1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Tỉ lệ bạo lực gia đình đối với phụ nữ từ 18 đến 60 tuổi tại tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu

6 129 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 356,74 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu được thực hiện với mục tiêu xác định tỉ lệ phụ nữ bị bạo hành gia đình do chồng hoặc bạn tình gây ra và các yếu tố liên quan ở phụ nữ từ 18 đến 60 tuổi tại tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu trong năm 2013. Mời các bạn cùng tham khảo đề tài qua bài viết này.

Trang 1

TỈ LỆ BẠO LỰC GIA ĐÌNH ĐỐI VỚI PHỤ NỮ TỪ 18 ĐẾN 60 TUỔI  

TẠI TỈNH BÀ RỊA‐VŨNG TÀU 

Nguyễn Tấn Thanh Tuyền*, Đỗ Văn Dũng** 

TÓM TẮT 

Đặt vấn đề: Nạn bạo hành gia đình (BHGĐ) đã và đang là vấn đề nghiêm trọng hiện nay, nó không chỉ ảnh 

hưởng đến cá nhân bị bạo hành, những thành viên trong gia đình mà còn gây ra những tác động, hậu quả tiêu  cực cho xã hội. 

Mục tiêu: Xác định tỉ lệ phụ nữ bị bạo hành gia đình do chồng hoặc bạn tình gây ra và các yếu tố liên quan ở 

phụ nữ từ 18 đến 60 tuổi tại tỉnh Bà Rịa‐Vũng Tàu trong năm 2013 

Phương pháp nghiên cứu: Một nghiên cứu cắt ngang mô tả 

Kết quả nghiên cứu: Tình trạng bạo lực xảy ra nhiều ở phụ nữ lứa tuổi 18 – 29, đa số họ ở nhà và thiếu 

kinh  nghiệm  trong  cuộc  sống  hôn  nhân.  Phụ  nữ  bị  bạo  hành  tinh  thần  cao  hơn  nhiều  so  với  thể  xác  (48,5%>14,8%). Bạo hành tình dục chỉ có 2%. Quát mắng, nạt nộ, đập phá đồ đạc, tát, ném, xô đẩy, đánh là  những hình thức bạo hành thường xảy ra. Hầu hết các tình huống dẫn đến bạo hành là do người chồng nghiện  hút, cờ bạc, uống rượu. Phụ nữ nghèo và phụ thuộc chồng có khả năng bị bạo hành cao hơn. 

Kết  luận:  Mặc dù ở nước ta Luật Phòng, chống bạo hành gia đình đã có hiệu lực, nhưng hiện tượng bạo  hành vẫn chưa thuyên giảm, đặc biệt là bạo hành tinh thần.  Tỉnh cần tạo công ăn việc làm để phụ nữ không phụ  thuộc kinh tế vào chồng và tăng cường giáo dục để mọi người hiểu biết, ý thức, và có thái độ đúng về vấn đề bình 

đẳng giới. 

Từ khóa: bạo hành, gia đình, phụ nữ, Vũng Tàu 

SUMMARY 

PERCENTAGE OF DOMESTIC VIOLENCE AGAINST WOMEN AGED 18 TO 60 YEARS IN BA RIA‐

VUNG TAU PROVINCE 

Nguyen Tan Thanh Tuyen, Do Van Dung 

* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 18 ‐ Supplement of No 6‐ 2014: 463 – 468 

Background: Domestic violence has been aserious problem these days. It affects not only the individual sand 

their family members, but also causes serious consequences and negative impacts for community. 

Objective: To determine the percentage of women aged 18 to 60 years, living in Ba Ria‐Vung Tau in 2013 

and abused by their husbands or intimate partners; and associated factors  

Method: A descriptive cross‐sectional study was conducted. 

Results:  The  highest  rate  of  violence  was  among  women  aged  18‐29  years  because  most  of  them  are 

housewives  and  lack  of  marriage  experiences.  There  was  a  much  higher  rate  of  psychological  violence  against  women (48.5%) than physical violence (14.8%) while sexual violence is only about 2%. Domestic violence acts  are  usually shouting, fulminatory, smashing,  slapping,  throwing  objects,  shoving  and hitting.  Addiction  to  drugs,  gambling,  and  alcohol  of  a  man  was  a  common  excuse  for  violence.  Women  who  have  poor  economic  conditions remains economically dependent on their husbands/partners are at higher risk of violence.  

Conclusions:  Although  the  Law  on  Domestic  Violence  Prevention  and  Control  has  promulgated,  but 

 Trung tâm CSSKSS Tỉnh BR‐VT   **Đại học Y Dược TP. HCM 

Tác giả liên lạc: CN. Nguyễn Tấn Thanh Tuyền   ĐT: 01289888111   Email: thanhtuyen48@gmail.com 

Trang 2

domestic violence is still challenging, particularly in psychological violence. Hence, local authorities need to create 

more job opportunities for women and education campaigns about gender equity. 

Key word: Domesticviolence, violence, violence against women. 

ĐẶT VẤNĐỀ 

Bạo  hành  gia  đình  đối  với  phụ  nữ  đã  được 

Chính phủ thừa nhận như là một vấn đề nghiêm 

trọng tại Việt Nam cũng như toàn thế giới. Việt 

Nam  đã  thể  hiện  cam  kết  mạnh  mẽ  nhằm  thúc 

đẩy  bình  đẳng  giới  và  chấm  dứt  bạo  hành  đối 

với  phụ  nữ  thông  qua  việc  phê  chuẩn  một  số 

hiệp  định  quốc  tế  cơ  bản  về  quyền  con  người, 

bao gồm cả những hiệp định về quyền dân sự và 

chính  trị  kinh  tế,  văn  hóa  và  xã  hội  phân  biệt 

chủng tộc, bình đẳng giới và quyền trẻ em(1).Tuy 

nhiên, các kiến thức và nhận thức về BHGĐ của 

người dân  và những người  có  trách  nhiệm  vẫn 

còn hạn chế. Một trong những yếu tố góp phần 

vào tình trạng này là do BHGĐ vẫn bị coi là một 

vấn đề riêng tư mà xã hội không nên can thiệp 

và  bạo  hành  được  chấp  nhận  như  một  hành  vi 

bình thường 

Bà Rịa ‐ Vũng Tàu là cửa ngõ phía Đông về 

cả  đường  thủy  và  đường  bộ  của  miền  Đông 

Nam Bộ, tiếp giáp tỉnh Đồng Nai ở phía Bắc, với 

TP  Hồ  Chí  Minh  ở  phía  Tây,  với  tỉnh  Bình 

Thuận  ở  phía  Đông,  còn  phía  Nam  giáp  Biển 

Đông, với diện tích 1.975,15 km2, có bờ biển dài 

305,4 km. Hiện nay tỉnh có 8 đơn vị hành chính 

gồm 01 thành phố, 01 thị  xã,  05  huyện trên đất 

liền và 01 huyện đảo. Dân số toàn tỉnh 1.050.000 

người, số phụ nữ tuổi 15‐ 49 tuổi 256.000 người 

trong đó có 171.200 người có chồng. 

Ngành  du  lịch  phát  triển  cùng  với  sự  phát 

triển của các khu công nghiệp, hàng năm thu hút 

hàng chục ngàn lao động tự do, lao động thời vụ 

đến  từ  nhiều  ngành  trong  cả  nước.  Năm  2012, 

các cơ quan chức năng trên địa bàn toàn tỉnh đã 

phối hợp tổ chức nhiều hoạt động tuyên truyền, 

giáo  dục  đạo  đức,  lối  sống  trong  gia  đình  về 

phòng,  chống  BHGĐ.  Nhiều  hoạt  động  tuyên 

truyền, giáo dục đạo đức, lối sống trong gia đình 

về  phòng,  chống  BHGĐ  đã  được  tổ  chức.  Tuy 

nhiên,  cho  đến  nay  trên  địa  bàn  toàn  tỉnh  vẫn 

chưa có nghiên cứu quy mô rộng nào được thực  hiện để xác định tỉ lệ phụ nữ trên địa bàn tỉnh đã 

và đang gánh chịu những hành vi bạo hành do  chính chồng hoặc bạn tình gây ra. Cũng như việc  xác định các yếu tố trực tiếp ảnh hưởng đến tỉ lệ  này  để  định  hướng  và  có  những  chính  sách  phòng chống hợp lý

Mục tiêu nghiên cứu 

Xác định tỉ lệ bị bạo hành gia đình. 

Xác định mối liên quan bạo hành với các đặc  tính của phụ nữ. 

ĐỐI TƯỢNG ‐ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 

Phương  pháp  nghiên  cứu:  Nghiên  cứu  cắt  ngang mô tả. 

Thời gian nghiên cứu: năm 2013  Đối  tượng:  Tất  cả  các  phụ  nữ  có  chồng  (bao  gồm những trường hợp ly thân, ly hôn, góa), đang  hoặc đã từng chung sống với bạn tình không hôn  thú, độ tuổi từ 18 đến 60 tuổi tại Bà Rịa. 

Cỡ  mẫu:  Theo  công  thức  ước  lượng  một  tỷ 

lệ. Dùng kỹ thuật chọn mẫu cụm và lấy 

p = 0,58 là trị số ước đoán tỉ lệ phụ nữ bị bạo  hành theo tổng báo cáo của Nghiên cứu quốc gia 

về BHGĐ đối với phụ nữ tại Việt Nam của Tổng  cục  thống  kê,  tỉ  lệ  phụ  nữ  từng  bị  ít  nhất  một  trong ba loại bạo hành thể xác, tình dục và tình  thần trong cuộc đời với k = 2, cỡ mẫu của nghiên  cứu là 750 

KẾT QUẢ  Đặc tính mẫu nghiên cứu (N=750) 

Bảng 1: Đặc tính mẫu nghiên cứu 

Đặc tính mẫu Tần số Tỉ lệ (%)

Nhóm tuổi

Trình độ học vấn

Trang 3

Đặc tính mẫu Tần số Tỉ lệ (%)

Nghề nghiệp

Có phụ thuộc kinh tế vào chồng 484 64,5

Có sinh hoạt trong Hội phụ nữ 146 19,5

Độ tuổi phụ nữ còn khá trẻ, trong đó độ tuổi 

từ  18‐29  tuổi  gần  42%.  Trình  độ  học  vấn  cấp  II 

chiếm đa số, tuy nhiên tỉ lệ phụ nữ có học vấn từ 

cấp 3 trở lên chiếm khá cao (46,3%). Có 23% lao 

động trí óc, tỉ lệ phụ nữ nội trợ, thất nghiệp và 

về hưu chiếm khá cao đến 42%. 65% phụ nữ vẫn 

còn  lệ  thuộc  vào  kinh  tế  của  chồng.  Phụ  nữ  có 

tham  gia  sinh  hoạt  trong  Hội  phụ  nữ  khá  thấp  chỉ khoảng 20% (Bảng 1). 

Tỉ lệ bạo hành gia đình  

Phụ nữ bị bạo hành gia đình là 381 (49,2%),  trong đó, bạo hành tinh thần là 364 (48,5%), bạo  hành thể xác là 111 (14,8%) và bạo hành tình dục 

là 15 (2%). 

Bạo hành thể xác (n= 111) chiếm đa số là tát  hoặc ném vật gì đó với 92,5% kế đến là đẩy, xô  thứ  gì  vào  người,  kéo  tóc  (30,2%),  đánh,  đấm  hoặc  đánh  bằng  vật  (32,1%); gây thương tích  là  22,6%.  Bạo  hành  tinh  thần  (n=  364)  đa  số  là  bị  quát mắng, đập phá đồ đạc với 86,6%, kế đến là 

sỉ  nhục,  lăng  mạ  (18,8%)  và  coi  thường,  làm  bẽ  mặt (10,4%), gây tổn thương tâm lý là 17,3%. 

Bảng 2: Mối liên quan giữa BHGĐ 12 tháng qua với đặc điểm dân số xã hội (n = 750) 

Tình trạng hôn

nhân

Phụ thuộc kinh tế

chồng

Phụ  nữ  có  học  vấn  trên  cấp  3  bị  BHGĐ  chỉ 

bằng  0,57  lần  phụ  nữ  có  học  vấn  là  mù  chữ  và 

cấp 1 (p= 0,009). Phụ nữ lao động trí óc bị BHGĐ 

chỉ bằng 0,56 lần phụ nữ lao động chân tay (p= 

0,001). Phụ nữ sống cùng bạn tình bị BHGĐ gấp 

1,74 lần phụ nữ sống cùng chồng (p=0,043). Phụ 

nữ nghèo bị BHGĐ gấp 1,77 lần phụ nữ không  nghèo  (p=  0,001).  Phụ  nữ  phụ  thuộc  kinh  tế  chồng bị BHGĐ gấp 1,35 lần phụ nữ không phụ  thuộc kinh tế (p= 0,016). 

Bảng 3: Mối liên quan giữa BHGĐ với đặc điểm dân số xã hội của chồng (n =750) 

Trang 4

Có hành động bạo hành

với người khác

Chồng  hút  thuốc  lá  có  BHGĐ  cao  hơn  1,41 

lần  chồng  không  hút  thuốc  lá  (p=0,004).  Chông 

nghiện  hút,  cờ  bạc  có  BHGĐ  cao  hơn  2,73  lần 

chồng  không  nghiện  hút,  cờ  bạc  (p<0,001). 

Chồng  có  hành  động  bạo  hành  với  người  khác 

có  BHGĐ  cao hơn 4,69  lần  chồng không  không 

bạo hành với người khác (p<0,001). 

BÀN LUẬN 

Tỉ lệ bạo hành gia đình 

Kết  quả  này  phù  hợp  với  Nghiên  cứu  đa 

quốc gia của WHO được bắt đầu từ năm 1997 về 

bạo  hành  đối  với  phụ  nữ,  hậu  quả  và  nguyên 

nhân sâu xa của bạo hành đối với phụ nữ ở các 

quốc gia khác biệt về văn hóa và địa lý. Nghiên 

cứu được triển khai chính thức từ năm 2000 đến 

2005 ở 11 quốc gia.Tỉ lệ phụ nữ từng bị bạo hành 

thể  xác  hay  tình  dục  do  chồng  trong  cuộc  đời 

chiếm  từ  15  đến  71%  ở  các  quốc  gia  tham  gia 

nghiên  cứu  của  WHO(1).  Tại  Việt  Nam,  tỉ  lệ  bị 

bạo hành thể xác do người chồng gây ra cho phụ 

nữ  Việt  Nam  từng  kết  hôn  là  32%  bị  bạo  hành 

thể  xác  trong  cuộc  đời.  Đối  với  bạo  hành  tình 

dục: trong số những phụ nữ từng kết hôn, tỉ lệ 

bạo hành trong cuộc đời 10%. Đối với bạo hành 

tinh thần trong cuộc đời là 54%. Có đến 58% phụ 

nữ  từng  kết  hôn  cho  biết  rằng  họ  đã  từng  bị  ít 

nhất  1  trong  3  loại  bạo  hành  trong  cuộc  đời  và 

27% cho biết họ từng bị cả ba loại bạo hành trên 

trong vòng 12 tháng trước điều tra(5).  

Tỉ lệ bạo hành tình dục thấp (2%).Theo nhận 

định của Bà Henrica A.F.M. Jansen “Mặc dù bạo 

hành  gia  đình  là  một  hiện  tượng  rất  phổ  biến 

nhưng vấn đề này vẫn bị giấu diếm nhiều”.Ðiều 

đáng quan tâm nữa là phụ nữ‐nạn nhân của bạo 

hành gia đình có tâm lý cam chịu, không muốn 

tố  cáo,  sợ  “vạch  áo  cho  người  xem  lưng”.Điều  này có thể làm cho số liệu thống kê không đúng  với  tình  hình  thực  tế,  ảnh  hưởng  đến  tầm  nhìn  khách quan và đánh giá tầm quan trọng của việc  phòng chống bạo hành gia đình trong xã hội( 5 ). 

Bạo hành về tinh thần (chửi bới, lăng mạ, xỉ  nhục)  không  để  lại  vết  thương  trên  cơ  thể  như  bạo hành thể xác, nhưng lại làm cho người phụ 

nữ tê liệt về tinh thần, bị trầm cảm kéo dài, tổn  hại  nghiêm  trọng  đến  thần  kinh  và  thể  xác.  Không ít phụ nữ sau đó đã phải điều trị lâu dài  tại  các  bệnh  viện  tâm  thần,  tốn  kém  thời  gian,  tiền bạc mà khả năng hoàn toàn bình phục là rất  khó,  khả  năng  tái  phát  bệnh  là  rất  cao.Theo  WHO, phụ nữ đã trải qua bạo hành gia đình có  nguy  cơ  gia  tăng  bệnh  trầm  cảm  và  hành  vi  tự 

tử,  tổn  thương  về  thể  chất,  rối  loạn  tâm  thần,  mang  thai  ngoài  ý  muốn,  HIV  và  các  bệnh  lây  truyền qua đường tình dục(4,6).  

Nguyên  nhân  được  cho  là  do  tư  tưởng  gia  trưởng, trọng nam khinh nữ và tính cam chịu, an  phận  của  chị  em  phụ  nữ.  Chính  quyền  địa  phương nên đưa việc hoà giải tại cộng đồng hay 

xử  phạt  hành  chính  thỏa  đáng,  để  răn  đe  và  nâng  cao  nhận thức  cho người  dân. Phát  thanh  tuyên  truyền  về  nội  dung  phòng,  chống  bạo  hành  gia  đình  và  thực  hiện  bình  đẳng  giới  là  điều cần thiết để ngăn chặn BHGĐ trong xã hội 

Các yếu tố liên quan đến bạo hành 

Bạo hành gia đình là một hiện tượng xã hội, 

nó chịu sự tác động của nhiều yếu tố kinh tế, văn  hóa,  xã  hội  khác  nhau…  Điều  dễ  nhận  thấy  là 

Trang 5

bạo hành  trong  gia  đình  có  xu hướng  phổ  biến 

hơn  ở  cộng  đồng  có  mức  sống  và  dân  trí 

thấp(2).Thật vậy, trong nghiên cứu của chúng tôi, 

có mối liên quan giữa bạo hành phụ nữ với trình 

độ học vấn của phụ nữ. Cụ thể là, những phụ nữ 

có  trình  độ  học  vấn  từ  cấp  3  trở  lên  có  tỉ  lệ 

BHGĐ  12  tháng  qua  chỉ  bằng  0,57  lần  (KTC: 

0,36‐0,87)  so  với  nhóm  phụ  nữ  có  trình  độ  học 

vấn từ cấp 1 trở xuống. 

Kết quả nghiên cứu cho thấy có mối liên quan 

giữa  phụ  nữ  bị  bạo  hành  gia  đình  với  nghề 

nghiệp  của  họ.  Phụ  nữ  lao  động  trí  óc  có  tỉ  lệ 

BHGĐ 12 tháng qua chỉ bằng 0,56 lần (KTC: 0,4‐

0,78)  so  với  nhóm  phụ  nữ  lao  động  chân  tay. 

Theo  một  số  đề  tài  khác  cũng  tiến  hành  nghiên 

cứu  nhiều  nhân  tố  có  liên  quan  đến  BHGĐ,  và 

nhận  thấy  các  hành  vi  bạo  hành  thường  xảy  ra 

trong gia đình không có mối tương quan đối với 

tôn giáo, nhưng lại có mối liên quan với từng loại 

nghề nghiệp khác nhau và trình độ học vấn(3). 

Phụ nữ nghèo và phụ thuộc kinh tế chồng có 

khả  năng  bị  bạo  lực  gia  đình  cao  hơn  với 

p<0,001. Chính sức mạnh kinh tế làm yếu tố nền 

tảng  của  đời  sống  xã  hội,  có  một  sự  thật  rằng 

người chi phối nhiều hơn trong lĩnh vực kinh tế 

thì  làm  chủ,  và  do  vậy  để  duy  trì  chế  độ  nam 

quyền,  phụ  quyền  thì  bất  bình  đẳng  cũng  bắt 

đầu xuất hiện giữa nam và nữ trong gia đình và 

ngoài  xã  hội.  Nhưng  cũng  không  thể  coi  đói 

nghèo là yếu tố lớn nhất đẻ ra nạn bạo hành gia 

đình,  bởi  lẽ  có  rất  nhiều  cặp  vợ  chồng  quanh 

năm  nghèo  đói  nhưng  vẫn  sống  với  nhau  hòa 

thuận và đầm ấm. 

Các nghiên cứu đã chỉ ra mối liên hệ giữa các 

tệ  nạn  xã  hội  và  bạo  hành  giới  trong  gia  đình. 

Những  mặt  trái  của  quan  hệ  thị  trường  đã  tác 

động xấu đến quan hệ giới trong gia đình, như 

đề cao một cách thái quá những giá trị vật chất 

mà coi nhẹ giá trị tình cảm, đạo đức. Những mối 

quan hệ tình cảm ngoài hôn nhân cũng là lý do 

của  bạo  hành  gia  đình,  với  nam  giới  thì  còn  có 

những  tác  động  của  các  tệ  nạn  xã  hội  (cờ  bạc, 

nghiện  hút,  rượu…).  Thật  vậy,  kết  quả  nghiên 

cứu của chúng tôi đã cung cấp thêm bằng chứng 

để  làm  sáng  tỏ  hơn  những  nhận  định  trên.  Chúng  tôi  đã  tìm  thấy  có  mối  liên  quan  có  ý  nghĩa thống kê giữa tỉ lệ BHGĐ 12 tháng qua với  việc  hút  thuốc  lá  (p=0,004),  uống  rượu,  bia  (p=0,008) và nghiện hút/cờ bạc (p<0,001), có hành  động  bạo  hành  với  người  khác  (p<0,001)  của  người chồng. 

KẾT LUẬN  

 Phụ  nữ  bị  bạo  hành  gia  đình  còn  cao  (49,2%), đặc biệt là bạo hành tinh thần 48,5% và  bạo hành thể xác 14,8%. 

Tình  trạng  bạo  hành  gia  đình  có  mối  liên  quan  với  trình  độ  học  vấn  thấp,  nhóm  nghề  nghiệp lao động chân tay, thất nghiệp, tình trạng  gia đình không hôn nhân; Gia đình nghèo, phụ  thuộc  kinh  tế  vào  chồng,  ở  nhà  thuê/mướn;  chồng  là  những  người  nghiện  thuốc  lá,  rượu,  bia, hút sách, cờ bạc; chồng có tính hay gây hấn 

và thích bạo hành. 

KHUYẾN NGHỊ 

Tạo công ăn việc làm để phụ nữ có tiếng nói  hơn về mặt kinh tế xã hội

Tăng cường giáo dục để mọi người hiểu biết, ý  thức, và có thái độ đúng về vấn đề bình đẳng giới;  Hội phụ nữ cần quan tâm hơn đối với những  gia đình có chồng nghiện rượu, bia, hút sách, cờ  bạc, hoặc có tính hay gây hấn và thích bạo hành  cùng  với  những  gia  đình  có  hoàn  cảnh  kinh  tế  khó khăn. 

TÀI LIỆU THAM KHẢO 

1 Garcia‐Moreno  C,  Jansen  HA, Ellsberg  M, Heise  L, Watts  CH; WHO  Multi‐country  Study  on  Womenʹs  Health  and  Domestic Violence against Women Study Team (2005) WHO  Multi‐country  Study  on  Women’s  Health  and  Domestic 

Violence against Women. World Health Origanization. Geneva. 

Pp. 77‐98. 

2 Hoàng Bá Thịnh (2003) ʺBạo hành trong gia đình ‐ Thực trạng 

và giải phápʺ. Tạp chí lý luận chính trị. 3. 65‐69. 

3 Nguyễn Thị Hoàng Mai (2008) ʺThực trạng và giải pháp giảm  bạo  hành  gia  đình  đối  với  phụ  nữ  tại  thành  phố Đà Nẵngʺ.  Tuyển tập Báo cáo Hội nghị Sinh viên Nghiên cứu Khoa học  lần thứ 6, Đại học Đà Nẵng.Tr. 56‐78. 

Trang 6

4 Quỹ  Dân  số  Liên  Hợp  Quốc  (2007)  Phòng,  chống  bạo  hành 

gia đình: Hiện trạng, nhu cầu và các ưu tiên can thiệp ở Phú 

Thọ và Bến Tre, Việt Nam.Tr. 78‐90. 

5 Tổng cục Thống kê Việt Nam (2010) Báo cáo tóm tắt Kết quả 

từ nghiên cứu quốc gia về Bạo hành gia đình với phụ nữ Việt 

Nam. Tr. 13‐56. 

6 Vung  ND,  Ostergren  PO,  Krantz  G  (2008)  Intimate  partner 

violence  against  women  in  rural  Vietnam‐‐different  socio‐

demographic  factors  are  associated  with  different  forms  of 

violence:  need  for  new  intervention  guidelines?.  BMC Public 

Health, 19 (2), 178‐182. 

 

Ngày phản biện nhận xét bài báo:   17/6/2014  Ngày bài báo được đăng:     14/11/2014 

 

 

 

 

Ngày đăng: 20/01/2020, 01:23

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w