1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Kiến thức về bệnh và tuân thủ các khuyến cáo về hành vi ở người bệnh tăng huyết áp tại bệnh viện Cẩm Khê, Phú Thọ, năm 2015 - 2016

9 86 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 188,92 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu nghiên cứu của bài viết nhằm mô tả kiến thức về bệnh tăng huyết áp và phân tích một số yếu tố liên quan với tuân thủ các khuyến cáo về hành vi của người bệnh tăng huyết áp tại bệnh viện Đa khoa huyện Cẩm Khê tỉnh Phú Thọ năm 2015 - 2016.

Trang 1

Địa chỉ liên hệ: Kim Bảo Giang, Viện Đào tạo Y học Dự

phòng và Y tế Công cộng, Trường Đại học Y Hà Nội

Email: kimbaogiang@hmu.edu.vn

Ngày nhận: 19/6/2018

Ngày được chấp thuận: 15/8/2018

KIẾN THỨC VỀ BỆNH VÀ TUÂN THỦ CÁC KHUYẾN CÁO

VỀ HÀNH VI Ở NGƯỜI BỆNH TĂNG HUYẾT ÁP TẠI BỆNH VIỆN

CẨM KHÊ, PHÚ THỌ, NĂM 2015 - 2016

Kim Bảo Giang 1 , Hồ Thị Kim Thanh 1 , Nguyễn Hải Minh 2

1 Trường Đạị học Y Hà Nội; 2 Bệnh viện huyện Cẩm Khê, Phú Thọ

Nghiên cứu nhằm mô tả thực trạng kiến thức về bệnh tăng huyết áp và phân tích một số yếu tố liên quan

đến sự tuân thủ các khuyến cáo về hành vi của người bệnh tăng huyết áp tại Bệnh viện Đa khoa huyện Cẩm Khê, Phú Thọ năm 2015 - 2016 Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện bao gồm nghiên cứu hồ sơ bệnh án và phỏng vấn trực tiếp 263 người bệnh tăng huyết áp nguyên phát, đang điều trị ngoại trú trên 12 tháng về kiến thức tăng huyết áp, mức độ thực hiện hành vi ăn giảm muối, giảm mỡ, giảm rượu/bia, bỏ hoặc

giảm thuốc lá, hoạt động thể lực, theo dõi huyết áp, khám định kỳ Kết quả cho thấy chỉ 8,6% người bệnh có

kiến thức tốt về chế độ ăn, lối sống, loại thuốc đang dùng, dấu hiệu cần xin ý kiến bác sĩ Tuân thủ tốt các

hành vi được khuyến cáo là 19% Nữ giới tuân thủ các hành vi được khuyến cáo tốt hơn nam Vì vậy, các

can thiệp trên bệnh nhân tăng huyết áp cần được thực hiện tích cực và trực tiếp hơn để tăng hiệu quả điều trị cho người bệnh

Từ khoá: Tăng huyết áp, tuân thủ điều trị, hành vi, Việt Nam

I ĐẶT VẤN ĐỀ

Theo Tổ chức Y tế Thế giới, tỷ lệ người

mắc tăng huyết áp đang tăng dần hàng năm,

từ 26,4% dân số toàn thế giới năm 2000 dự

tính sẽ tăng lên 29,2% vào năm 2025 [1]

Tăng huyết áp là nguyên nhân gây tàn phế và

tử vong hàng đầu ở các nước đang phát triển

[2] Điều trị tăng huyết áp có thể giảm 40%

nguy cơ tai biến mạch máu não và 15% nguy

cơ nhồi máu cơ tim Tỉ lệ tăng huyết áp tại

Việt Nam đang ngày càng gia tăng, từ 1%

năm 1960 lên đến 11,7% năm 1992 và đến

47,3% ở người từ 25 tuổi trở lên [3; 4] Một

trong những khuyến cáo để tăng hiệu quả

điều trị tăng huyết áp là giảm các hành vi nguy

cơ bao gồm uống rượu, hút thuốc lá, hạn chế

vận động thể lực, chế độ ăn giàu chất béo,

mặn, không khám định kỳ và theo dõi huyết áp

thường xuyên Tuy nhiên, tuân thủ các khuyến cáo về hành vi của người bệnh tăng huyết áp còn hạn chế Nghiên cứu tại Israel năm 2011 cho thấy chỉ có khoảng 1/2 người bệnh tuân thủ khuyến cáo về hoạt động thể lực (48%) và chế độ ăn (45%) và chỉ có 36% bỏ hút thuốc [5] Có nghiên cứu báo cáo tỉ lệ tuân thủ về chế độ ăn chỉ là 22,5% [6] Nghiên cứu trước đây cho thấy tỉ lệ tuân thủ điều trị tăng huyết

áp nói chung ở Việt Nam chỉ đạt hơn 30% [7, 8] Ở Việt Nam, nghiên cứu liên quan đến tuân thủ các khuyến cáo về hành vi của người bệnh tăng huyết áp chưa được công bố rộng rãi Nghiên cứu này nhằm mục tiêu mô tả kiến thức về bệnh tăng huyết áp và phân tích một

số yếu tố liên quan với tuân thủ các khuyến cáo về hành vi của người bệnh tăng huyết áp tại bệnh viện Đa khoa huyện Cẩm Khê tỉnh Phú Thọ năm 2015 - 2016

II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu: từ

tháng 1 năm 2016 đến tháng 12 năm 2016 tại Khoa Khám bệnh của bệnh viện đa khoa huyện Cẩm Khê

Trang 2

2 Đối tượng

Người bệnh được chẩn đoán là tăng huyết

áp trong chương trình quản lý bệnh tăng huyết

áp đã được điều trị nội trú dò liều thuốc, tham

gia điều trị ngoại trú, khám bệnh định kỳ từ 12

tháng trở lên

3 Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả

bao gồm nghiên cứu hồ sơ bệnh án và phỏng

vấn trực tiếp người bệnh

Cỡ mẫu: Áp dụng công thức tính cỡ mẫu

của Tổ chức Y tế thế giới cho ước lượng tỉ lệ

Tỉ lệ tuân thủ với khuyến cáo hành vi về chế

độ ăn là p = 0,225 theo số liệu được báo cáo

trước [6] và với độ xác định tương đối ε = 0,2,

với độ tin cậy α = 0,05 Dự phòng 20% đối

tượng không đến khám và 10% các trường

hợp mất dữ liệu Cỡ mẫu là 269 người bệnh

Chọn mẫu: Từ danh sách người bệnh

khám bệnh ngoại trú có mã ICD là J10 và có

thời gian điều trị tại bệnh viện ít nhất 12 tháng,

chọn ngẫu nhiên 269 người Kết quả thu thập

được đầy đủ thông tin của 263 người bệnh

4 Biến số nghiên cứu chính

Các đặc điểm của người bệnh: bao gồm

tuổi, giới, nghề nghiệp, học vấn, thời gian mắc

bệnh theo năm, số lần khám tại bệnh viện

trong 12 tháng qua

Kiến thức về bệnh được đánh giá thông

qua hiểu biết về 5 vấn đề gồm chế độ ăn, chế

độ vận động, lối sống phù hợp, thời điểm phải

hỏi bác sĩ, các loại thuốc đang dùng Mỗi câu

trả lời cho các câu hỏi này được bác sĩ điều trị

tại Khoa khám bệnh hỏi theo bảng hỏi thiết kế

sẵn và đánh giá theo thang điểm từ 1 đến 3

với 1 là “Không biết”; 2 là “Biết nhưng chưa

đủ”; 3 là “Biết đầy đủ” “Biết đầy đủ” có nghĩa

là kể đầy đủ tên thuốc hoặc kể đủ lưu ý về chế

độ ăn, chế độ luyện tập, về hút thuốc lá, uống

rượu bia, theo dõi huyết áp, giờ uống thuốc,

các dấu hiệu biến chứng “Biết nhưng chưa đủ” là kể được một vài nhưng chưa đủ hết tên thuốc hoặc kể đủ lưu ý về chế độ ăn, chế độ luyện tập, về hút thuốc lá, uống rượu bia, theo dõi huyết áp, giờ uống thuốc, các dấu hiệu biến chứng Điểm kiến thức thấp nhất là 5 và cao nhất là 15 và phân loại dựa trên khoảng

tứ phân vị, gồm kiến thức kém ( 5 - 8 điểm);

kiến thức trung bình ( 9 - 12 điểm); kiến thức tốt (13 - 15 điểm)

Mức độ tuân thủ các khuyến cáo về hành

vi gồm có ăn giảm mặn, ăn giảm mỡ/chất béo, giảm/cai rượu bia, giảm/cai hút thuốc, tăng cường hoạt động thể lực, theo dõi huyết áp tại nhà Mức độ tuân thủ cho từng hành vi bao gồm: 1 điểm (không tuân thủ; tuân thủ rất ít:

thực hiện < 25% số ngày trong tháng); 2 điểm (tuân thủ ít , thực hiện từ 25% đến dưới 50%

số ngày trong tháng); 3 điểm (tuân thủ thường xuyên từ 50 đến < 75% số ngày trong tháng);

4 điểm (tuân thủ rất thường xuyên từ 75 đến 100% số ngày trong tháng) Mức độ tuân thủ được thể hiện bằng tổng điểm tuân thủ, dao động từ 6 đến 30 điểm Mức độ tuân thủ chung được phân loại dựa trên khoảng tứ phân vị của tổng điểm: từ 6- 18 điểm là không tuân thủ/tuân thủ kém; từ 19 - 24 điểm là tuân thủ trung bình; từ 25 đến 30 điểm là tuân thủ tốt

Quá trình thu thập số liệu: 7 cán bộ bệnh viện trao đổi thống nhất để tham gia phỏng vấn người bệnh được chọn tại khoa khám bệnh khi đến tái khám

5 Xử lý và phân tích số liệu: Các phiếu

điều tra được kiểm tra để loại trừ các phiếu điền không đầy đủ Số liệu được nhập vào phần mềm Epi Data 3.1., được làm sạch và được phân tích bằng phần mềm STATA 12

Thống kê mô tả, ước tính tần số và tỷ lệ của các biến số; Để xác định liên quan của tuân thủ khuyến cáo về hành vi với các yếu tố văn

Trang 3

hoá, xã hội hồi quy tuyến tính đa biến với biến

phụ thuộc là điểm tuân thủ thực hành hành vi,

biến độc lập là biến số về đặc trưng cá nhân

của người bệnh như tuổi, giới, nghề nghiệp,

học vấn, thời gian bị bệnh, điểm nhận thức,

huyết áp tối đa cao nhất

6 Đạo đức trong nghiên cứu: Đối tượng

hoàn toàn tự nguyện tham gia sau khi được giải thích về mục đích, nội dung nghiên cứu Mọi thông tin cá nhân thu được qua phỏng vấn đều được bảo mật Nghiên cứu được sự cho phép của lãnh đạo bệnh viện và đề cương được thông qua hội đồng đào tạo chuyên khoa cấp II tại trường đại học Y Hà Nội

III KẾT QUẢ

1 Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu

Bảng 1 Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu

Nhóm tuổi

Nghề nghiệp

Trinh độ học

vấn

Nguồn thu

nhập

Chăn nuôi, trồng trọt, buôn bán 141 53,6

Thời gian bị

bệnh

Trang 4

Bảng 1 cho thấy, trong số 263 đối tượng nghiên cứu có 59,7% là nam và 40,3% nữ Tỷ lệ đối

tượng dưới 60 tuổi chiếm 22,4%, từ 60 đến 80 tuổi chiếm 68,1% Có 57,4% đối tượng nghiên

cứu làm nghề nông, 38% là cán bộ hành chính hoặc hưu trí Đối tượng học hết trung học cơ sở

chiếm 37,3%, trung học phổ thông chiếm 29,3% Có 51,7% số người có nguồn thu nhập từ chăn

nuôi và trồng trọt Có tới 91,6% người bệnh có thời gian bị bệnh dưới 10 năm

Bảng 2 Kiến thức của người bệnh về bệnh tăng huyết áp

Hiểu biết về chế độ ăn

Biết nhưng không đầy đủ 174 66,2

Hiểu biết về chế độ vận động

Biết nhưng không đầy đủ 210 79,8

Hiểu biết về lối sống phù hợp

Biết nhưng không đầy đủ 228 86,7

Khi nào phải hỏi ý kiến bác sĩ

Biết nhưng không đầy đủ 231 87,8

Kể tên các loại thuốc đang dùng

Biết nhưng không đầy đủ 95 36,1

Mức độ nhận thức

Liên quan đến kiến thức có các nội dung về chế độ ăn, chế độ vận động, lối sống phù hợp,

dấu hiệu nguy hiểm cần đi khám, tên một số thuốc hạ huyết áp thông thường Kết quả cho thấy

có 80,6% số người bệnh có mức độ kiến thức về bệnh tăng huyết áp ở mức độ trung bình, có

hiểu biết nhưng không đầy đủ, chỉ có 8,4% số người bệnh có kiến thức tương đối đầy đủ, và còn

11% số người bệnh hiểu biết kém về bệnh tăng huyết áp Đối với từng chủ đề về kiến thức, tỉ lệ

người bệnh biết đầy đủ cao nhất là về chế độ ăn (32,3%), về chế độ vận động (12,9%), về tên

các loại thuốc đang dùng (10,3%)

Trang 5

2 Tuân thủ các khuyến cáo về hành vi

Bảng 3 Thực hành các hành vi được khuyến cáo của người bệnh tăng huyết áp

Ăn giảm mặn

Ăn giảm mỡ

Giảm/cai rượu

bia

Rất thường xuyên (75 - 100%) 141 53,6

Giảm/cai thuốc

lá/ thuốc lào

Rất thường xuyên (75 - 100%) 176 66,9

Tăng cường vận

động thể lực

Theo dõi huyết

áp tại nhà

Không có máy đo, thỉnh thoảng nhờ đo 100 38,0

Có máy đo, thỉnh thoảng mới đo 68 25,9

Có máy đo, đo hàng ngày, không ghi chép 38 14,4

Có máy đo, đo, ghi chép hàng ngày 53 20,1

Trang 6

Biến số Số lượng Tỷ lệ%

Mức độ tuân thủ

khuyến cáo về

hành vi

Tỉ lệ % người bệnh tăng huyết áp có tuân thủ các khuyến cáo về hành vi ở mức tốt là 19,4%,

ở mức trung bình là 77,9% Hành vi được thực hiện ở mức độ “rất thường xuyên” cao nhất là “cai

thuốc lá” (66,9%), tiếp theo là “Giảm/cai bia rượu” (53,6%), “tăng cường vận động thể

lực” (28,1%), “đo huyết áp và ghi chép hàng ngày” (20,1%)

3 Một số yếu tố liên quan đến tuân thủ khuyến cáo về hành vi

Bảng 4 Mô hình hồi quy tuyến tính về một số yếu tố liên quan đến mức độ

tuân thủ khuyến cáo về hành vi

Học vấn

Nghề nghiệp

Trang 7

Kết quả ở bảng 4 cho thấy việc tuân thủ các khuyến cáo hành vi có liên quan có ý nghĩa thống

kê với giới và với chỉ số huyết áp cao nhất người bệnh từng có Theo kết quả nữ tuân thủ tốt hơn nam 1,2 điểm mức độ tuân thủ, với độ tin cậy trên 99% Người có huyết áp cao hơn tuân thủ tốt hơn

IV BÀN LUẬN

Theo nghiên cứu này mức độ kiến thức về

bệnh tăng huyết áp của người bệnh tăng

huyết áp còn hạn chế, dù thời gian theo dõi và

điều trị tăng huyết áp từ 12 tháng trở lên

Phần lớn (80,6%) người bệnh chỉ có kiến thức

ở mức chưa đầy đủ và chỉ có 8,4% người

bệnh có đủ kiến thức cơ bản Chủ đề mà

người bệnh có kiến thức cao nhất là “những

lưu ý về chế độ ăn” cũng chỉ có tỉ lệ hiểu biết

đầy đủ ở mức 32,3% Kết quả nghiên cứu của

chúng tôi về kiến thức của người bệnh tăng

huyết áp thấp hơn kiến thức của một số

nghiên cứu khác Nghiên cứu tại Pakistan cho

thấy tỉ lệ người bệnh trả lời đúng câu hỏi liên

quan đến chế độ ăn là 45,2% [6] Nghiên cứu

trên người bệnh tăng huyết áp ở Israel, với tỉ

lệ trả lời đúng các câu hỏi liên quan đến hậu

quả của huyết áp không ổn định, quá cân là

yếu tố nguy cơ của tăng huyết áp, cần thiết

cải thiện chế độ ăn đều trên 80% [5] Nghiên

cứu của Angelina Alphonce Joho cho thấy tỉ lệ

người bệnh có nhận thức tốt về mức độ trầm

trọng của bệnh từ 46% ở nhóm không tuân

thủ điều trị và 53,7% ở nhóm tuân thủ điều trị

[9] Khác nhau về mức độ kiến thức của người

bệnh giữa các nghiên cứu có thể giải thích bởi

sự khác biệt về cấu trúc và câu hỏi phỏng vấn,

cách tiếp cận trong đánh giá kiến thức Nghiên

cứu của chúng tôi chủ yếu đặt câu hỏi để đối

tượng trả lời, sau đó người phỏng vấn sẽ

đánh dấu và những lựa chọn phù hợp với câu

trả lời của người trả lời Nghiên cứu của tác

giả ở Israel là câu hỏi đóng với câu trả lời là

“Đúng” hoặc “sai” Vì vậy có thể tỉ lệ có kiến thức đúng ở nghiên cứu của chúng tôi có thể thấp hơn do câu hỏi khó hơn, đòi hỏi đối tượng phải có câu trả lời cụ thể, trong khi nghiên cứu của Israel chỉ cần lựa chọn câu trả lời có sẵn Nghiên cứu của Angelina laị đánh giá kiến thức dựa trên các câu hỏi theo mô hình Niềm tin sức khoẻ, với nhiều câu hỏi được đặt ra cho phần “Nhận thức về mức độ trầm trọng của bệnh” và “Nhận thức về mức nhạy cảm của bệnh” Sự khác biệt cũng có thể

do tư vấn hỗ trợ nâng cao nhận thức cho người bệnh khác nhau giữa các hệ thống chăm sóc sức khoẻ

Việc tuân thủ các khuyến cáo về hành vi của người bệnh cũng còn rất khiêm tốn Hành

vi có mức độ tuân thủ thường xuyên cao nhất

là tuân thủ trong giảm/cai thuốc lá chỉ là 66,9% và giảm/cai rượu bia là 53,6% Các tuân thủ liên quan đến chế độ ăn, vận động thể lực còn rất thấp (từ 5,7% đến 20,1% ) So với nghiên cứu tại Phần Lan từ năm 1999, nghiên cứu này tương tự về tỉ lệ tuân thủ hành

vi uống rượu là 53%, thấp hơn về tuân thủ hành vi vận động thể lực (54%) và về hành vi liên quan đến chế độ ăn (30%) [10] Tuân thủ

về hành vi liên quan đến chế độ ăn trong nghiên cứu của chúng tôi cũng thấp hơn nghiên cứu tại Pakistan năm 2014 (22,5%) [6] Kết quả của chúng tôi cho thấy chỉ có giới

và chỉ số huyết áp tối đa cao nhất là có liên quan có ý nghĩa thống kê Nghiên cứu của các tác giả tại một số nước khác cho thấy tuân thủ

Trang 8

với các khuyến cáo về hành vi có liên quan rất

nhiều đến nhận thức của người bệnh [5, 6],

giới, trình độ học vấn, tiếp cận với tư vấn về

hành vi [5] Nữ giới có mức độ tuân thủ hành

vi cao hơn trong nghiên cứu của chúng tôi

cũng có thể giải thích bởi thực trạng những

hành vi được khuyến cáo đều là những hành

vi có nhiều hơn ở nam giới do những đặc

trưnng văn hoá, xã hội ở Việt Nam là nam

uống bia, rượu, hút thuốc và ăn uống bên

ngoài nhiều hơn nữ giới rất rõ rệt

V KẾT LUẬN

Người bệnh tăng huyết áp có thời gian

điều trị từ 12 tháng trở lên tại Bệnh viên Đa

khoa Cẩm Khê có kiến thức về bệnh và tuân

thủ các khuyến cáo về hành vi còn hạn chế

Hạn chế về kiến thức tập trung nhiều hơn đến

nội dung liên quan đến các dấu hiệu cần thiết

phải hỏi ý kiến bác sĩ, các tên thuốc đang

dùng, hành vi lối sống phù hợp Tuân thủ về

hành vi còn chưa tốt, đặc biệt liên quan đến

chế độ ăn uống và theo dõi tình trạng huyết

áp Vì vậy, cần có các can thiệp tích cực hơn,

trực tiếp hơn để tăng cường mức độ tuân thủ

và hiệu quả điều trị tăng huyết áp

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Đào Duy An (2006) Nhận thức cơ bản

và cách xử trí ở bệnh nhân tăng huyết áp, , in

Hội nghị khoa học Tim mạch toàn quốc lần

thứ 11

2 Đào Duy An(2007) Tăng huyết áp thầm

lặng như thế nào Tạp chí Tim mạch học Việt

Nam 47, 445 - 451

3 Trung tâm Nghiên cứu Chính sách và

Phòng chống Chấn thương Thực trạng tăng

huyết áp ở Việt Nam 2016 [cited 2016 De-cember 31]; Available from: http://

cippr.huph.edu.vn/vi/node/98

4 Hội Tim mạch Việt Nam (2014) Tài liệu

hội thảo Tim mạch toàn quốc năm 2014 Hội nghị Tim mạch toàn quốc

5 Anthony D Heymann (2011) Factors

associated with Hypertensive Patients’ compli-ance with recommended lifestyle Behaviors

IMAJ, 13, 553 - 557

6 Muhammad Shahzeb Khan, F.I.B., Arslan Mirza, Mehwish Hussain et al (2014)

Frequency and Predictors of Non-compliance

to Dietary Recommendations Among

Hyper-tensive Patients J Community Health

7 Ninh Văn Đông (2010) Đánh giá sự

tuân thủ điều trị của bệnh nhân tăng huyết áp trên 60 tuổi tại phường Hàng Bông- Hoàn Kiếm - Hà Nội, năm 2010, Trường Đại học Y

tế Công cộng

8 Tâm, P.T., N.T Đạt, Lê Minh Hữu, (2014) Nghiên cứu tình hình tăng huyết áp và

việc thực hiện theo dõi và điều trị ở ngưởi từ

25 tuổi trở lên tại huyện Châu Thành, tỉnh Hậu

Giang Y học thực hành 944, 312 - 314

9 Angelina Alphonce Joho,(October, 2012) Factors affecting treatment compliance

among hypertension patients in three district hospitals - Dar Es Salaam, in Thesis for De-gree of Master of Science Nursing (Critical Care & Trauma) of Muhimbili University of Health and Allied Sciences, (MUHAS) 26

10 Helvi Kyngas and Tiina Lahdenpera (1999) Compliance of patients with

hyperten-sion and associated factors Journal of

Ad-vanced Nursing, 29(4), 832 - 839

Trang 9

Summary KNOWLEDGE ABOUT HYPERTENSION AND COMPLIANCE TO RECOMMENDED HEALTH BEHAVIORS AMONG HYPERTENSIVE PATIENTS MANAGED AT CAM KHE HOSPITAL

IN VINH PHUC PROVINCE, 2015 - 2016 The purpose of this study is to describe the patient knowledge about hypertension and analyze

some associated factors with the compliance to recommended health behaviors among hyperten-sive patients managed at the Camkhe district hospital in Phu Tho province in 2015 - 2016 A cross-sectional study was conducted consisting of patients’ record extraction and direct interview with 263 hypertensive patients who had been regularly treated and managed at the outpatient clinic for at least 12 months Collected data included knowledge about hypertension, compliance level to behaviors such as reduction of salt and lipid intakes, reduction of alcohol beverage, tobacco cessation or reduction, physical activities, blood pressure monitoring and regular check

up The results shows that only 8.6% of patients had good knowledge about diet, appropriate life styles, current drugs in use, symptoms that need doctor’s consultation The proportion of patients with good compliance to recommended behaviors was only 19% Female patients were more

likely to be compliant to treatment than males Therefore, interventions targeting hypertensive

patients should be more active and direct to improve effectiveness for patients treatment

Key words: Hypertension, treatment compliance, behavior, Vietnam

Ngày đăng: 20/01/2020, 01:13

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w