1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Sự thay đổi khí máu động mạch sau mổ và các yếu tố nguy cơ của giảm oxy máu động mạch ở bệnh nhân được phẫu thuật bụng

9 65 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 198,97 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết nghiên cứu đánh giá sự thay đổi khí máu động mạch trong những ngày đầu sau mổ ở bệnh nhân được phẫu thuật bụng và xác định các yếu tố nguy cơ của giảm oxy máu động mạch sau mổ ở bệnh nhân được phẫu thuật bụng.

Trang 1

Địa chỉ liên hệ: Phạm Quang Minh, Bộ môn Gây mê hồi

sức, Trương Đại học Y Hà Nội.

Email: quangminhvietduc@yahoo.com

Ngày nhận: 20/8/2015

Ngày được chấp thuận: 25/12/2015

SỰ THAY ĐỔI KHÍ MÁU ĐỘNG MẠCH SAU MỔ

VÀ CÁC YẾU TỐ NGUY CƠ CỦA GIẢM OXY MÁU ĐỘNG MẠCH

Ở BỆNH NHÂN ĐƯỢC PHẪU THUẬT BỤNG

Phạm Quang Minh, Nguyễn Hữu Tú

Trường đại học Y Hà Nội Nghiên cứu mô tả trên 215 bệnh nhân được phẫu thuật bụng tại bệnh viện Đại học Y Hà Nội nhằm mục tiêu xác định tỷ lệ bệnh nhân có giảm oxy máu giai đoạn sớm sau mổ, giá trị tiên lượng biến chứng hô hấp sau mổ của giảm oxy máu và các yếu tố nguy cơ của giảm oxy máu Kết quả cho thấy, ngày thứ nhất và ngày thứ hai sau phẫu thuật các chỉ số oxy hóa máu như PaO 2 và PaO 2 /FiO 2 đều giảm có ý nghĩa thống kê

so với trước mổ (p < 0,05) 14 bệnh nhân (6,5%) bị giảm oxy máu động mạch ngày thứ nhất sau mổ, 30 bệnh nhân (13,9%) có giảm oxy máu động mạch ngày thứ hai sau mổ Giảm oxy máu động mạch sau mổ ngày thứ hai là yếu tố tiên lượng biến chứng hô hấp sau mổ với độ nhậy, độ đặc hiệu, giá trị dương tính và giá trị âm tính lần lượt là: 94,12%, 92,93%, 53,33% và 99,46% Giảm oxy máu giai đoạn sớm sau mổ có giá trị tốt trong việc tiên lượng biến chứng hô hấp sau phẫu thuật bụng (diện tích dưới đường cong ROC là 0,899) 3 yếu tố nguy cơ độc lập của giảm oxy động mạch sau phẫu thuật ngày thứ nhất là: tỷ số tiffeneau

≤ 75%, AaO 2 ≥ 20 và thời gian gây mê ≥ 150 phút 4 yếu tố nguy cơ độc lập của thiếu oxy sau phẫu thuật ngày thứ hai là: tỷ số tiffeneau ≤ 75%, AaO 2 ≥ 20, Bilan dịch ≥ 1700 ml và có tình trạng viêm nhiễm đường

hô hấp trên trước mổ.

Từ khóa: biến chứng hô hấp, hypoxemia

I ĐẶT VẤN ĐỀ

Biến chứng hô hấp là nguyên nhân hàng

đầu dẫn đến tử vong và tàn tật sau phẫu thuật

nói chung và phẫu thuật ổ bụng nói riêng Tỷ

lệ biến chứng hô hấp sau mổ thay đổi giao

động từ 2 - 40% tùy thuộc vào từng nghiên

cứu, từng tiêu chuẩn chẩn đoán [1] Thời gian

nằm viện lâu hơn, tỷ lệ tử vong và tàn tật tăng

lên kéo theo chi phí liên quan đến biến chứng

hô hấp sau phẫu thuật bụng là rất lớn thậm

chí còn lớn hơn so với biến chứng tim mạch

[2] Các biến chứng hô hấp dù ở dạng nào

đều gây ra giảm oxy máu động mạch Một

trong những khó khăn nhất khi nghiên cứu về

biến chứng hô hấp sau mổ là tiêu chuẩn chẩn đoán, hầu như chưa có tác giả nào đưa ra được tiêu chuẩn chính xác và được các nhà chuyên môn chấp thuận Để trả lời câu hỏi bệnh nhân có biến chứng hô hấp không, biến chứng loại gì và mức độ nặng ra sao là một vấn đề còn tranh cãi Tuy nhiên nhờ xét nghiệm khí máu động mạch các bác sỹ có thể xác định chắc chắn bệnh nhân có giảm oxy máu động mạch dựa vào phân số trao đổi khí PaO2/FiO2[3]

Chức năng hô hấp sau mổ bị ảnh hưởng bởi rất nhiều yếu tố, điều này đồng nghĩa với việc giảm oxy máu sau mổ so với trước mổ là không thể tránh khỏi Vấn đề là mức độ giảm

ra sao, bệnh nhân có yếu tố gì thì mức độ giảm sâu hơn Vì vậy, giảm oxy máu sau phẫu thuật ổ bụng đã được nhiều tác giả tập trung nghiên cứu để xác định các yếu tố nguy cơ độc lập của giảm oxy máu sau mổ, trên cơ sở

Trang 2

đó đưa ra các biện pháp dự phòng nhưng các

kết quả còn rất khác nhau [4; 5]

Trên Thế giới đã có một số nghiên cứu

khẳng định giá trị tiên lượng của giảm oxy

máu động mạch trước mổ với việc xuất hiện

biến chứng hô hấp sau mổ [6], nhưng không

có nghiên cứu nào nói về giá trị của giảm oxy

máu giai đoạn sớm sau mổ - khi bệnh nhân

chưa có suy hô hấp thực sự hay chưa có biến

chứng hô hấp trong việc tiên lượng xuất hiện

biến chứng hô hấp giai đoạn sau

Tại Việt Nam, chưa có tác giả nào nghiên

cứu về rối loạn khí máu hay biến chứng hô

hấp sau phẫu thuật ổ bụng vì vậy chúng tôi

tiến hành nghiên cứu đề tài với các mục tiêu:

1 Đánh giá sự thay đổi khí máu động

mạch trong những ngày đầu sau mổ ở bệnh

nhân được phẫu thuật bụng

2 Xác định các yếu tố nguy cơ của giảm

oxy máu động mạch sau mổ ở bệnh nhân

được phẫu thuật bụng

II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

1 Đối tượng

215 bệnh nhân được phẫu thuật bụng tại

khoa Gây mê hồi sức và Chống đau, bệnh

viện Đại học Y Hà Nội từ tháng 3/2011 đến

tháng 4/2013

Tiêu chuẩn lựa chọn

Bệnh nhân mổ phiên dưới gây mê nội khí

quản, tuổi > 18, phẫu thuật vùng bụng mổ mở

Tiêu chuẩn loại trừ

Bệnh nhân từ chối, có chống chỉ định với

các thuốc mê và tê ngoài màng cứng, có bệnh

tim mạch mạn tính nặng, phải mổ lại trong

48h, phải thở máy quá 24h sau mổ, không lấy

đủ số liệu

2 Phương pháp: mô tả tiến cứu.

Cỡ mẫu

Được tính theo công thức cho kiểm định một tỷ lệ

Trong đó:

p: tỷ lệ biến chứng hô hấp sau phẫu thuật

ổ bụng (p = 10%);

: sai số tuyệt đối, chọn = 0,041; α: mức ý nghĩa thống kê (α = 0,05);

Z2 (1-α/2): được tra từ bảng Z (Z2= 1,962); Sau khi thay số tính được:

n = 1,962

.0,1.0,9/0,0412= 205;

Trong nghiên cứu này, chọn 215 bệnh nhân

Quy trình lấy số liệu

- Thực hiện khám gây mê 1 ngày trước mổ

- Bệnh nhân được tiến hành đo thông khí phổi bằng máy phế dung kế (Spirometer HI

-801, sản xuất tại Nhật năm 2004)

- Ngày hôm sau khi vào phòng mổ bệnh nhân được làm một đường truyền tĩnh mạch ngoại vi Tiền mê bằng hypnovel 0,04mg/kg

- Lấy máu động mạch để thử khí máu lần thứ nhất (T0) Tất cả các bệnh nhân đều được đặt cathete ngoài màng cứng để giảm đau sau mổ

- Khởi mê: fentanyl 2mcg/kg, propofol 1 - 2 mg/kg, esmeron 0,6 - 1 mg/kg, duy trì mê bằng servofluran

- Sau mổ bệnh nhân được theo dõi ở phòng hồi tỉnh, rút ống nội khí quản và chuyển

về khoa khi có đủ điều kiện

- Sau mổ bệnh nhân được theo dõi các dấu hiệu như: ho, khó thở, nhiệt độ, nghe phổi, điểm đau VAS, chụp Xquang, xét nghiệm công thức máu, cấy đờm khi nghi ngờ

có biến chứng hô hấp

p (1 - p)

∆2

n = Z2(1 - α/2)

Trang 3

- Thử lại khí máu động mạch sau 24h (T1),

48h (T2)

- Tiêu chuẩn chẩn đoán giảm oxy máu động mạch là PaO2/FiO2< 300

Phân loại mức độ giảm oxy máu (theo Muray, 2011) [7]

PaO2/FiO2

- Tiêu chuẩn chẩn đoán biến chứng hô hấp

sau mổ, chẩn đoán dương tính khi có ít nhất 4

trong số các triệu chứng sau xuất hiện (theo

Scholes, 2009) [8]:

+ X quang ngực có hình ảnh xẹp hoặc

đông đặc;

+ Sốt trên 38° tối thiểu 1 ngày liên tục sau

mổ;

+ SpO2< 90% tối thiểu 1 ngày liên tục sau

mổ;

+ Khạc đờm vàng hay xanh, khác so với

trước mổ;

+ Cấy đờm thấy có vi khuẩn;

+ Không giải thích được BC > 11G/l hoặc

phải kê thuốc kháng sinh đặc hiệu do nhiễm

khuẩn hô hấp;

+ Nghe phổi có tiếng bất thường, khác so

với trước mổ;

+ Chẩn đoán có biến chứng hô hấp sau

mổ bởi bác sỹ chuyên khoa

3 Xử lý số liệu

Số liệu được xử lý bằng phần mềm SPSS

18.0 Dùng T-test để so sánh trung bình của 2

biến định lượng, giá trị p < 0,05 được xem là

có ý nghĩa thống kê Qua phân tích đơn biến chọn các yếu tố nguy cơ có ý nghĩa thống kê

và đưa vào phương trình hồi quy logic, tìm OR hiệu chỉnh

4 Đạo đức nghiên cứu

Đây là một nghiên cứu mô tả, không áp dụng thêm can thiệp nào trên bệnh nhân Người bệnh được phát, giải thích, ký tên vào phiếu tự nguyện tham nghiên cứu và được quyền rút khỏi nghiên cứu bất cứ lúc nào Vì vậy, nghiên cứu này không vi phạm đạo đức nghiên cứu

III KẾT QUẢ

Có 215 bệnh nhân bao gồm 108 nam (50,2%) và 107 nữ (49,8%) Tuổi trung bình là 56,36 ± 12,02 (tuổi cao nhất 85, tuổi thấp nhất 24) Trong đó 138 (64,2%) bệnh nhân trên 60 tuổi, 77 (35,8%) bệnh nhân dưới 60 tuổi 7 (3,3%) bệnh nhân có tình trạng viêm nhiễm đường hô hấp trên Tỷ số tiffeneau trung bình

là 81,49 ± 9,23 (%), 44 (20,47%) bệnh nhân

có rối loạn thông khí tắc nghẽn, chủ yếu tắc nghẽn giai đoạn I (43/44 bệnh nhân)

Trang 4

Bảng 1 Điểm về phẫu thuật và một số chỉ số liên quan đến phẫu thuật

Thời gian gây mê (phút) 190,02 ± 84,35 (max 720 - min 60)

Số bệnh nhân được phẫu thuật trên rốn chiếm chủ yếu (73,95%)

Bảng 2 Sự thay đổi các chỉ số khí máu sau mổ so với trước mổ

Chỉ số Trước mổ (T 0 ) Sau mổ 24H (T 1 ) Sau mổ 48H (T 2 )

PaO2/FiO2 420,82 ± 56,41 392,05 ± 72,47* 363,31 ± 60,73*

PaO2và PaO2/FiO2sau mổ giảm có ý nghĩa thống kê so với trước mổ Ngày thứ nhất sau mổ

có 13 (6,04%) bệnh nhân bị giảm oxy máu động mạch Ngày thứ hai sau mổ số bệnh nhân có giảm oxy máu tăng lên 30 (13,95%)

Đặc điểm và diễn biến của nhóm bệnh nhân giảm oxy sau mổ 2 ngày

- 16/30 bệnh nhân có giảm oxy máu sau 2 ngày bị biến chứng hô hấp: 12 viêm phế quản phổi,

4 xẹp phổi

- 1 bệnh nhân không có giảm oxy máu bị biến chứng hô hấp (tắc mạch phổi) ở ngày thứ 3

- Biến chứng hô hấp được chẩn đoán khi có đủ 4/8 tiêu chuẩn (Scholes, 2009)

Giá trị tiên lượng biến chứng hô hấp sau mổ của giảm oxy máu động mạch

Bảng 3 Giảm oxy máu và biến chứng hô hấp sau mổ

Biến chứng hô hấp Không biến chứng hô hấp Tổng

Độ nhậy (Se) = 94,12%; giá trị dự đoán dương tính = 53,33%

Độ đặc hiệu (Sp) = 92,93%; giá trị dự đoán âm tính = 99,46%

Trang 5

Biều đồ 1 Đường cong ROC (giữa biến chứng hô hấp và giảm oxy máu động mạch)

Diện tích dưới đường cong ROC là 0,899 Như vậy, giảm oxy máu động mạch giai đoạn sớm

có giá trị tốt trong việc tiên lượng biến chứng hô hấp sau phẫu thuật ổ bụng

Ngưỡng PaO2/FiO2= 300 cho phép tiên lượng bệnh nhân xuất hiện biến chứng hô hấp sau

mổ tốt

Phân tích đa biến các yếu tố nguy cơ của giảm oxy sau mổ

Bảng 4 Yếu tố nguy cơ độc lập của giảm oxy sau 1 ngày

≤ 300 > 300

AaO2

0,022 (1,23 - 13,21)4,01

Tỷ số Tiffeneau ≤ 75% là yếu tố nguy cơ độc lập mạnh nhất của giảm oxy máu sau phẫu thuật ngày thứ nhất với OR = 5,13

Trang 6

Bảng 5 Yếu tố nguy cơ độc lập của giảm oxy máu sau 2 ngày

≤ 300 > 300

(1,01 - 6,95)

Viêm nhiễm đường

hô hấp trên

(5,27 - 453,42)

AaO2

(1,37 - 8,03)

(1,17 - 8,97)

Viêm nhiễm đường hô hấp trên trước mổ là yếu tố nguy cơ độc lập mạnh nhất của giảm oxy máu sau mổ ngày thứ 2 với OR = 48,86

IV BÀN LUẬN

Trong nghiên cứu này, giá trị PaO2trung

bình sau mổ một ngày là 83,81 ± 17,10

(mmHg), sau mổ hai ngày tiếp tục giảm còn

77,59 ± 12,65 (mmHg), tất cả đều giảm có ý

nghĩa thống kê so với trước mổ 89,38 ± 13,50

(mmHg) Kết quả này phản ánh tình trạng hoạt

động bộ máy hô hấp sau phẫu thuật nói chung

và phẫu thuật ổ bụng nói riêng giảm khá sớm

ngay sau mổ, sự thay đổi này tiếp tục duy trì

và còn nặng nề hơn ở ngày thứ hai sau mổ

khi mà các thuốc sử dụng trong gây mê đã

được thải trừ hoàn toàn Cũng tương tự như

PaO2, phân số trao đổi khí sau mổ một ngày

là 392,05 ± 72,47 mmHg và sau mổ hai ngày

là 363,31 ± 60,73 mmHg đều giảm hơn có ý

nghĩa thống kê so với trước mổ 420,82 ±

56,41 mmHg

Trong nghiên cứu của chúng tôi, sau mổ 1

ngày có 14 bệnh nhân được chẩn đoán giảm

oxy máu động mạch, tất cả bệnh nhân này

đều tiếp tục giảm oxy máu động mạch sau 2

ngày Sang ngày thứ hai có thêm 16 bệnh nhân giảm oxy máu động mạch nâng tổng số bệnh nhân giảm oxy máu động mạch sau 2 ngày lên 30 bệnh nhân Tiếp tục theo dõi diễn biến của tất cả các bệnh nhân sau mổ chúng tôi nhận thấy có 17 bệnh nhân xuất hiện biến chứng hô hấp sau mổ 16/17 bệnh nhân này đều nằm trong nhóm 30 bệnh nhân được chẩn đoán là giảm oxy máu động mạch sau

mổ ngày thứ hai Phần lớn các bệnh nhân được chẩn đoán là có biến chứng hô hấp sau

mổ đều là viêm phế quản phổi hay xẹp phổi

Có 1 bệnh nhân không bị giảm oxy máu động mạch, xuất hiện biến chứng hô hấp ở ngày thứ 3, bệnh nhân này được chẩn đoán là tắc mạch phổi bằng chụp cắt lớp 64 dẫy

Ngoài tỷ lệ bệnh nhân được chẩn đoán là giảm oxy máu động mạch chuyển sang biến chứng hô hấp sau mổ khá cao 53,33%, giảm oxy máu động mạch sau mổ ngày thứ hai có thể xem là dấu hiệu khách quan, yếu tố tiên

Trang 7

lượng tốt bệnh nhân bị biến chứng hô hấp sau

mổ với diện tích dưới đường cong ROC là

0,899 Chúng tôi không tìm thấy tài liệu nào

nói về giá trị của giảm oxy máu ngay sau mổ

trong tiên lượng biến chứng hô hấp sau mổ

trên bệnh nhân phẫu thuật bụng Tuy nhiên,

giá trị của giảm oxy máu ngay khi bệnh nhân

đến phòng khám cấp cứu trong tiên lượng

xuất hiện suy hô hấp, tỷ lệ phải thông khí nhân

tạo và tỷ lệ tử vong sau 30 ngày là rất tốt,

thậm chí còn tốt hơn so với CRP (C - reactive

protein) [9]

Yếu tố đầu tiên được nhắc đến liên quan

đến giảm oxy máu sau phẫu thuật là tỷ số

Tiffeneau Theo Smetanan nếu bệnh nhân có

rối loạn thông khí trước mổ thì tình trạng rối

loạn trao đổi khí sau mổ cao hơn so với nhóm

không có rối loạn thông khí trước mổ Trong

nghiên cứu của chúng tôi, bệnh nhân có rối

loạn thông khí hạn chế trước mổ không phải

là yếu tố nguy cơ của rối loạn trao đổi sau mổ,

nhưng rối loạn thông khí tắc nghẽn trước mổ

lại là yếu tố nguy cơ với thiếu oxy sau mổ (OR

ngày thứ nhất: 4,43; OR ngày thứ hai: 2,67)

sự khác biệt có ý nghĩa thống kê Kết quả

nghiên cứu của chúng tôi phù hợp với một số

tác giả như Sutedja (1988) hay Zurauskas

(2004) Tuy nhiên, một số nghiên cứu khác

cho rằng, giá trị thực tế của đo chức năng hô

hấp sau mổ vẫn còn tranh luận, theo

Smetana thì ngay cả khi bệnh nhân có nguy

cơ rất cao khi đo chức năng hô hấp cũng có

thể phẫu thuật với một nguy cơ biến chứng

hô hấp có thể chấp nhận được, tác giả

khẳng định việc thăm khám lâm sàng có giá

trị hơn nhiều so với các kết quả đo chức

năng hô hấp

Đối với mức chênh áp oxy phế nang động

mạch phổi (AaO2), mặc dù khó có thể xác định

được chính xác mức độ xẹp phổi sau mổ

nhưng có thể sử dụng AaO2để đánh giá gián

tiếp mức độ shunt ở phổi AaO2tăng lên khi bệnh nhân có tăng shunt phổi hay có rối loạn thông khí tưới máu một khi các yếu tố nhiễu liên quan đến tăng AaO2như tuổi hay FiO2đã được loại trừ Theo kết quả nghiên cứu của chúng tôi thì AaO2sau mổ tăng lên có ý nghĩa

so với trước mổ AaO2càng tăng tức là mức

độ shunt phổi càng lớn, nói cách khác mức độ xẹp phổi càng nhiều hay nguy cơ giảm oxy máu càng cao, điều này giống với kết quả của các tác giả khác như Taggart hay Hachenberg Kết quả bảng 4 và 5 còn khẳng định thêm, AaO2trước mổ ≥ 15 là yếu tố nguy

cơ của giảm oxy máu động mạch sau mổ cả sau 1 ngày và sau 2 ngày với OR lần lượt là 4,01 và 3,32

Khi xem xét tình trạng viêm nhiễm đường

hô hấp trên trước mổ Kết quả nghiên cứu này

ở bảng 5 cho thấy tình trạng viêm nhiễm đường hô hấp trên là nguyên nhân gây giảm oxy máu động mạch sau mổ ngày thứ hai Trong số 7 bệnh nhân có tình trạng viêm nhiễm đường hô hấp trên trước mổ thì 6 bệnh nhân có tình trạng giảm oxy máu động mạch sau mổ ngày thứ hai và cả 6 bệnh nhân này đều bị biến chứng hô hấp dạng viêm phế quản phổi ở ngày thứ 3 và thứ 4 sau mổ Có thể nói các bệnh lý hô hấp trước mổ là một thông số rất tốt để tiên lượng biến chứng hô hấp sau phẫu thuật của bệnh nhân Việc thăm khám lâm sàng là rất quan trọng để quyết định các xét nghiệm cận lâm sàng, trên cơ sở đó lượng giá nguy cơ xuất hiện rối loạn hô hấp sau phẫu thuật

Thời gian gây mê ảnh hưởng đến giảm oxy máu sau phẫu thuật thế nào? Bốn nghiên cứu

đa trung tâm kết luận thời gian gây mê kéo dài trên 3 giờ làm tăng nguy cơ thiếu oxy sau mổ gấp 2,14 lần so với nhóm có thời gian gây mê ngắn Thời gian gây mê kéo dài đồng nghĩa với việc bệnh nhân phải thở máy lâu, điều này

Trang 8

tác động trực tiếp đến lớp biểu mô phế nang

ảnh hưởng đến chức năng bảo vệ và trao đổi

khí của màng phế nang mao mạch Kết quả

nghiên cứu này cho thấy thời gian gây mê trên

2 giờ 30 phút là yếu tố nguy cơ của thiếu oxy

sau mổ ngày thứ nhất với OR là 4,35

Bilan dịch trong mổ, lựa chọn dịch truyền

như thế nào cũng là những vấn đề nên được

quan tâm Bởi lẽ, liệu pháp truyền dịch là một

phần rất quan trọng trong chăm sóc bệnh

nhân trước trong và sau mổ Tất cả các loại

phẫu thuật từ phẫu thuật ngắn, ít xâm nhập

đến phẫu thuật rất nặng đều cần được truyền

dịch ít nhất là trước mổ và trong mổ Nhiều

nghiên cứu được thiết kế tốt trong những năm

gần đây chỉ ra rằng nhu cầu truyền dịch thực

sự của bệnh nhân rất khác nhau tùy thuộc vào

từng cá thể và đặc biệt thay đổi trên từng loại

phẫu thuật Khi phân tích đa biến chúng tôi

thấy khi bilan dịch ≥ 1700 ml là yếu tố nguy cơ

của giảm oxy máu sau phẫu thuật ngày thứ

hai với OR = 3,23 Vì vậy, việc kiểm soát và

hạn chế truyền dịch quá nhiều trong mổ là rất

cần thiết

V KẾT LUẬN

Giảm oxy máu động mạch sau phẫu thuật

bụng khá thuờng gặp Đây là yếu tố tiên

lượng rất tốt của biến chứng hô hấp sau mổ,

diện tích dưới đường cong ROC là 0,899 Các

yếu tố nguy cơ độc lập của giảm oxy máu là

thời gian gây mê kéo dài trên 150 phút, viêm

nhiễm đường hô hấp trên trước mổ, rối loạn

thông khí tắc nghẽn trước mổ, AaO2> 20 và

truyền nhiều dịch trong mổ

Lời cảm ơn

Nhóm nghiên cứu xin trân trọng cám ơn tới

Bệnh viện Đại học Y Hà Nội, các khoa, phòng,

ban, các thầy cô giáo và các bạn bè đồng

nghiệp đã giúp đỡ chúng tôi thực hiện nghiên

cứu này Chúng tôi cũng xin được bày tỏ lòng

biết ơn đến các bệnh nhân, người nhà bệnh nhân đã giúp đỡ, tạo điều kiện để nghiên cứu được thực hiện và hoàn thành

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 J Canet, V.M (2010) Postoperative

pul-monary complication Minerva Anestesiol, 76,

138 - 143

2 Smetana G.W (2009) Postoperative

pulmonary complications: an update on risk

assessment and reduction Cleve Clin J Med,

76(4), S60 - 65.

3 Ware L.B (2005) Acute lung injury and

acute respiratory distress syndrome, In:

Text-book of Critical Care Edited by Fink MP, Abraham E, Elsevier Saunders.

4 Squadrone, V (2005) Continuous

posi-tive airway pressure for treatment of postop-erative hypoxemia: a randomized controlled

trial JAMA, 293(5), 589 - 595.

5 Lê Lan Phương (2007) Những thay đổi

các chỉ số thông khí ngoài và khí máu động

mạch ở giai đoạn sớm sau phẫu thuật tim mở.

Luận văn tiến sỹ y học

6 Liu, J.M (2012) Roles of preoperative

arterial blood gas tests in the surgical treat-ment of scoliosis with moderate or severe

pul-monary dysfunction Chin Med J (Engl), 125

(2), 249 - 252.

7 Jean-Luuis Vincent, E.A., Frederick A Moore (2011) Acute lung injury and acute

respiratory distress syndrome, in: Textbook of

Critical Care Elsevier Saunders, 388 - 397.

8 Scholes R.L (2009) Duration of

anaes-thesia, type of surgery, respiratory co-morbidity, predicted VO2max and smoking predict postoperative pulmonary complications after upper abdominal surgery: an

observa-tional study Aust J Physiother, 55(3), 191 - 198.

Trang 9

9 Herrero F.S (2013) Higher prognostic

value of hypoxemia than C-reactive protein in

bacteremic pneumococcal pneumonia ATS Journals.

Summary THE CHANGES OF ARTERIAL BLOOD GASES

AFTER SURGERY AND THE RISK FACTORS OF POSTOPERATIVE HYPOXEMIA IN PATIENTS WITH ABDOMINAL SURGERY

The objective of this study was to evaluate the changes of arterial blood gases on the first days and to determine the risk factors of arterial hypoxemia after abdominal operation Research-ing prospective description on 215 patients undergoResearch-ing abdominal surgery in Hanoi Medical University Hospital The result showed that on the first two days after operation, the PaO2and PaO2/FiO2reduced significantly when comparing with preoperative period (p < 0.05) Fourteen (14) patients (6.5%) had arterial hypoxemia on the first postoperative day, 30 patients (13.9%) had the same condition on the second postoperative day In conclusion, arterial hypoxemia on the second postoperative day was a good predictor of postoperative respiratory complications with area under the curve was 0.899 There were three independent risk factors of decreased arterial oxygen on the first postoperative day including tiffeneau ratio ≤ 75%, AaO2≥ 20 and anesthesia time ≥ 150 minutes And four independent risk factors of arterial hypoxemia on the second postoperative day were tiffeneau ratio ≤ 75%, AaO2≥ 20, fluid balance ≥ 1700 ml and infection of preoperative upper respiratory tract

Keyword: respiratory complications, decreased arterial oxygen

Ngày đăng: 20/01/2020, 01:22

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w