹ không biết được trẻ cần bú mẹ trong vòng giờ đầu sau sinh(4) Tỉ lệ này trong nghiên cứu của tác giả Thái Kim Yến (năm 2008, cỡ mẫu 802)

là 18%(13) và nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Như Hoa (năm 2011, cỡ mẫu 404) là 10,5%(10) Nghiên cứu của tác giả Mohammed E S và cộng

sự về kiến thức, thái độ, thực hành nuôi con của

307 bà mẹ ở vùng nông thôn El-Minia, Governorate, Ai Cập thì có 16% các bà mẹ không đồng ý cho con bú sữa mẹ ngay sau sinh và trong thực hành có đến 25,8% các bà mẹ không cho trẻ bú sữa non(7) Điều này cho thấy vẫn còn một phần lớn các bà mẹ không có kiến thức đúng về việc cho trẻ bú mẹ sớm sau sinh Trong nghiên cứu của chúng tôi, kiến thức cho trẻ bú

mẹ sớm sau sinh của bà mẹ có liên quan với tình trạng SDD của trẻ Kết quả phân tích cho thấy con của những bà mẹ có kiến thức không đúng

sẽ có tỉ lệ SDD thấp còi cao hơn so với con của bà

mẹ có kiến thức đúng (p = 0,021) Đây là cơ sở thực tiễn để tăng cường phổ biến kiến thức này nâng cao hiểu biết cho bà mẹ và góp phần giảm

tỉ lệ SDD ở trẻ

Bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu

Chiến lược toàn cầu về nuôi dưỡng trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ của TCYTTG và QNĐLHQ đã đưa ra bằng chứng khoa học về tính ưu việt của thực hành nuôi con bằng sữa mẹ và khuyến nghị trẻ cần được nuôi dưỡng hoàn toàn bằng sữa mẹ trong 6 tháng đầu thay vì 4 tháng như trước đây(12)

Trong nghiên cứu của chúng tôi có 25,7% các

bà mẹ có kiến thức không đúng về việc cho trẻ

bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu Kết quả này cũng tương đương với kết quả nghiên cứu của

Trang 5

tác giả Nguyễn Thị Như Hoa (20,4% bà mẹ có

kiến thức không đúng)(10) và tác giả Nguyễn Lê

Thành (25,1%)(8) Nghiên cứu của tác giả Oche M

O và các cộng sự tại thị trấn Kware, bang

Sokoto, Nigeria năm 2011 thì có 31% trong tổng

số 179 bà mẹ có kiến thức đúng về bú mẹ hoàn

toàn trong 6 tháng đầu(11).Kiến thức của các bà

mẹ về vấn đề này là chưa tốt Do đó trong công

tác tuyên truyền cần đặc biệt chú trọng đến kiến

thức cho trẻ bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu

để nâng cao kiến thức đúng cho các bà mẹ.Kết

quả phân tích cho thấy kiến thức về bú mẹ hoàn

toàn trong 6 tháng đầu có liên quan với tình

trạng SDD của trẻ Con của những bà mẹ có kiến

thức không đúng có tỉ lệ SDD nhẹ cân cao hơn so

với con của bà mẹ có kiến thức đúng (p = 0,007)

Do đó việc nâng cao kiến thức này cho các bà mẹ

có ý nghĩa quan trọng tại địa phương

Tỉ lệ các bà mẹ có thái độ đúng về việc cho

trẻ bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu là 73,9%

và phù hợp với sự hiểu biết của họ (74,3%) Tuy

nhiên cũng có 25,0% bà mẹ cho rằng trẻ cần

được ăn thêm thức ăn khác và do đó cũng có

21,2% bà mẹ có thái độ không đồng ý với việc

cho trẻ bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu Có

thể thấy các bà mẹ chưa thật sự hiểu đúng và tin

tưởng vào việc cho trẻ bú mẹ hoàn toàn trong 6

tháng đầu mà không cần cho thêm bất cứ thức

ăn nào khác Theo nghiên cứu của tác giả Huỳnh

Văn Sơn thì lý do các bà mẹ thường đưa ra là sợ

trẻ sẽ khát nếu không cho trẻ uống nước, uống

nước để rửa sạch miệng cho trẻ hoặc bú sữa mẹ

đơn thuần sẽ không cung cấp đủ chất dinh

dưỡng trẻ sẽ đói Do đó cần phải có một chương

trình truyền thông liên tục, lâu dài, giải thích thật

khoa học, dễ hiểu về vấn đề này để các bà mẹ

hiểu và thực hiện đúng

Một trong những nguyên nhân khác thường

gặp khác của vấn đề này là do tính chất, yêu cầu

của công việc đòi hỏi bà mẹ phải đi làm sớm nên

không có thời gian để cho trẻ bú mẹ được đầy

đủ Hiện nay ở nước ta đã có chính sách tăng

thời gian nghỉ hậu sản cho các bà mẹ lên 6 tháng

nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho bà mẹ chăm

sóc con được tốt hơn và sẽ tăng được tỉ lệ trẻ bú

mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu Nghiên cứu của tác giả Oche M O và các cộng sự tại thị trấn Kware, bang Sokoto, Nigeria năm 2011 thì có 31% trong tổng số 179 bà mẹ cho trẻ bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu(11), còn nghiên cứu của tác giả Wong H J và cộng sự thực hiện trên 274 trẻ

ở lứa tuổi mẫu giáo tại bang Terenggaru, Malaysia năm 2012 thì tỉ lệ này là 40,1%(15) Tại Việt Nam, theo kết quả điều tra của Viện Dinh dưỡng năm 2010 thì tỉ lệ trẻ nhỏ dưới 6 tháng tuổi được bú sữa mẹ hoàn toàn là rất thấp (19,6%)(1) Do đó Chiến lược Quốc gia về dinh dưỡng giai đoạn 2011 - 2020 đã đặt ra mục tiêu nâng tỉ lệ này lên 27% vào năm 2015 và tiếp tục phấn đấu đạt 35% vào năm 2020 Đây thực sự là một thách thức đối với nước ta nói chung và với Tiền Giang nói riêng bởi nó đòi hỏi nhiều yếu tố

và sự phối hợp của nhiều ban ngành

Thời điểm cho trẻ ăn dặm

Thời điểm ăn dặm rất quan trọng đối với tình trạng dinh dưỡng của trẻ em Cho trẻ ăn dặm sớm không có lợi cho sức khỏe của trẻ vì trước 6 tháng tuổi trẻ chưa cần đến thức ăn ngoài sữa mẹ, cho trẻ ăn khiến trẻ bú ít đi, sữa

mẹ cũng sẽ tiết ra ít và trẻ mất nguồn dinh dưỡng quý giá từ sữa mẹ Ngược lại nếu cho trẻ ăn dặm quá trễ sẽ không đáp ứng được nhu cầu phát triển của cơ thể trẻ và thiếu dinh dưỡng sẽ xảy ra Khuyến cáo hiện nay của TCYTTG là bắt đầu cho trẻ ăn dặm từ tháng thứ 6(12) Trong nghiên cứu của chúng tôi tỉ lệ

bà mẹ có kiến thức không đúng về thời điểm cho trẻ ăn dặm là 39,7%

Kết quả nghiên cứu của tác giả Lương Ngọc Trương (năm 2013)(5) và của chúng tôi (năm 2014) thì tỉ lệ các bà mẹ có kiến thức không đúng

về thời điểm cho trẻ ăn dặm là gần 40%, đều cao hơn kết quả của những nghiên cứu trước đó (trước năm 2008) Sự khác biệt này có thể giải thích do tiêu chuẩn đánh giá khác nhau Trước đây những khuyến cáo về thời điểm cho trẻ ăn dặm là 4 - 6 tháng tuổi nhưng từ năm 2008 TCYTTG đưa ra khuyến cáo về thời điểm cho trẻ

Trang 6

ăn dặm đúng là từ 6 tháng tuổi(12) Do đó những

nghiên cứu đánh giá kiến thức không đúng của

người mẹ theo tiêu chí này sẽ gặp khó khăn và sẽ

có kết quả cao hơn

Nghiên cứu của tác giả Vyas S và cộng sự

thực hiện từ tháng 5 năm 2009 đến tháng 4

năm 2010 với 500 bà mẹ có con dưới 3 tuổi ở

Hilly Terrain, Ấn Độ Kết quả, tỉ lệ bà mẹ cho

trẻ ăn dặm vào thời điểm trẻ từ 4 - 6 tháng tuổi

là 48,5%(14)

Trong nghiên cứu của chúng tôi 6,0% các bà

mẹ cho rằng thời điểm cho trẻ ăn dặm là trước 6

tháng tuổi và có khoảng một phần ba (33,6%) các

bà mẹ cho rằng thời điểm này là sau 6 tháng tuổi

Do đó có thể thấy dù đánh giá theo tiêu chí nào

thì kiến thức của các bà mẹ về vấn đề này là

chưa tốt Vì vậy cần tăng cường tuyên truyền,

phổ biến kiến thức về thời điểm cho trẻ ăn dặm

nhiều hơn nữa để các bà mẹ biết được và thực

hành đúng

Thời điểm cai sữa mẹ

TCYTTG khuyến cáo cho trẻ bú sữa mẹ đến

ít nhất 24 tháng tuổi(3) Tuy nhiên trong thực tế

đây còn là vấn đề khó thực hiện đối với các bà

mẹ Theo các nghiên cứu trước đây tỉ lệ các bà

mẹ cho trẻ cai sữa mẹ đúng thời điểm là rất thấp

Nghiên cứu của tác giả Đoàn Thị Kim Ngân năm

2004 thì có đến 80% trong tổng số 600 bà mẹ cho

con cai sữa mẹ trước 12 tháng tuổi(2) Kết quả

nghiên cứu của tác giả Lương Thị Thu Hà năm

2008 thì tỉ lệ bà mẹ cho trẻ cai sữa mẹ trước 24

tháng là 86,3% và những trẻ được cai sữa mẹ

trước 18 tháng tuổi có nguy cơ bị SDD nhẹ cân

cao gấp 2,55 lần(6) Nghiên cứu của tác giả Lương

Ngọc Trương năm 2013 trên 850 bà mẹ thì tỉ lệ

này là 86%(5) Tuy nhiên theo nghiên cứu của tác

giả Oche M và các cộng sự tại thị trấn Kware,

bang Sokoto, Nigeria năm 2011 thì có đến 70,4%

trong 179 bà mẹ cho trẻ bú mẹ đến hơn 20 tháng

tuổi(11)

Trong nghiên cứu của chúng tôi tỉ lệ các bà

mẹ cho rằng thời điểm cai sữa mẹ cho trẻ trước

12 tháng tuổi là 7,8%, từ 12 - 24 tháng tuổi là 57,2% và sau 24 tháng tuổi là 34,7% Vì vậy trong thực hành thì đa số các bà mẹ cho trẻ cai sữa mẹ trước 24 tháng (67,1%) và chỉ có 32,9% các bà mẹ cho trẻ cai sữa mẹ sau 24 tháng Tỉ lệ bà mẹ có kiến thức không đúng và thực hành cai sữa mẹ cho trẻ không đúng khá cao Việc các bà mẹ cho con cai sữa sớm hơn khuyến cáo có thể vì chưa

có kiến thức đúng, không nhận biết được tầm quan trọng của vấn đề này hoặc do những khó khăn, tính chất công việc nên không thể duy trì cho trẻ bú mẹ đến 24 tháng tuổi Do đó cần tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến kiến thức

về thời điểm cho trẻ cai sữa mẹ, đồng thời có những giải pháp, chế độ hỗ trợ nhằm giúp đỡ các bà mẹ trong việc kéo dài thời gian nuôi con bằng sữa mẹ

Thành phần bữa ăn của trẻ

Kết quả nghiên cứu của chúng tôi có 30,9% các bà mẹ không biết bữa ăn hằng ngày của trẻ phải có đủ 4 nhóm thức ăn Theo kết quả nghiên cứu của tác giả Nguyễn Phước Hưng năm 2003 thì 73% trong tổng số 384 bà mẹ không có kiến thức đúng về vấn đề này(9) Nghiên cứu của tác giả Đoàn Thị Kim Ngân năm 2004 trên 600 bà

mẹ thì tỉ lệ này là 62%(2) Khi xét mối liên quan giữa kiến thức về thành phần các nhóm thức ăn trong bữa ăn với tình trạng SDD của trẻ cho thấy những bà mẹ không biết bữa ăn của trẻ phải có đủ 4 nhóm thức ăn thì tỉ lệ SDD nhẹ cân của trẻ sẽ cao hơn

có ý nghĩa thống kê so với những bà mẹ có kiến thức đúng (p < 0,001) Kết quả này cũng tương tự như nghiên cứu của tác giả Đoàn Thị Kim Ngân, những bà mẹ không biết về vấn đề này thì nguy

cơ SDD nhẹ cân của trẻ tăng 3,18 lần(2) Kết quả nghiên cứu của tác giả Nguyễn Phước Hưng thì những bà mẹ không biết thành phần bữa ăn của trẻ phải có đủ 4 nhóm thức ăn thì mức độ SDD thể nhẹ cân của trẻ sẽ nặng hơn(9)

Khi chúng tôi khảo sát về bữa ăn trong ngày hôm qua của trẻ thì có 3,1% các bà mẹ

Trang 7

không cho trẻ ăn rau và 20,0% các bà mẹ

không thêm dầu hoặc mỡ vào trong các bữa ăn

của trẻ Kết quả này phù hợp với phần kiến

thức của bà mẹ khi có 8,0% các bà mẹ không

biết trong mỗi bữa ăn của trẻ cần có chất xơ,

vitamin và 29,4% không biết cần có chất béo

trong bữa ăn hằng ngày của trẻ Nghiên cứu

của tác giả Nguyễn Phước Hưng về bữa ăn

hằng ngày của trẻ thì tỉ lệ bà mẹ không cho trẻ

ăn rau xanh là 15,0%, không cho ăn dầu, mỡ là

34,2%(9) Có thể thấy đa số các bà mẹ có kiến

thức và thực hành tốt về việc cho trẻ ăn rau

xanh nhưng kiến thức và thực hành về việc

cho trẻ ăn dầu, mỡ thì chưa tốt

Kết quả phân tích cho thấy những bà mẹ

thực hành không đúng về vấn đề này thì tỉ lệ

SDD nhẹ cân của trẻ sẽ cao hơn có ý nghĩa thống

kê so với những bà mẹ có thực hành đúng (p <

0,001) Kết quả nghiên cứu của tác giả Đoàn Thị

Kim Ngân thì những trẻ không được bổ sung

dầu ăn hoặc mỡ vào các bữa ăn thì nguy cơ SDD

nhẹ cân tăng 1,48 lần(2) Điều này cho thấy việc

cho trẻ ăn thức ăn thuộc nhóm chất béo hằng

ngày là rất quan trọng Hiện nay nhiều người

cho rằng các thức ăn thuộc nhóm chất béo như

dầu thực vật, mỡ động vật là một trong những

nguy cơ của bệnh tim mạch, ảnh hưởng xấu đến

sức khỏe nên họ không cho rằng đó là nhóm

thức ăn cần thiết và rất hạn chế sử dụng Tuy

nhiên chất béo là nhóm thức ăn cung cấp năng

lượng, giúp hấp thụ các vitamin tan trong dầu

Trong mỗi bữa ăn của trẻ cần phải có đủ 4 nhóm

chất cơ bản thì mới cung cấp đầy đủ các dưỡng

chất cho sự phát triển của cơ thể Do đó cần tăng

cường tuyên truyền phổ biến hơn nữa vai trò

của chất béo đối với cơ thể cũng như việc sử

dụng nhóm thức ăn chất béo cùng các nhóm

thức ăn khác với một tỉ lệ hài hòa trong mỗi bữa

ăn của trẻ là điều rất cần thiết

Tiêm ngừa cho trẻ

Trong nghiên cứu của chúng tôi, hầu hết các

bà mẹ đều đồng ý với việc cho trẻ đi tiêm ngừa

đầy đủ theo lịch tiêm chủng (99,6%), chỉ có 0,4% các bà mẹ không có thái độ đúng đối với vấn đề này Trong phần thực hành chỉ có 2,2% các bà

mẹ không đưa trẻ đi tiêm ngừa đầy đủ Nghiên cứu của tác giả Thái Kim Yến thực hiện năm

2007 cũng cho kết quả tương tự khi chỉ có 2,0% trong tổng số 802 bà mẹ không đưa con đi tiêm ngừa đầy đủ(13) Có thể thấy hầu hết các bà mẹ đều nhận thức được tầm quan trọng của việc tiêm ngừa cho trẻ và đã thực hiện rất tốt

Bổ sung vitamin A cho trẻ

Vitamin A là một thành phần dinh dưỡng cần thiết cho cơ thể Chất béo cần thiết cho sự hấp thu vitamin A, chất đạm cần thiết cho việc

sử dụng vitamin A Do đó có thể xem thiếu vitamin A là chỉ số đánh giá chung thiếu dinh dưỡng Hiện nay nước ta đang triển khai chương trình cho trẻ dưới 5 tuổi uống vitamin A liều cao mỗi năm 2 lần để đề phòng thiếu vitamin A Đây là biện pháp hữu hiệu đang được áp dụng ở nhiều nước, nhưng cần xem đây

là một biện pháp ngắn hạn còn biện pháp chính vẫn là hướng dẫn cách nuôi con hợp lý với việc nuôi con bằng sữa mẹ và cung cấp các thực phẩm giàu vitamin A và Caroten Kết quả nghiên cứu của tác giả Đoàn Thị Kim Ngân thì

có đến 43,2% các bà mẹ không biết được lợi ích của vitamin A và 14,7% các bà mẹ không cho trẻ uống vitamin A mỗi 6 tháng(2) Theo nghiên cứu của tác giả Thái Kim Yến thì tỉ lệ này chỉ là 7,0%(13) Trong nghiên cứu của chúng tôi 3,3% các

bà mẹ không có kiến thức đúng về việc bổ sung

vitamin A cho trẻ

Tẩy giun cho trẻ

Nhiễm ký sinh trùng đường ruột cũng là nguyên nhân quan trọng gây ra SDD, thiếu vi chất dinh dưỡng Đây là vấn đề sức khỏe cộng đồng ở các nước đang phát triển do điều kiện vệ sinh môi trường không đảm bảo Nhiễm giun làm cho trẻ chán ăn, giảm hấp thu các chất dinh dưỡng, thiếu máu và gây ảnh hưởng đến tình trạng dinh dưỡng của trẻ Ở nước ta, chương

Trang 8

trình tẩy giun mỗi 6 tháng được áp dụng cho trẻ

trên 2 tuổi Bộ Y tế cũng đã có hướng dẫn bổ

sung vitamin A cho trẻ 6 - 60 tháng tuổi kết hợp

với tẩy giun cho trẻ 12 - 60 tháng tuổi Trong

nghiên cứu của chúng tôi có 18,4% các bà mẹ

không biết được cách tẩy giun cho trẻ và trong

thực hành có 11,3% các bà mẹ không tẩy giun

cho trẻ trong 6 tháng qua Đây là một kết quả

đáng mừng, cho thấy các bà mẹ đã nhận thức

được tầm quan trọng của việc tẩy giun cho trẻ và

đã thực hành khá tốt Kết quả phân tích cho thấy

những trẻ không tẩy giun trong 6 tháng qua có tỉ

lệ SDD nhẹ cân và SDD thấp còi đều cao hơn có

ý nghĩa thống kê so với những trẻ được tẩy giun

(p < 0,001 và p = 0,001) Điều này cho thấy tẩy

giun cho trẻ là một vấn đề quan trọng, có ý nghĩa

thiết thực tại địa phương và cần được chú trọng

phổ biến, triển khai

Theo dõi cân nặng của trẻ

Theo dõi cân nặng của trẻ là việc làm cần

thiết Trẻ trong độ tuổi mẫu giáo cần được

theo dõi cân nặng mỗi 3 tháng để sớm phát

hiện các dấu hiệu đứng cân hoặc sụt cân, từ đó

điều chỉnh dinh dưỡng cho hợp lý Trẻ học ở

các trường mẫu giáo tại thành phố Mỹ Tho

được nhà trường theo dõi cân nặng mỗi 3

tháng Tuy nhiên kết quả khảo sát có đến

12,2% các bà mẹ không biết được cân nặng của

con mình trong 3 tháng qua Nghiên cứu trước

đó của tác giả Đoàn Thị Kim Ngân cũng có kết

quả tương tự (17,3% các bà mẹ không theo dõi

cân nặng của trẻ thường xuyên)(2) Điều này

cho thấy cũng có không ít các bà mẹ không

hiểu đúng ý nghĩa và tầm quan trọng của việc

theo dõi cân nặng của trẻ

Ảnh hưởng của SDD đối với trẻ

Theo kết quả khảo sát thì tỉ lệ các bà mẹ

không biết SDD làm cho trẻ dễ bệnh tật là

15,1%, không biết SDD ảnh hưởng đến sự phát

triển trí thông minh của trẻ là 9,3% và 0,8% các

bà mẹ cho rằng SDD không ảnh hưởng gì

nghiêm trọng Tính chung, tỉ lệ các bà mẹ

không biết được những ảnh hưởng của SDD đối với trẻ là 19,2% Điều này cho thấy cũng không ít các bà mẹ không quan tâm đến SDD

ở trẻ em Do đó phải tăng cường tuyên truyền kiến thức về SDD cho các bà mẹ để họ biết được và chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ tốt hơn, phòng tránh được tình trạng SDD

KẾT LUẬN

Tỉ lệ các bà mẹ có kiến thức chung không đúng là 29,8%

Tỉ lệ các bà mẹ có thái độ chung không đúng

là 41,4%

Tỉ lệ các bà mẹ có thực hành chung không đúng là 27,3%

TÀI LIỆU THAM KHẢO

dinh dưỡng năm 2009-2010, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội

tuổi và kiến thức, thực hành của bà mẹ về cách nuôi con tại quận 5 thành phố Hồ Chí Minh năm 2003, Luận văn Thạc sĩ Y học, Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh

khỏe, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội, tr.84 - 307

bằng sữa mẹ của bà mẹ có con dưới 24 tháng tuổi ở huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam năm 2003, Luận văn Thạc sĩ Y học, Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh

hành nuôi dưỡng trẻ dưới 24 tháng tuổi và một số yếu tố liên quan tới suy dinh dưỡng thấp còi tại 3 huyện Cẩm Thủy, Tĩnh Gia, Hậu Lộc tỉnh Thanh Hóa năm 2011", Tạp chí Phụ sản, tập 11(số 3), tr.96-100

dưỡng thiếu protein, năng lượng ở trẻ dưới 5 tuổi tại hai xã của huyện Phú Lương tỉnh Thái Nguyên, Luận văn Thạc sĩ Y học Dự phòng, Đại học Y khoa Thái Nguyên

"Knowledge, Attitude, and Practices of Breastfeeding and Weaning Among Mothers of Children up to 2 Years Old in a Rural Area in El-Minia Governorate, Egypt", J Family Med Prim Care, 3(2), pp 136-140

quan giữa kiến thức dinh dưỡng của người mẹ với tình trạng dinh dưỡng của trẻ em dưới 5 tuổi tại huyện Dầu Tiếng tỉnh Bình Dương, Luận văn Thạc sĩ Y học, Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh

nuôi dưỡng của bà mẹ có con suy dinh dưỡng tại bệnh viện Nhi đồng 1 năm 2002, Luận văn Thạc sĩ Y học, Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh

10 Nguyễn Thị Như Hoa (2011), Tình trạng dinh dưỡng và một

số yếu tố liên quan của trẻ dưới 5 tuổi huyện Yên Thủy tỉnh

Trang 9

Hòa Bình năm 2011, Luận văn tốt nghiệp Bác sĩ đa khoa, Đại

học Y Hà Nội

11 Oche MO, Umar AS, Ahmed H (2011), "Knowledge and

practice of exclusive breastfeeding in Kware, Nigeria", Afr

Health Sci, 11(3), pp 518-523

12 Saadeh R J., Labbok M H., Cooney K A et al (1993),

Breast-feeding: The technical basis and recommendations for action,

WHO, Geneva, Switzerland, pp.1-14

13 Thái Kim Yến (2008), Tỉ lệ suy dinh dưỡng và các yếu tố liên

quan đến suy dinh dưỡng ở trẻ em dưới 5 tuổi tại quận Bình

Thủy thành phố Cần Thơ năm 2007, Luận án Chuyên khoa

cấp II, Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh

14 Vyas S, Kandpal SD, Semwal J, et al (2014), "Trends in

Weaning Practices among Infants and Toddlers in a Hilly

Terrain of a Newly Formed State of India", Int J Prev Med, 5(6), pp 741-748

15 Wong H J., Moy F M., Nair S (2014), "Risk factors of malnutrition among preschool children in Terengganu, Malaysia: a case control study", BMC Public Health, 14, pp

785

Ngày nhận bài báo: 12/01/15 Ngày phản biện đánh giá bài báo: 23/01/15 Ngày bài báo được đăng: 22/06/15

Ngày đăng: 20/01/2020, 02:47

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w