Nghiên cứu được tiến hành với mục tiêu nhằm đánh giá hiện trạng công tác quản lý và xử lý chất thải lỏng tại một số các bệnh viện khu vực phía Nam năm 2012. Mời các bạn cùng tham khảo bài viết để nắm rõ nội dung chi tiết của đề tài nghiên cứu này.
Trang 1HIỆN TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ VÀ XỬ LÝ NƯỚC THẢI Y TẾ TẠI MỘT SỐ BỆNH VIỆN KHU VỰC MIỀN NAM NĂM 2012
Phạm Đặng Hoài Nam, Nguyễn Xuân Thủy*
TÓM TẮT
Đặt vấn đề: Nước thải bệnh viện chứa nhiều yếu tố ô nhiễm như: chất hữu cơ, chất thải phóng xạ và các
mầm bệnh gây tác động trực tiếp đối với môi trường và sức khỏe con người. Trong những năm gần đây, các bệnh viện đã nhận thức được tầm quan trọng của việc xử lý nước thải bệnh viện, xây dựng hệ thống thu gom riêng nước thải và nước mưa nhưng vấn đề này vẫn cần sự quan tâm nhiều hơn từ các cơ quan và ban ngành trong việc cải thiện. Năm 2012, Bộ Y tế đã tiếp tục chỉ đạo Viện VSYTCC TPHCM tiến hành quan trắc môi trường y
tế khu vực miền Nam và xây dựng đề án bảo vệ môi trường cho ngành y tế.
Mục tiêu nghiên cứu: Đánh giá hiện trạng công tác quản lý và xử lý chất thải lỏng tại một số các bệnh viện khu vực phía Nam năm 2012.
Phương pháp nghiên cứu: Phương pháp mô tả cắt ngang.
Kết quả nghiên cứu: Trong số 22 bệnh viện khảo sát đều có hệ thống xử lý nước thải trong đó 45,45% hệ
thống hoạt động tốt, 45,45% hệ thống hoạt động quá tải và 9,1% hệ thống đã ngưng hoạt động. Bên cạnh đó, chỉ
có 3/22 (13,6%) bệnh viện đã có giấy phép xả thải ra môi trường; 2/20 (10%) bệnh viện có kết quả xét nghiệm nước thải sau xử lý đạt mức cho phép theo QCVN 28:2010/BTNMT.
Kết luận: Hiện trạng công tác quản lý và xử lý nước thải y tế qua hai đợt quan trắc tại 22 bệnh viện cho
thấy vẫn còn tồn tại thực trạng đáng lo ngại. Ngành y tế cần có những biện pháp mạnh mẽ trong công tác xử lý nước thải y tế để giảm thiểu tối đa những nguy cơ ô nhiễm môi trường do ngành y tế gây ra để bảo vệ sức khỏe
cho nhân viên y tế và cộng đồng.
Từ khóa: Nước thải y tế, xả thải, quá tải.
ABSTRACT
STATUS OF MEDICAL WASTEWATER TREATMENT AND MANAGEMENT
IN SOME HOSPITALS IN THE SOUTH OF VIETNAM, 2012
Pham Dang Hoai Nam, Nguyen Xuan Thuy
* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 18 ‐ Supplement of No 6 ‐ 2014:603 ‐ 608 Background: Hospital wastewater contains many polluted factors such as: organic substances, radioactive
waste substances and pathogens that affect directly on environment and human health. In recent years, hospitals have taken into account the importance of hospital wastewater treatment, building seperate collection rain and wastewater systems but these problems still need more attention from other sectors and ministries for improvement. In 2012, Ministry of Health has been assigned Institute of Hygiene and Public Health in HCM city to monitor the status of environment of hospitals in the South of Vietnam and to build programs of environment protection in health sector.
Objectives: To assess the status of medical wastewater treatment and management in some hospitals in the
South of Vietnam.
Methods: A cross ‐ sectional study.
Results: All of 22 studied hospitals had wastewater treatment system among which 45.45% were good in
* Khoa Sức Khỏe Môi Trường ‐ Viện Y Tế Công Cộng TP. Hồ Chí Minh
Trang 2condition; 45.45% overloaded and 9.1% stopped operation. Besides that, there were only 3/22 hospitals (13.6%) having license for discharging wastewater into water sources and 2/20 hospitals (10%) had test result certificate
of wastewater after requirements of the National technical regulation for hospital wastewater based on QCVN 28:2010/BTNMT.
Conclusion: Wastewater treatment and management of 22 hospitals still meet many difficulties. The health
sector ought to build suitable policies to help hospitals in solving medical liquid waste in order to minimize the
risk of environmental pollution caused by hospitals to protect health ‐ workers and community’s health.
Key word: Hospital wastewater; discharging wastewater; Overloaded.
ĐẶT VẤN ĐỀ
Báo cáo về tình hình thực hiện quản lý chất
thải y tế do Bộ Y tế xây dựng trình Thủ tướng
Chính phủ đã chỉ ra các bất cập tồn tại tại các
bệnh viện trong vấn đề quản lý chất thải đó là
việc phân loại chất thải rắn y tế còn chưa đúng
quy định, các phương tiện thu gom như túi
đựng rác. Đồng thời, việc đầu tư xây dựng và
vận hành hệ thống xử lý chất thải rắn và chất
thải lỏng chưa nhận được sự quan tâm của bệnh
viện. Quản lý nước thải và dịch thải lỏng phát
sinh tại các bệnh viện được ưu tiên hàng đầu
trong kiếm soát dịch bệnh và an toàn vệ sinh
nghề nghiệp. Kết quả quan trắc môi trường bệnh
viện trong ba năm trở lại đây từ năm 2009 đến
2011 do Viện Vệ sinh – Y tế Công cộng TP.HCM
thực hiện tại các bệnh viện khu vực phía Nam
cho thấy, các bệnh viện có mẫu nước thải đạt
tiêu chuẩn thải ra môi trường chiếm tỷ lệ rất
thấp (2009 chỉ có 0/6 bệnh viện, năm 2010 có 4/20
bệnh viện, 2011 3/14 bệnh viện). Các mẫu nước
thải có các thông số không đạt thường là BOD5,
COD, amoni, chất rắn lơ lửng (SS), Coliforms tổng
cộng. Nước thải bệnh viện bị ô nhiễm nặng gấp
nhiều lần quy chuẩn cho phép, kết quả quan trắc
năm 2010 có hàm lượng Amoni vượt từ 3,4 đến
4,2 lần và Coliforms tổng cộng cao hơn tiêu chuẩn
từ 48 đến 48.000 lần. Tỷ lệ các bệnh viện có mẫu
nước thải sau xử lý đạt tiêu chuẩn môi trường
cũng rất thấp chỉ có 21,5% (3/14 bệnh viện) trong
năm 2011(3,4,5).
Nước thải từ các cơ sở y tế phát sinh từ hoạt
động chăm sóc và sinh hoạt trong bệnh viện. Nó
có thể chứa vi sinh vật, kim loại nặng, hóa chất
độc, đồng vị phóng xạ Điều đáng lo ngại chủ
yếu từ nguồn nước thải bệnh viện là các vi sinh vật gây bệnh đường ruột dễ dàng lây truyền qua nước. Theo qui chế quản lý chất thải y tế ban hành kèm theo quyết định số 43/2007/QĐ ‐ BYT bắt buộc bệnh viện đang hoạt động hoặc xây mới phải xây dựng hệ thống thu gom riêng nước thải và nước mưa, hệ thống xử lý nước thải đáp ứng được các tiêu chuẩn môi trường nhằm hạn chế tối đa sự ô nhiễm môi trường do các hoạt động y tế gây ra(2).
Từ những hiện trạng trên cho thấy, vấn đề đặt ra là cần có một hệ thống kiểm soát, theo dõi liên tục các hoạt động quản lý chất thải y tế nói chung và nước thải y tế nói riêng tại các cơ sở y
tế, đặc biệt là tại các bệnh viện. Do đó, đề tài
“Hiện trạng công tác quản lý và xử lý nước thải
y tế tại một số bệnh viện khu vực phía Nam năm 2012” được tiến hành nhằm đưa ra các cảnh báo cũng như giải pháp kịp thời và phù hợp ngăn ngừa các nguy cơ tác động xấu tới môi trường cũng như ảnh hưởng tới sức khỏe con người.
Mục tiêu nghiên cứu
Đánh giá hiện trạng công tác quản lý và xử
lý chất thải lỏng tại một số các bệnh viện khu
vực phía Nam năm 2012.
ĐỐI TƯỢNG ‐ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Đối tượng nghiên cứu
Nước thải sau xử lý của các bệnh viện khu vực phía Nam.
Địa điểm nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện tại 22 bệnh viện khu vực phía Nam năm 2012.
Trang 3Phương pháp mô tả cắt ngang.
KẾT QUẢ ‐ BÀN LUẬN
Khảo sát và đánh giá hiện trạng quản lý
chất thải tại 22 bệnh viện khu vực phía Nam
cho thấy, 03/22 (13,6%) bệnh viện có giấy phép
xả thải nước thải vào nguồn tiếp nhận. Đây là thủ tục quan trọng trong công tác quản lý nước thải theo quy định của Bộ Tài nguyên và Môi trường(1).
Hệ thống thu gom nước thải và nước mưa
Bảng 1: Đặc điểm hệ thống thu gom nước thải và nước mưa tại 22 bệnh viện
Khu vực
Hệ thống thu gom nước thải
và nước mưa Đặc điểm hệ thống thu gom Tình trạng thất thoát nước thải Chung Riêng Ngầm, kín Hở có nắp đậy Có Không
Kết quả bảng 1 cho thấy, 19/22 (86,4%) bệnh
viện đã có hệ thống thu gom riêng nước thải và
nước mưa; nước mưa thải trực tiếp ra cống
chung, còn nước thải được thu gom đưa về trạm
xử lý nước thải tập trung để xử lý trước khi thải
ra môi trường; 03/22 (13,6%) bệnh viện sử dụng
hệ thống cống thu gom chung nước thải và nước
mưa. Phần lớn các hệ thống thu gom nước thải
tại các bệnh viện được xây ngầm, kín (21/22
bệnh viện chiếm 95,5%). Kết quả năm 2011 cho
thấy chỉ có 8/14 (57,1%) bệnh viện có hệ thống
thu gom nước thải riêng với nước mưa, trong đó
13/14 (92,9%) bệnh viện có hệ thống thu gom nước thải ngầm(5). Việc thu gom nước thải bằng
hệ thống hở có nắp đậy đặt ra nhiều nguy cơ thất thoát nước thải, lan truyền bệnh tật, các yếu
tố gây hại cho sức khỏe đối với nhân viên y tế, bệnh nhân và thân nhân người bệnh, cũng như cộng đồng dân cư sinh sống xung quanh bệnh viện. Bên cạnh đó, 02/22 (9,1%) bệnh viện có hiện tượng thất thoát nước thải y tế trong quá trình thu gom do hệ thống thu gom đã xuống cấp, bục
vỡ và rò rỉ nước thải.
Bảng 2: Tình trạng hoạt động của hệ thống xử lý nước thải tại 22 bệnh viện
Tên bệnh viện
Tình trạng hoạt động của hệ thống xử lý nước thải
Đủ điều kiện xả thải Hoàn chỉnh,
vận hành tốt Quá tải,xuống cấp, hư hỏng Không hoạt động
Tất cả 22 bệnh viện được khảo sát đều có hệ
thống xử lý nước thải, công suất của hệ thống xử
lý nước thải dao động từ 150 đến 4000
m3/ngày.đêm. Kết quả quan trắc cho thấy, có
20/22 bệnh viện hệ thống xử lý nước thảiđang
hoạt động và 02/22 bệnh viện có hệ thống xử lý
nước thải đã ngừng hoạt động. Về điều kiện xả
thải vào môi trường, chỉ có 02/22 bệnh viện (chiếm 9,1%) nước thải sau xử lý đảm bảo đủ điều kiện xả thải vào nguồn tiếp nhận theo quy định. Kết quả năm 2011 có 12/14 (71,4%) bệnh viện có hệ thống xử lý nước thải đang hoạt động
và 02/14 (14,3%) bệnh viện có hệ thống đang xây dựng và chưa hoạt động(5).
Trang 4Công nghệ xử lý nước thải Hóa lý
Sinh học Lọc sinh học Bùn hoạt tính tăng trưởng lơ lửng hoặc dính bám AAO kết hợp MBR
Kết quả bảng 3 cho thấy, có 19/20 bệnh
viện (chiếm tỷ lệ 95%) áp dụng công nghệ sinh
học để xử lý nước thải, chỉ 01 bệnh viện áp
dụng công nghệ hóa lý. Công nghệ sinh học xử
lý nước thải áp dụng phổ biến tại các bệnh
viện khu vực phía Nam được phân thành các
nhóm sau: lọc sinh học (05 bệnh viện), bùn
hoạt tính tăng trưởng lơ lửng hoặc dính bám
(13 bệnh viện) và công nghệ xử lý hữu cơ tải
trọng cao ‐ AAO kết hợp MBR (01 bệnh viện). Kết quả năm 2011 cho thấy đa phần các bệnh viện sử dụng công nghệ lọc sinh học nhiều bậc (hợp khối) (07/12 bệnh viện chiếm 58,3%), sử dụng công nghệ lọc sinh học nhỏ giọt (02 bệnh viện) và sử dụng công nghệ bùn hoạt tính (02 bệnh viện) và duy chỉ có 1 bệnh viện sử dụng công nghệ keo tụ ‐ lắng trong xử lý nước thải(5).
Biểu đồ 1: Công tác giám sát chất lượng nước thải định kỳ tại 22 bệnh viện
Kết quả khảo sát cho thấy, chỉ có 15/22 bệnh
viện (chiếm 68,2%) thực hiện giám sát định kỳ
chất lượng nước thải sau xử lý. Tuy nhiên, có sự
khác biệt về tần suất giám sát, 03/15 bệnh viện
(chiếm 20%) thực hiện giám sát 1 lần/năm, 9/15
bệnh viện (chiếm 60%), giám sát 2 lần/năm 1/15
bệnh viện (chiếm 6,7%) giám sát 3 lần/năm và
2/15 bệnh viện (chiếm 13,3%) giám sát 4
lần/năm. Kết quả năm 2011 có 09/12 (75%) bệnh
viện định kỳ xét nghiệm chất lượng nước thải để
đánh giá chất lượng nước thải sau xử lý 2
lần/năm, có 2/12 (16,7%) bệnh viện tiến hành
giám sát 4 lần/năm và 03/12 (25%) bệnh viện
không làm xét nghiệm định kỳ chất lượng nước
thải sau xử lý lý do là thiếu kinh phí (5). Điều này
chưa đúng với quy định hiện hành của Bộ Tài
nguyên và Môi trường về giám sát chất lượng
nước thải định kỳ (3 tháng/lần).
Bảng 4: Nguồn tiếp nhận nước thải của các bệnh
viện
Khu vực
Nguồn tiếp nhận nước thải
Hệ thống cống chung Sông, mương, kênh, rạch,
Tổng (n = 22) 13 09
Kết quả bảng 4 cho thấy, có 13/22 bệnh viện (chiếm 59,1%) xả nước thải vào hệ thống cống thoát nước trên địa bàn, 09/22 bệnh viện (chiếm 40,9%) xả nước thải vào các nguồn nước bề mặt như sông, mương, kênh, rạch, xung quanh bệnh viện. Kết quả này so với năm 2011 chỉ có 04/14 bệnh viện (chiếm 28,6%) nước thải được xả thải trực tiếp vào kênh, mương, sông khu vực xung quanh bệnh viện(5). Đối với 02 bệnh viện
có hệ thống xử lý nước thải đã ngừng hoạt động trong đó có 01 bệnh viện nước thải chảy vào suối
và 01 bệnh viện nước thải chảy vào hệ thống cống thoát nước của địa phương.
Đông Nam Bộ
Tây Nam Bộ
Tuyến Trung Ương
0 1 2
5 4 0
0 1 0
0 1
2 lần/năm
3 lần/năm
4 lần/năm
Trang 5tiêu chuẩn xả thải
Tiêu chuẩn
xả thải
Số bệnh viện (n = 20) Tuyến Trung
ương(n = 3)
Đông Nam Bộ(n = 6)
Tây Nam Bộ(n
= 11)
Số bệnh viện xét theo cột A của QCVN 28:2010/BTNMT
(0, 1, 7)
Số bệnh viện xét theo cột B của QCVN 28:2010/BTNMT
(3, 5, 4)
Áp dụng QCVN 28:2010/BTNMT để đánh
giá chất lượng nước thải. Cột A áp dụng để đánh
giá chất lượng nước thải khi thải vào các nguồn nước được dùng cho mục đích cấp nước sinh hoạt. Cột B áp dụng để đánh giá chất lượng nước thải khi thải vào các nguồn nước không dùng cho mục đích cấp nước sinh hoạt hoặc hệ thống cống. Kết quả xét nghiệm mẫu nước thải sau xử lý cho thấy, nước thải sau xử lý của các bệnh viện đạt tiêu chuẩn xả thải theo quy định của QCVN 28:2010/BTNMT chiếm tỷ lệ rất thấp 10% (2/20 bệnh viện) và so với kết quả năm 2011
tỷ lệ bệnh viện đạt 3/14 (chiếm 21,4 %) và năm
2010 tỷ lệ bệnh viện đạt 4/20 (chiếm 20%)(4,5).
Bảng 6: Những chỉ tiêu không đạt thường gặp trong mẫu nước thải sau xử lý
Tên chỉ tiêu Cột A - QCVN 28:2010/BTNMT Cột B - QCVN 28:2010/BTNMT
Vượt thấp nhất (lần) Vượt cao nhất (lần) Vượt thấp nhất (lần) Vượt cao nhất (lần)
Các chỉ tiêu hóa lý
Các chỉ tiêu vi sinh
Hoạt độ phóng xạ α, β
Kết quả xét nghiệm mẫu nước thải sau xử lý
cho thấy, những chỉ tiêu không tiêu chuẩn
thường gặp là hàm lượng amoni, BOD5, COD,
tổng Coliforms. Trong đó, chỉ tiêu không đạt
nhiều nhất là hàm lượng amoni, mức độ vượt
tiêu chuẩn xét theo cột A dao động từ 2,4 ‐ 9,2
lần và tương ứng với cột B là 1,01 – 1,9 lần. Hàm
lượng COD trong nước thải vượt tiêu chuẩn cho
phép 9,98 lần. Đồng thời, có 02 bệnh viện trong
nước thải sau xử lý có hoạt độ phóng xạ β vượt
tiêu chuẩn 72,8 lần. Nước thải sau xử lý của các
bệnh viện còn tồn tại một lượng lớn vi khuẩn
Coliforms. Bên cạnh đó, còn có sự hiện diện của
vi khuẩn Salmonella trong nước thải đầu ra của
4/22 bệnh viện được khảo sát.
Kết quả này so với năm 2011, nước thải trước
xử lý của 14 bệnh viện có chỉ tiêu amoni, BOD5,
COD và Coliforms tổng cộng lớn hơn giá trị giới
hạn của QCVN 28:2010/BTNMT. Đặc biệt, trong nguồn nước thải của các bệnh viện không phát
hiện thấy các vi khuẩn gây bệnh (Salmonella, Shigella, Vibrio cholera). Điều đó cho thấy nước
thải sau xử lý của các bệnh viện vẫn chưa triệt để loại bỏ các thành phần có hại cho môi trường, hơn nữa do các trạm xử lý nước thải của các BV được xây dựng và đưa vào sử dụng đã từ lâu nên hiệu suất xử lý nước thải còn hạn chế, dẫn đến chất lượng nước thải sau xử lý xả ra môi trường chưa đạt yêu cầu(5).
Trang 6Kết quả khảo sát hiện trạng quản lý và xử lý
nước thải của 22 bệnh viện trong năm 2012 cho
thấy: tỷ lệ bệnh viện có hệ thống thu gom riêng
nước thải và nước mưa là 86,4% (19/22 bệnh
viện); 3/22 (13,6%) bệnh viện sử dụng hệ thống
cống thu gom chung nước thải và nước mưa.
20/22 (90,9%) bệnh viện có hệ thống xử lý nước
thải đang hoạt động với công suất dao động từ
150 đến 4.000 m3/ngày.đêm.
Mặt khác, có 15/22 bệnh viện (chiếm 68,2%)
thực hiện giám sát chất lượng nước thải sau xử
lý nhưng chỉ có 02/15 bệnh viện (13,3%) tiến
hành giám sát chất lượng nước thải sau xử lý 4
lần/năm theo quy định. Đối với nguồn tiếp nhận
nước thải, 13/22 bệnh viện xả thải vào hệ thống
cống thoát nước trên địa bàn, 9/22 bệnh viện xả
thải vào các nguồn nước có thể dùng cho mục
đích sinh hoạt.
Về chất lượng nước thải sau xử lý, chỉ có
02/22 bệnh viện nước thải sau xử lý đạt tiêu
chuẩn xả thải theo quy định của QCVN
28:2010/BTNMT. Các chỉ tiêu không đạt thường
gặp là hàm lượng Amoni, BOD5, COD, tổng
Coliforms, hoạt độ phóng xạ β.
Từ những hiện trạng trên, các bệnh viện cần
kiểm tra chất lượng nước thải định kỳ, tiến hành
các biện pháp khắc phục hệ thống xử lý nước
thải để đảm bảo nước thải sau xử lý đạt tiêu
chuẩn QCVN 28:2010/BTNMT – Quy chuẩn kỹ
thuật quốc gia về nước thải y tế. Ngoài ra ngành
y tế cần có những biện pháp mạnh mẽ trong
công tác xử lý nước thải y tế để giảm thiểu tối đa
những nguy cơ ô nhiễm môi trường do ngành y
tế gây ra.
KIẾN NGHỊ
Các bệnh viện cần nhanh chóng tiến hành đăng ký giấy phép xả nước thải ra môi trường. Thực hiện kiểm tra hệ thống thu gom nước thải nhằm đảm bảo tất cả nước thải phát sinh từ khoa/phòng đều dẫn về hệ thống thu gom và xử
lý nước thải. Bên cạnh đó, cần kiểm tra chất lượng nước thải định kỳ, tiến hành các biện pháp khắc phục hệ thống xử lý nước thải để đảm bảo nước thải sau xử lý đạt tiêu chuẩn QCVN 28:2010/BTNMT – Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải y tế.
Các bệnh viện cần lắp đặt đồng hồ kiểm soát lượng nước thải phát sinh và lượng nước thải xả thải vào môi trường theo quy định. Kiểm tra, bảo trì, đậy kín các nắp cống tại các hầm xử lý nước thải để hạn chế khí NO2, SO2, H2S phát sinh trong không khí.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Bộ Tài nguyên và Môi trường (2010). Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải y tế QCVN 28:2010/BTNMT. Hà Nội.
Tr. 3 ‐ 6.
2 Bộ Y tế (2007). Quy chế quản lý chất thải y tế. Hà Nội. Tr. 11 ‐ 13.
3 Viện Y tế Công cộng TP. Hồ Chí Minh (2009). Báo cáo quan trắc môi trường y tế khu vực miền Nam. Tr. 57 ‐ 62.
4 Viện Vệ sinh Y tế Công cộng TP. Hồ Chí Minh (2010). Báo cáo quan trắc môi trường y tế khu vực miền Nam. Tr. 80 ‐ 85.
5 Viện Vệ sinh Y tế Công cộng TP. Hồ Chí Minh (2011). Báo cáo quan trắc môi trường y tế khu vực miền Nam. Tr 128 ‐ 134.
Ngày phản biện nhận xét bài báo: 9/6/2014