1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Hiện trạng công tác quản lý và xử lý nước thải y tế tại một số bệnh viện khu vực miền Nam năm 2012

6 80 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 399,56 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu được tiến hành với mục tiêu nhằm đánh giá hiện trạng công tác quản lý và xử lý chất thải lỏng tại một số các bệnh viện khu vực phía Nam năm 2012. Mời các bạn cùng tham khảo bài viết để nắm rõ nội dung chi tiết của đề tài nghiên cứu này.

Trang 1

HIỆN TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ VÀ XỬ LÝ NƯỚC THẢI Y TẾ   TẠI MỘT SỐ BỆNH VIỆN KHU VỰC MIỀN NAM NĂM 2012 

Phạm Đặng Hoài Nam, Nguyễn Xuân Thủy* 

TÓM TẮT 

Đặt vấn đề: Nước thải bệnh viện chứa nhiều yếu tố ô nhiễm như: chất hữu cơ, chất thải phóng xạ và các 

mầm bệnh gây tác động trực tiếp đối với môi trường và sức khỏe con người. Trong những năm gần đây, các bệnh  viện đã nhận thức được tầm quan trọng của việc xử lý nước thải bệnh viện, xây dựng hệ thống thu gom riêng  nước thải và nước mưa nhưng vấn đề này vẫn cần sự quan tâm nhiều hơn từ các cơ quan và ban ngành trong  việc cải thiện. Năm 2012, Bộ Y tế đã tiếp tục chỉ đạo Viện VSYTCC TPHCM tiến hành quan trắc môi trường y 

tế khu vực miền Nam và xây dựng đề án bảo vệ môi trường cho ngành y tế. 

Mục tiêu nghiên cứu: Đánh giá hiện trạng công tác quản lý và xử lý chất thải lỏng tại một số các bệnh viện  khu vực phía Nam năm 2012. 

Phương pháp nghiên cứu: Phương pháp mô tả cắt ngang. 

Kết quả nghiên cứu: Trong số 22 bệnh viện khảo sát đều có hệ thống xử lý nước thải trong đó 45,45% hệ 

thống hoạt động tốt, 45,45% hệ thống hoạt động quá tải và 9,1% hệ thống đã ngưng hoạt động. Bên cạnh đó, chỉ 

có 3/22 (13,6%) bệnh viện đã có giấy phép xả thải ra môi trường; 2/20 (10%) bệnh viện có kết quả xét nghiệm  nước thải sau xử lý đạt mức cho phép theo QCVN 28:2010/BTNMT.  

Kết luận: Hiện trạng công tác quản lý và xử lý nước thải y tế qua hai đợt quan trắc tại 22 bệnh viện cho 

thấy vẫn còn tồn tại thực trạng đáng lo ngại. Ngành y tế cần có những biện pháp mạnh mẽ trong công tác xử lý  nước thải y tế để giảm thiểu tối đa những nguy cơ ô nhiễm môi trường do ngành y tế gây ra để bảo vệ sức khỏe 

cho nhân viên y tế và cộng đồng. 

Từ khóa: Nước thải y tế, xả thải, quá tải. 

ABSTRACT 

STATUS OF MEDICAL WASTEWATER TREATMENT AND MANAGEMENT  

IN SOME HOSPITALS IN THE SOUTH OF VIETNAM, 2012 

Pham Dang Hoai Nam, Nguyen Xuan Thuy  

* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 18 ‐ Supplement of No 6 ‐ 2014:603 ‐ 608  Background:  Hospital wastewater contains many polluted factors such as: organic substances, radioactive 

waste substances and pathogens that affect directly on environment and human health. In recent years, hospitals  have taken into account the importance of hospital wastewater treatment, building seperate collection rain and  wastewater  systems  but  these  problems  still  need  more  attention  from  other  sectors  and  ministries  for  improvement. In 2012, Ministry of Health has been assigned Institute of Hygiene and Public Health in HCM  city  to  monitor  the  status  of  environment  of  hospitals  in  the  South  of  Vietnam  and  to  build  programs  of  environment protection in health sector. 

Objectives: To assess the status of medical wastewater treatment and management in some hospitals in the 

South of Vietnam. 

Methods: A cross ‐ sectional study. 

Results:  All of 22 studied hospitals had wastewater treatment system among which 45.45% were good in 

* Khoa Sức Khỏe Môi Trường ‐ Viện Y Tế Công Cộng TP. Hồ Chí Minh 

Trang 2

condition; 45.45% overloaded and 9.1% stopped operation. Besides that, there were only 3/22 hospitals (13.6%)  having license for discharging wastewater into water sources and 2/20 hospitals (10%) had test result certificate 

of  wastewater  after  requirements  of  the National  technical  regulation  for  hospital  wastewater based  on  QCVN  28:2010/BTNMT.  

Conclusion: Wastewater treatment and management of 22 hospitals still meet many difficulties. The health 

sector ought to build suitable policies to help hospitals in solving medical liquid waste in order to minimize the 

risk of environmental pollution caused by hospitals to protect health ‐ workers and community’s health.  

Key word: Hospital wastewater; discharging wastewater; Overloaded. 

ĐẶT VẤN ĐỀ 

Báo cáo về tình hình thực hiện quản lý chất 

thải  y  tế  do  Bộ  Y  tế  xây  dựng  trình  Thủ  tướng 

Chính  phủ  đã  chỉ  ra  các  bất  cập  tồn  tại  tại  các 

bệnh  viện  trong  vấn  đề  quản  lý  chất  thải  đó  là 

việc phân loại chất thải rắn y tế còn chưa đúng 

quy  định,  các  phương  tiện  thu  gom  như  túi 

đựng  rác.  Đồng  thời,  việc  đầu  tư  xây  dựng  và 

vận  hành  hệ  thống  xử  lý  chất  thải  rắn  và  chất 

thải lỏng chưa nhận được sự quan tâm của bệnh 

viện.  Quản  lý  nước  thải  và  dịch  thải  lỏng  phát 

sinh  tại  các  bệnh  viện  được  ưu  tiên  hàng  đầu 

trong  kiếm  soát  dịch  bệnh  và  an  toàn  vệ  sinh 

nghề nghiệp. Kết quả quan trắc môi trường bệnh 

viện trong  ba năm  trở  lại  đây  từ  năm 2009 đến 

2011 do Viện Vệ sinh – Y tế Công cộng TP.HCM 

thực  hiện  tại  các  bệnh  viện  khu  vực  phía  Nam 

cho  thấy,  các  bệnh  viện  có  mẫu  nước  thải  đạt 

tiêu  chuẩn  thải  ra  môi  trường  chiếm  tỷ  lệ  rất 

thấp (2009 chỉ có 0/6 bệnh viện, năm 2010 có 4/20 

bệnh viện, 2011 3/14 bệnh viện). Các mẫu nước 

thải có các thông số không đạt thường là BOD5, 

COD, amoni, chất rắn lơ lửng (SS), Coliforms tổng 

cộng. Nước thải bệnh viện bị ô nhiễm nặng gấp 

nhiều lần quy chuẩn cho phép, kết quả quan trắc 

năm 2010 có hàm lượng Amoni vượt từ 3,4 đến 

4,2 lần và Coliforms tổng cộng cao hơn tiêu chuẩn 

từ 48 đến 48.000 lần. Tỷ lệ các bệnh viện có mẫu 

nước  thải  sau  xử  lý  đạt  tiêu  chuẩn  môi  trường 

cũng rất thấp chỉ có 21,5% (3/14 bệnh viện) trong 

năm 2011(3,4,5).  

Nước thải từ các cơ sở y tế phát sinh từ hoạt 

động chăm sóc và sinh hoạt trong bệnh viện. Nó 

có thể chứa vi sinh vật, kim loại nặng, hóa chất 

độc, đồng vị phóng xạ  Điều đáng lo ngại chủ 

yếu từ nguồn nước thải bệnh viện là các vi sinh  vật gây bệnh đường ruột dễ dàng lây truyền qua  nước.  Theo  qui  chế  quản  lý  chất  thải  y  tế  ban  hành kèm theo quyết định số 43/2007/QĐ ‐ BYT  bắt  buộc  bệnh  viện  đang  hoạt  động  hoặc  xây  mới phải xây dựng hệ thống thu gom riêng nước  thải và nước mưa, hệ thống xử lý nước thải đáp  ứng được các tiêu chuẩn môi trường nhằm hạn  chế  tối  đa  sự  ô  nhiễm  môi  trường  do  các  hoạt  động y tế gây ra(2). 

Từ  những  hiện  trạng  trên  cho  thấy,  vấn  đề  đặt ra là cần có một hệ thống kiểm soát, theo dõi  liên tục các hoạt động quản lý chất thải y tế nói  chung và nước thải y tế nói riêng tại các cơ sở y 

tế,  đặc  biệt  là  tại  các  bệnh  viện.  Do  đó,  đề  tài 

“Hiện trạng công tác quản lý và xử lý nước thải 

y tế tại một số bệnh viện khu vực phía Nam năm  2012” được tiến hành nhằm đưa ra các cảnh báo  cũng  như  giải  pháp  kịp  thời  và  phù  hợp  ngăn  ngừa  các  nguy  cơ  tác  động  xấu  tới  môi  trường  cũng như ảnh hưởng tới sức khỏe con người. 

Mục tiêu nghiên cứu 

Đánh giá hiện trạng công tác quản lý và xử 

lý  chất  thải  lỏng  tại  một  số  các  bệnh  viện  khu 

vực phía Nam năm 2012. 

ĐỐI TƯỢNG ‐ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  Đối tượng nghiên cứu 

Nước  thải  sau  xử  lý  của  các  bệnh  viện  khu  vực phía Nam. 

Địa điểm nghiên cứu 

Nghiên cứu được thực hiện tại 22 bệnh viện  khu vực phía Nam năm 2012. 

Trang 3

Phương pháp mô tả cắt ngang. 

KẾT QUẢ ‐ BÀN LUẬN 

Khảo  sát  và  đánh  giá  hiện  trạng  quản  lý 

chất  thải  tại  22  bệnh  viện  khu  vực  phía  Nam 

cho thấy, 03/22 (13,6%) bệnh viện có giấy phép 

xả thải nước thải vào nguồn tiếp nhận. Đây là  thủ  tục  quan  trọng  trong  công  tác  quản  lý  nước thải theo quy định của Bộ Tài nguyên và  Môi trường(1). 

Hệ thống thu gom nước thải và nước mưa 

Bảng 1: Đặc điểm hệ thống thu gom nước thải và nước mưa tại 22 bệnh viện 

Khu vực

Hệ thống thu gom nước thải

và nước mưa Đặc điểm hệ thống thu gom Tình trạng thất thoát nước thải Chung Riêng Ngầm, kín Hở có nắp đậy Có Không

Kết quả bảng 1 cho thấy, 19/22 (86,4%) bệnh 

viện đã có hệ thống thu gom riêng nước thải và 

nước  mưa;  nước  mưa  thải  trực  tiếp  ra  cống 

chung, còn nước thải được thu gom đưa về trạm 

xử lý nước thải tập trung để xử lý trước khi thải 

ra môi trường; 03/22 (13,6%) bệnh viện sử dụng 

hệ thống cống thu gom chung nước thải và nước 

mưa. Phần lớn các hệ thống thu gom nước thải 

tại  các  bệnh  viện  được  xây  ngầm,  kín  (21/22 

bệnh  viện  chiếm 95,5%).  Kết  quả năm  2011  cho 

thấy  chỉ  có  8/14  (57,1%)  bệnh  viện  có  hệ  thống 

thu gom nước thải riêng với nước mưa, trong đó 

13/14  (92,9%)  bệnh  viện  có  hệ  thống  thu  gom  nước thải ngầm(5). Việc thu gom nước thải bằng 

hệ  thống  hở  có  nắp  đậy  đặt  ra  nhiều  nguy  cơ  thất thoát nước thải, lan truyền bệnh tật, các yếu 

tố gây hại cho sức khỏe đối với nhân viên y tế,  bệnh nhân và thân nhân người bệnh, cũng như  cộng  đồng  dân  cư  sinh  sống  xung  quanh  bệnh  viện. Bên cạnh đó, 02/22 (9,1%) bệnh viện có hiện  tượng  thất  thoát  nước  thải  y  tế  trong  quá  trình  thu gom do hệ thống thu gom đã xuống cấp, bục 

vỡ và rò rỉ nước thải. 

Bảng 2: Tình trạng hoạt động của hệ thống xử lý nước thải tại 22 bệnh viện 

Tên bệnh viện

Tình trạng hoạt động của hệ thống xử lý nước thải

Đủ điều kiện xả thải Hoàn chỉnh,

vận hành tốt Quá tải,xuống cấp, hư hỏng Không hoạt động

Tất cả 22 bệnh viện được khảo sát đều có hệ 

thống xử lý nước thải, công suất của hệ thống xử 

lý  nước  thải  dao  động  từ  150  đến  4000 

m3/ngày.đêm.  Kết  quả  quan  trắc  cho  thấy,  có 

20/22  bệnh  viện  hệ  thống  xử  lý  nước  thảiđang 

hoạt động và 02/22 bệnh viện có hệ thống xử lý 

nước thải đã ngừng hoạt động. Về điều kiện xả 

thải  vào  môi  trường,  chỉ  có  02/22  bệnh  viện  (chiếm  9,1%)  nước  thải  sau  xử  lý  đảm  bảo  đủ  điều kiện xả thải vào nguồn tiếp nhận theo quy  định.  Kết  quả  năm  2011  có  12/14  (71,4%)  bệnh  viện có hệ thống xử lý nước thải đang hoạt động 

và 02/14 (14,3%) bệnh viện có hệ thống đang xây  dựng và chưa hoạt động(5). 

Trang 4

Công nghệ xử lý nước thải Hóa lý

Sinh học Lọc sinh học Bùn hoạt tính tăng trưởng lơ lửng hoặc dính bám AAO kết hợp MBR

Kết  quả  bảng  3  cho  thấy,  có  19/20  bệnh 

viện (chiếm tỷ lệ 95%) áp dụng công nghệ sinh 

học  để  xử  lý  nước  thải,  chỉ  01  bệnh  viện  áp 

dụng công nghệ hóa lý. Công nghệ sinh học xử 

lý  nước  thải  áp  dụng  phổ  biến  tại  các  bệnh 

viện  khu  vực  phía  Nam  được  phân  thành  các 

nhóm  sau:  lọc  sinh  học  (05  bệnh  viện),  bùn 

hoạt  tính  tăng  trưởng  lơ  lửng  hoặc  dính  bám 

(13  bệnh  viện)  và  công  nghệ  xử  lý  hữu  cơ  tải 

trọng cao ‐ AAO kết hợp MBR (01 bệnh viện).  Kết  quả  năm  2011  cho  thấy  đa  phần  các  bệnh  viện sử dụng công nghệ lọc sinh học nhiều bậc  (hợp  khối)  (07/12  bệnh  viện  chiếm  58,3%),  sử  dụng công nghệ lọc sinh học nhỏ giọt (02 bệnh  viện) và sử dụng công nghệ bùn hoạt tính (02  bệnh viện) và duy chỉ có 1 bệnh viện sử dụng  công  nghệ  keo  tụ  ‐  lắng  trong  xử  lý  nước  thải(5). 

 

Biểu đồ 1: Công tác giám sát chất lượng nước thải định kỳ tại 22 bệnh viện 

Kết quả khảo sát cho thấy, chỉ có 15/22 bệnh 

viện  (chiếm  68,2%)  thực  hiện  giám  sát  định  kỳ 

chất lượng nước thải sau xử lý. Tuy nhiên, có sự 

khác  biệt  về  tần  suất  giám  sát,  03/15  bệnh  viện 

(chiếm 20%) thực hiện giám sát 1 lần/năm, 9/15 

bệnh viện (chiếm 60%), giám sát 2 lần/năm 1/15 

bệnh  viện  (chiếm  6,7%)  giám  sát  3  lần/năm  và 

2/15  bệnh  viện  (chiếm  13,3%)  giám  sát  4 

lần/năm. Kết quả năm 2011 có 09/12 (75%) bệnh 

viện định kỳ xét nghiệm chất lượng nước thải để 

đánh  giá  chất  lượng  nước  thải  sau  xử  lý  2 

lần/năm,  có  2/12  (16,7%)  bệnh  viện  tiến  hành 

giám  sát  4  lần/năm  và  03/12  (25%)  bệnh  viện 

không làm xét nghiệm định kỳ chất lượng nước 

thải sau xử lý lý do là thiếu kinh phí (5). Điều này 

chưa  đúng  với  quy  định  hiện  hành  của  Bộ  Tài 

nguyên  và  Môi  trường  về  giám  sát  chất  lượng 

nước thải định kỳ (3 tháng/lần). 

Bảng 4: Nguồn tiếp nhận nước thải của các bệnh 

viện 

Khu vực

Nguồn tiếp nhận nước thải

Hệ thống cống chung Sông, mương, kênh, rạch,

Tổng (n = 22) 13 09

Kết quả bảng 4 cho thấy, có 13/22 bệnh viện  (chiếm  59,1%)  xả  nước  thải  vào  hệ  thống  cống  thoát nước trên địa bàn, 09/22 bệnh viện (chiếm  40,9%) xả nước thải vào các nguồn nước bề mặt  như  sông,  mương,  kênh,  rạch,   xung  quanh  bệnh  viện.  Kết  quả  này  so  với  năm  2011  chỉ  có  04/14 bệnh viện (chiếm 28,6%) nước thải được xả  thải  trực  tiếp  vào  kênh,  mương,  sông  khu  vực  xung  quanh  bệnh  viện(5).  Đối  với  02  bệnh  viện 

có hệ thống xử lý nước thải đã ngừng hoạt động  trong đó có 01 bệnh viện nước thải chảy vào suối 

và  01  bệnh  viện  nước  thải  chảy  vào  hệ  thống  cống thoát nước của địa phương. 

Đông Nam Bộ

Tây Nam Bộ

Tuyến Trung Ương

0 1 2

5 4 0

0 1 0

0 1

2 lần/năm

3 lần/năm

4 lần/năm

Trang 5

tiêu chuẩn xả thải 

Tiêu chuẩn

xả thải

Số bệnh viện (n = 20) Tuyến Trung

ương(n = 3)

Đông Nam Bộ(n = 6)

Tây Nam Bộ(n

= 11)

Số bệnh viện xét theo cột A của QCVN 28:2010/BTNMT

(0, 1, 7)

Số bệnh viện xét theo cột B của QCVN 28:2010/BTNMT

(3, 5, 4)

Áp  dụng  QCVN  28:2010/BTNMT  để  đánh 

giá chất lượng nước thải. Cột A áp dụng để đánh 

giá chất lượng nước thải khi thải vào các nguồn  nước  được  dùng  cho  mục  đích  cấp  nước  sinh  hoạt.  Cột  B  áp  dụng  để  đánh  giá  chất  lượng  nước  thải  khi  thải  vào  các  nguồn  nước  không  dùng cho mục đích cấp nước sinh hoạt hoặc hệ  thống cống. Kết quả xét nghiệm mẫu nước thải  sau xử lý cho thấy, nước thải sau xử lý của các  bệnh  viện đạt tiêu  chuẩn  xả  thải  theo  quy  định  của QCVN 28:2010/BTNMT chiếm tỷ lệ rất thấp  10% (2/20 bệnh viện) và so với kết quả năm 2011 

tỷ  lệ  bệnh  viện đạt 3/14 (chiếm 21,4 %)  và năm 

2010 tỷ lệ bệnh viện đạt 4/20 (chiếm 20%)(4,5). 

Bảng 6: Những chỉ tiêu không đạt thường gặp trong mẫu nước thải sau xử lý  

Tên chỉ tiêu Cột A - QCVN 28:2010/BTNMT Cột B - QCVN 28:2010/BTNMT

Vượt thấp nhất (lần) Vượt cao nhất (lần) Vượt thấp nhất (lần) Vượt cao nhất (lần)

Các chỉ tiêu hóa lý

Các chỉ tiêu vi sinh

Hoạt độ phóng xạ α, β

Kết quả xét nghiệm mẫu nước thải sau xử lý 

cho  thấy,  những  chỉ  tiêu  không  tiêu  chuẩn 

thường  gặp  là  hàm  lượng  amoni,  BOD5,  COD, 

tổng  Coliforms.  Trong  đó,  chỉ  tiêu  không  đạt 

nhiều  nhất  là  hàm  lượng  amoni,  mức  độ  vượt 

tiêu  chuẩn  xét  theo  cột  A  dao  động  từ  2,4  ‐  9,2 

lần và tương ứng với cột B là 1,01 – 1,9 lần. Hàm 

lượng COD trong nước thải vượt tiêu chuẩn cho 

phép 9,98 lần. Đồng thời, có 02 bệnh viện trong 

nước thải sau xử lý có hoạt độ phóng xạ β vượt 

tiêu chuẩn 72,8 lần. Nước thải sau xử lý của các 

bệnh  viện  còn  tồn  tại  một  lượng  lớn  vi  khuẩn 

Coliforms. Bên cạnh đó, còn có sự hiện diện của 

vi  khuẩn  Salmonella  trong  nước  thải  đầu  ra  của 

4/22 bệnh viện được khảo sát.  

Kết quả này so với năm 2011, nước thải trước 

xử lý của 14 bệnh viện có chỉ tiêu amoni, BOD5, 

COD và Coliforms tổng cộng lớn hơn giá trị giới 

hạn của QCVN 28:2010/BTNMT. Đặc biệt, trong  nguồn  nước  thải  của  các  bệnh  viện  không  phát 

hiện  thấy  các  vi  khuẩn  gây  bệnh  (Salmonella,  Shigella,  Vibrio  cholera).  Điều  đó  cho  thấy  nước 

thải sau xử lý của các bệnh viện vẫn chưa triệt để  loại  bỏ  các  thành  phần  có  hại  cho  môi  trường,  hơn nữa do các trạm xử lý nước thải của các BV  được  xây  dựng  và  đưa  vào  sử  dụng  đã  từ  lâu  nên hiệu suất xử lý nước thải còn hạn chế, dẫn  đến  chất  lượng  nước  thải  sau  xử  lý  xả  ra  môi  trường chưa đạt yêu cầu(5). 

Trang 6

Kết quả khảo sát hiện trạng quản lý và xử lý 

nước thải của 22 bệnh viện trong năm 2012 cho 

thấy: tỷ lệ bệnh viện có hệ thống thu gom riêng 

nước  thải  và  nước  mưa  là  86,4%  (19/22  bệnh 

viện);  3/22  (13,6%)  bệnh  viện  sử  dụng  hệ  thống 

cống  thu  gom  chung  nước  thải  và  nước  mưa. 

20/22 (90,9%) bệnh viện có hệ thống xử lý nước 

thải đang hoạt động với công suất dao động từ 

150 đến 4.000 m3/ngày.đêm.  

Mặt khác, có 15/22 bệnh viện (chiếm 68,2%) 

thực hiện giám sát chất lượng nước thải sau xử 

lý  nhưng  chỉ  có  02/15  bệnh  viện  (13,3%)  tiến 

hành giám sát chất lượng nước thải sau xử lý 4 

lần/năm theo quy định. Đối với nguồn tiếp nhận 

nước thải, 13/22 bệnh viện xả thải vào hệ thống 

cống thoát nước trên địa bàn, 9/22 bệnh viện xả 

thải  vào  các  nguồn  nước  có  thể  dùng  cho  mục 

đích sinh hoạt.  

Về  chất  lượng  nước  thải  sau  xử  lý,  chỉ  có 

02/22  bệnh  viện  nước  thải  sau  xử  lý  đạt  tiêu 

chuẩn  xả  thải  theo  quy  định  của  QCVN 

28:2010/BTNMT. Các chỉ tiêu không đạt thường 

gặp  là  hàm  lượng  Amoni,  BOD5,  COD,  tổng 

Coliforms, hoạt độ phóng xạ β.  

Từ những hiện trạng trên, các bệnh viện cần 

kiểm tra chất lượng nước thải định kỳ, tiến hành 

các  biện  pháp  khắc  phục  hệ  thống  xử  lý  nước 

thải  để  đảm  bảo  nước  thải  sau  xử  lý  đạt  tiêu 

chuẩn  QCVN  28:2010/BTNMT  –  Quy  chuẩn  kỹ 

thuật quốc gia về nước thải y tế. Ngoài ra ngành 

y  tế  cần  có  những  biện  pháp  mạnh  mẽ  trong 

công tác xử lý nước thải y tế để giảm thiểu tối đa 

những nguy cơ ô nhiễm môi trường do ngành y 

tế gây ra. 

KIẾN NGHỊ 

Các  bệnh  viện  cần  nhanh  chóng  tiến  hành  đăng ký giấy phép xả nước thải ra môi trường.  Thực hiện kiểm tra hệ thống thu gom nước  thải nhằm đảm bảo tất cả nước thải phát sinh từ  khoa/phòng đều dẫn về hệ thống thu gom và xử 

lý  nước  thải.  Bên  cạnh  đó,  cần  kiểm  tra  chất  lượng  nước  thải  định  kỳ,  tiến  hành  các  biện  pháp  khắc  phục  hệ  thống  xử  lý  nước  thải  để  đảm  bảo  nước  thải  sau  xử  lý  đạt  tiêu  chuẩn  QCVN  28:2010/BTNMT  –  Quy  chuẩn  kỹ  thuật  quốc gia về nước thải y tế.  

Các bệnh viện cần lắp đặt đồng hồ kiểm soát  lượng nước thải phát sinh và lượng nước thải xả  thải  vào  môi  trường  theo  quy  định.  Kiểm  tra,  bảo  trì,  đậy kín  các  nắp cống tại  các hầm  xử  lý  nước thải để hạn chế khí NO2, SO2, H2S phát sinh  trong không khí. 

TÀI LIỆU THAM KHẢO 

1 Bộ  Tài  nguyên  và  Môi  trường  (2010).  Quy  chuẩn  kỹ  thuật  quốc  gia  về  nước  thải  y  tế  QCVN  28:2010/BTNMT.  Hà  Nội. 

Tr. 3 ‐ 6. 

2 Bộ Y tế (2007). Quy chế quản lý chất thải y tế. Hà Nội. Tr. 11 ‐ 13. 

3 Viện Y tế Công cộng TP. Hồ Chí Minh (2009). Báo cáo quan trắc  môi trường y tế khu vực miền Nam. Tr. 57 ‐ 62. 

4 Viện Vệ sinh Y tế Công cộng TP. Hồ Chí Minh (2010). Báo cáo  quan trắc môi trường y tế khu vực miền Nam. Tr. 80 ‐ 85. 

5 Viện Vệ sinh Y tế Công cộng TP. Hồ Chí Minh (2011). Báo cáo  quan trắc môi trường y tế khu vực miền Nam. Tr 128 ‐ 134. 

 

Ngày phản biện nhận xét bài báo:   9/6/2014 

 

 

Ngày đăng: 20/01/2020, 01:51

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w