1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Đánh giá kết quả điều trị ngón tay cò súng bằng phương pháp can thiệp tối thiểu qua da với kim 18

6 135 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 417,69 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết nghiên cứu đặc điểm lâm sàng bệnh lý ngón tay cò súng và đánh giá kết quả điều trị ngón tay cò súng bằng phương pháp can thiệp tối thiểu qua da với kim 18.

Trang 1

ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ NGÓN TAY CÒ SÚNG B NG

PHƯƠNG PHÁP CAN THI P TỐI THIỂU QUA DA VỚI KIM 18

Nguyễn Thành Tấn* và CS

TÓM TẮT

Mục tiêu: nghiên cứu đặc điểm lâm sàng bệnh lý ngón tay cò súng Đánh giá kết quả điều trị

ngón tay cò súng bằng phương pháp can thiệp tối thiểu qua da với kim 18 Đối tượng và

phương pháp: nghiên cứu tiến cứu, mô tả cắt ngang, theo dõi dọc 56 bệnh nhân (BN) được

chẩn đoán ngón tay cò súng độ II, III, IV theo phân loại của Green DP và can thiệp tối thiểu qua

da với kim 18 tại Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Cần Thơ từ tháng 6 - 2013 đến 5 - 2014

Kết quả và kết luận: 98,4% đạt kết quả tốt 1 BN phải giải phóng lần 2 Không có biến chứng

tổn thương thần kinh và gân Đây là kỹ thuật an toàn và hiệu quả, ít tốn kém có thể triển khai rộng rãi

* Từ khóa: Ngón tay cò súng (ngón tay lò xo, ngón tay bật); Can thiệp qua da; Kim 18

Result of Treatment for Trigger Finger by the Method of Percustaneous Release with 18 Gauge Needle

Summary

Objectives: Study the clinical and the pathological characteristics of trigger finger disease and assess treatment outcomes Objects and methods: 56 patients with 64 trigger digits were diagnosed trigger finger and treated by percutaneous release using 18 gauge needle under local anaesthesia at Cantho University of Medicine and Pharmacy Hospital from 5 - 2014 to

6 - 2013 Result and conclusion: 98,4% achieved good result One digit experienced recurrent

symptoms and required 2 nd release There was no clinical evidence of digital nerve injury or tendon bowstringing We recommend this technique as a safe and effective procedure for all orthopaedic surgeons

* Key words: Trigger finger; Percutaneous release; 18 gauge needle

ĐẶT VẤN ĐỀ

Hội chứng "ngón tay bật", hay còn gọi

là "ngón tay cò súng", “ngón tay lò xo” là

tình trạng viêm sưng một vùng gân gấp

hoặc bao gân gấp ngón tay, gây đau

nhức lòng bàn tay, đặc biệt là vùng gốc

ngón tay Triệu chứng thường nặng vào

buổi sáng và giảm dần trong ngày Về sau, bao gân gấp sưng nề nhiều có thể gây đau nhức nhiều hơn, làm đơ cứng ngón tay, không cầm nắm được Bệnh lý gặp

ở những người lao động sử dụng bàn tay nhiều như công nhân cầm búa, thợ cắt tóc, hoặc vận động viên tennis, cầu lông

* Đại học Y Dược Cần Thơ

Người phản hồi (Corresponding): Nguyễn Thành Tấn (thanhtan@yahoo.com)

Ngày nhận bài: 20/05/2015; Ngày phản biện đánh giá ài báo: 20/06/2015

Ngày bài báo được đăng: 25/07/2015

Trang 2

Có nhiều phương pháp điều trị ngón

tay cò súng, như cho mang nẹp, dùng

thuốc kháng viêm NSAIDs, tiêm steroid

vào bao gân viêm cho đến phẫu thuật

cắt mạc giữ gân gấp (ròng rọc A1) Phẫu

thuật cắt ròng rọc được Lorthioir mô tả

đầu tiên vào năm 1958 với tỷ lệ thành

công 100% và không ghi nhận biến

chứng Tuy nhiên, phẫu thuật để lại sẹo ở

lòng bàn tay, ảnh hưởng đến thẩm mỹ và

có thể gây đau ở sẹo mổ Năm 1992,

Eastwood DM và CS tiến hành kỹ thuật

cắt mạc giữ gân gấp qua da điều trị ngón

tay cò súng bằng kim 22 Tại Việt Nam,

đã có vài nơi tiến hành kỹ thuật này, tuy

nhiên chưa thường xuyên và chưa có một

thống kê đánh giá đầy đủ Xuất phát từ

thực tiễn trên, chúng tôi tiến hành triển

khai đề tài này với mục tiêu:

- Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng bệnh

lý ngón tay cò súng

- Đánh giá kết quả điều trị ngón tay cò

súng bằng phương pháp can thiệp tối thiểu

qua da với kim 18

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU

1 Đối tượng nghiên cứu

56 BN được chẩn đoán ngón tay cò

súng độ II, III, IV theo phân loại của

Green DP và can thiệp tối thiểu qua da

với kim 18 tại Bệnh viện Trường Đại học

Y Dược Cần Thơ từ tháng 6 - 2013 đến

5 - 2014

2 Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu tiến cứu, mô tả cắt ngang,

theo dõi dọc

* Quy trình thực hiện:

- Bước 1: hỏi bệnh sử, tiền sử, khám lâm sàng, chẩn đoán bệnh, phân độ theo Green

DP và giải thích phương pháp điều trị trước khi tiến hành phẫu thuật

- Bước 2: tiến hành can thiệp cắt ròng rọc A1

- Bước 3: ghi vào danh sách nghiên cứu

và bệnh án nghiên cứu

- Bước 4: kê đơn, tư vấn chế độ sinh hoạt vận động và hẹn tái khám sau 1 tuần,

4 tuần, 8 tuần, 12 tuần

* Kỹ thuật:

- Xác định vị trí ròng rọc 1 theo sơ đồ Wilhelmi: các khớp bàn ngón được duỗi hết mức, khoảng cách từ nếp gấp bàn ngón đến nếp gấp gian đốt gần bằng với khoảng cách từ nếp gấp bàn ngón đến cạnh gần của ròng rọc A1, chiều dài của ròng rọc 1 thay đổi tùy các ngón, tìm nốt

đau trên ròng rọc

- Sát khuẩn bàn tay đến cổ tay, trải khăn lỗ, gây tê tại chổ đánh dấu với 0,5 -

1 ml lidocain 2%

- Một kim 18 cắm thẳng góc qua da tại điểm móc đã định vừa hết mặt vát của kim, hướng góc xiên của kim theo chiều dọc song song với gân gấp một góc 45º Cho BN gấp duỗi nhẹ ngón tay để quan sát sự dịch chuyển nhẹ của kim chắc chắn mũi kim không cắt vào gân Đẩy mũi kim lên xuống nhẹ nhàng đến khi cảm giác

đề kháng dưới mũi kim giảm và hết hẳn

- Rút kim, cho BN gấp duỗi ngón tay, giải phóng hoàn tất khi ngón vận động một cách tự do và mất dấu hiệu bật

Trang 3

* Phân loại ngón tay cò súng theo

Green DP:

Hiện tại, phân loại của Green DP (1997)

được các nhà lâm sàng ứng dụng nhiều

nhất trên thế giới Ông chia bệnh lý ngón

tay cò súng thành 4 độ:

- Độ I (trước khi ngón tay cò súng): chỉ

đau tại A1, có bệnh sử cầm nắm lúc yếu

lúc không, vận động ngón tay bình thường

- Độ II (chủ động): ngón tay bị khóa,

BN chủ động duỗi ra được, cầm nắm yếu

Dấu hiệu chuyển tiếp từ độ I sang độ II là

sáng ngủ dậy ngón tay bị bật, cứng đơ,

cử động một lúc mới hết

- Độ III: ngón tay bị khóa, duỗi thụ

động được, hoặc không có khả năng tự

gấp ngón

- Độ IV: ngón tay bị khóa hoàn toàn

không gấp duỗi được, co rút gấp cố định

ở khớp liên đốt gần

* Tiêu chuẩn đánh giá:

- Tốt: không đau, không kẹt gân, không

còn nốt u nhỏ, vận động gấp duỗi tốt

- Khá: còn đau tại ngón tổn thương,

vận động gấp duỗi tốt, không còn kẹt gân

- Trung bình: còn đau, hạn chế vận

động gấp duỗi, không kẹt gân

- Thất bại: còn kẹt gân, hạn chế gấp duỗi,

còn xuất hiện nốt u nhỏ ở gan bàn tay

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

1 Đặc điểm BN

* Tuổi và giới:

Tuổi trung bình 52 78,6% BN ở lứa

tuổi 40 - 59 Nữ 87,5%; nam 12,5% Tỷ lệ

nữ/nam = 7/1

2 Đặc điểm lâm sàng ngón tay cò súng

* Bệnh lý kèm theo:

Trong các nhóm bệnh lý kèm theo, hội chứng ống cổ tay chiếm tỷ lệ cao nhất (39,3%), tiếp theo là tăng huyết áp 26,8%, viêm khớp dạng thấp 21,4% và tiểu đường 19,6%

* Vị trí ngón tay bệnh lý:

Biểu đồ 1: Ngón tay bệnh lý

* Triệu chứng lâm sàng trước mổ: Bảng 1: Đặc điểm lâm sàng trước phẫu

thuật (n = 64)

NG N T Y

T L (%)

Thời điểm

Mức độ kẹt gân

Kẹt gân, duỗi thụ động được

Trang 4

* Chỉ định can thiệp (n = 64):

Trong 64 ngón tay được phẫu thuật,

12 ngón tay (18,8%) thuộc nhóm bệnh lý

độ II điều trị nội khoa thất bại, 43 ngón tay

(67,1%) độ III; 9 ngón tay (14,1%) tổn

thương độ IV theo phân độ Green DP

Bảng 2: Kết quả điều trị ngón tay cò súng

1 TU N

SAU

12 TU N

Thời điểm

đau

Mức độ

kẹt gân

Kẹt gân, tự duỗi

Vận động

Hạn chế gấp

duỗi 31 (48,4%) 1 (1,6%)

Sau 12 tuần được phẫu thuật, 63/64

số ngón đã hồi phục, 1 ngón còn đau

ít vào buổi tối, sưng nề, hạn chế vận

động gấp duỗi và còn nốt u nhỏ ở gan

bàn tay BN này được can thiệp lần hai

sau 12 tuần

Kết quả chung: tốt 98,4%; thất bại 1,6%

BÀN LUẬN

1 Đặc điểm lâm sàng ngón tay cò súng

Trong nghiên cứu của chúng tôi, bệnh

lý ngón tay cò súng ở ngón I chiếm 60,9%; ngón II: 6,3%; ngón III: 28,2% và ngón IV: 4,7% Kết quả này khác biệt với nghiên cứu của Triệu Thanh Tùng (2010) trên 34 BN với 34 ngón tay: ngón I 67,6%; ngón III: 26,5%; ngón IV: 8,8%; ngón V: 2,9% Nghiên cứu của Nguyễn Thị Như Hoa: ngón I 71,8%; ngón II: 6,6%; ngón III: 10,1%; ngón IV: 6,6%; ngón V: 4,9% Nghiên cứu của Dahabra thực hiện tại Jordan (2007) với 42 ngón tay: ngón I: 26,2%; ngón II: 16,7%; ngón III: 33,3%; ngón IV: 21,4%; ngón V: 2,3%

Từ kết quả của chúng tôi và các tác giả trong ngoài nước cho thấy ngón tay hay bị tổn thương nhất là ngón I và ngón III, đây là hai ngón linh hoạt và thường vận động nhiều nhất nên dễ tích lũy các

vi chấn thương để hình thành bệnh lý Triệu chứng lâm sàng: trong nghiên cứu này, BN đau nhiều chiếm 71,8%, triệu chứng kẹt gân 82,8%; tình trạng nốt

u nhỏ ở gan bàn tay 100% số ngón tay Trong các triệu chứng viêm trên lâm sàng, triệu chứng hạn chế vận động của ngón tay 100%, triệu chứng sưng nhẹ tại chỗ 64,1% Các triệu chứng này cũng được Nguyễn Thị Như Hoa, Debora ghi nhận Triệu chứng sưng đau ở ngón tay cò súng chỉ khu trú ở phía gan tay chứ không phải ở mu tay Gân và bao gân là

tổ chức nghèo mạch máu nuôi dưỡng nên phản ứng viêm tại chỗ thường không rõ

Trang 5

Đây cũng là một dấu hiệu lâm sàng rất có

giá trị để chẩn đoán phân biệt với trường

hợp có viêm khớp bàn ngón tay

2 Bệnh lý kèm theo

22/56 BN (39,3%) trong nghiên cứu có

bệnh lý hội chứng ống cổ tay và được

phẫu thuật Kết quả này tương tự với

nghiên cứu của Kumar và Chakrabarti:

43% BN có biểu hiện ngón tay cò súng

cũng có hội chứng ống cổ tay Theo báo

cáo trước đây, ngón tay cò súng xuất

hiện sau mổ hội chứng ống cổ tay Có thể

giải thích là tình trạng phù nề sau phẫu

thuật, quá trình viêm trong gân cơ gấp và

tính ma sát tăng ở ròng rọc 1 do tăng

thể tích của gân gấp

Bên cạnh đó, trong nghiên cứu chúng tôi,

bệnh lý đái tháo đường týp 2 gặp 11/56

BN (19,6%) Các nghiên cứu cơ bản cho

thấy, trao đổi chất collagen bất thường là

một yếu tố quan trọng trong cơ chế bệnh

sinh của viêm bao gân ở BN có bệnh lý

đái tháo đường Nhiều nghiên cứu cho thấy

tăng đường huyết làm tình trạng tăng sinh

mô xơ trong gân và ngoài gân dẫn đến

hẹp bao gân Pandey báo cáo tỷ lệ đái tháo

đường chiếm 23,5% trong các trường hợp

bệnh lý ngón tay cò súng Nghiên cứu của

Nimigan gặp tỷ lệ này 11,6%

Viêm khớp dạng thấp là bệnh hệ thống

tạo keo, trong đó có biểu hiện tình trạng

viêm bao gân hoạt dịch ảnh hưởng đến

viêm gân gấp trong bệnh lý ngón tay cò

súng Chúng tôi gặp bệnh lý viêm khớp

dạng thấp kèm theo 21,4%, tuy nhiên

Pandey chỉ gặp 5,9% có bệnh lý viêm khớp

dạng thấp

Các bệnh lý tiểu đường, hội chứng ống cổ tay, viêm khớp dạng thấp cũng được ghi nhận với tỷ lệ khá cao trong nghiên cứu của Debora

3 Điều trị trước phẫu thuật

Hầu hết BN đều sử dụng thuốc kháng viêm trước mổ (92,2%), là những loại thuốc có tác dụng ức chế prostaglandin, làm giảm đau và sưng hiệu quả, đây là phương pháp tiện lợi, không gây đau, không ảnh hưởng sinh hoạt hằng ngày

và không có một tác động lên cơ thể Chúng tôi ghi nhận 26,6% số ngón tay đã từng tiêm triamcinolone trước đó Ở BN đái tháo đường phụ thuộc insulin, đáp ứng corticosteroid kém hơn các BN khác

Thời gian phát hiện bệnh tới khi phẫu thuật trên 3 tháng chiếm tỷ lệ cao nhất (51,6%)

4 Chỉ định phẫu thuật

Chỉ định và số lần phẫu thuật: kết quả ghi nhận 67,1% BN phẫu thuật độ III theo phân độ Green DP Những BN độ II, điều trị nội khoa thất bại chiếm 18,8%, trong

đó tiêm corticoid tại chỗ sau 3 tuần không giảm 58,3%, với BN mắc bệnh > 6 tháng kèm đái tháo đường và bị nhiều ngón, tiêm corticosteroid ít thành công vì không thể làm thay đổi tình trạng dị sản sụn diễn

ra tại ròng rọc 1 Độ IV chiếm 14,1%

5 Kết quả điều trị ngón tay cò súng

Thời gian theo dõi và số lần phẫu thuật: theo dõi trung bình 26,86 tuần, đây là bệnh lý có khả năng tái phát cao, có tích lũy vi chấn thương từ từ kéo dài, cần theo dõi thời gian dài để đánh giá tình trạng bệnh tốt hơn Sau phẫu thuật 12 tuần,

Trang 6

1 ngón xuất hiện lại các triệu chứng,

tiến hành phẫu thuật lần 2 và phục hồi

hoàn toàn, trường hợp này gặp ở BN đái

tháo đường

KẾT LUẬN

Qua nghiên cứu 56 BN với 64 ngón

tay cò súng, các triệu chứng lâm sàng

trước mổ: đau nhiều 71,8%; đau dữ dội

21,9%, trong đó đau xảy ra vào ban đêm

9,4%; đau cả ngày 53,1%; kẹt gân, duỗi

thụ động 70,3%; không thể gấp duỗi 17,2%;

sưng nề 64,1%; nốt u nhỏ ở gan bàn tay

100% Chỉ định phẫu thuật: độ II điều trị

nội khoa thất bại 18,8%; độ III 67,1%;

độ IV 14,1%

Kết quả điều trị ngón tay cò súng bằng

phẫu thuật can thiệp tối thiểu: thời gian

theo dõi trung bình 26,86 tuần, trong đó

1 BN phải phẫu thuật lại lần 2; 34/56 BN

dùng thuốc 2 tuần sau phẫu thuật (60,7%),

kết quả sau điều trị phẫu thuật 1 tuần:

76,6% số ngón còn đau: đau ít 56,3%,

đau vừa 20,3%, đau buổi tối 45,3%; kẹt

gân 1,6%; sưng nề 40,6%; 48,4% số ngón

bị hạn chế vận động; 100% các ngón vẫn

còn nốt u nhỏ ở ròng rọc A1 Kết quả sau

12 tuần phẫu thuật: 63/64 số ngón đã hồi

phục, chỉ còn 1 ngón đau ít vào buổi tối,

sưng nề, hạn chế vận động gấp duỗi và

còn nốt u nhỏ ở gan bàn tay BN được phẫu thuật lần 2 vào tuần thứ 12 và phục hồi hoàn toàn Kết quả chung: tốt 98,4%; thất bại 1,6%

Chúng tôi nhận thấy đây là một phương pháp đơn giản, ít tốn kém và hiệu quả

TÀI LI U THAM KHẢO

1 Nguyễn Thị Như Hoa, Nguyễn Vĩnh Ngọc, Nguyễn Thị Ngọc Mai Nghiên cứu đặc

điểm lâm sàng và siêu âm của viêm gân gấp ngón tay Đại hội hội Thấp khớp học Việt Nam lần thứ VII - Hội nghị Khoa học thường niên lần thứ X 2012, tr.64-71

2 Debora Alves Camargo Prospective study

of the conservative treatment of trigger finger: evaluation of 131 fingers Einstein Journal of Biology and Medicine 2009, pp.76-80

3 Gajan Rajeswaran and Justin C Lee

Ultrasound-guided percutaneous release of the annular pulley in trigger digit European Journal of Radiology 2009, 19, pp.2232-2237

4 Gurley DJ, Lucas GL Diabetes and

trigger finger The Journal of Hand Surgery

1996, 21 (2), pp.244-245

5 Hombal JWR, Owen R Carpal tunnel

decompression and trigger digits The Journal

of Hand Surgery 1970, 2 (2), pp.192-196

6 Maneerit J Trigger thumb: results of a

prospective randomized study of percutaneous release with steroid injection versus steroid injection alone The Journal of Hand Surgery

2003, 28 (6), p.586

Ngày đăng: 20/01/2020, 02:13

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w