Mục tiêu nghiên cứu của bài viết nhằm mô tả kiến thức về bệnh tăng huyết áp và phân tích một số yếu tố liên quan với tuân thủ các khuyến cáo về hành vi của người bệnh tăng huyết áp tại bệnh viện Đa khoa huyện Cẩm Khê tỉnh Phú Thọ năm 2015 - 2016.
Trang 1Địa chỉ liên hệ: Kim Bảo Giang, Viện Đào tạo Y học Dự
phòng và Y tế Công cộng, Trường Đại học Y Hà Nội
Email: kimbaogiang@hmu.edu.vn
Ngày nhận: 19/6/2018
Ngày được chấp thuận: 15/8/2018
KIẾN THỨC VỀ BỆNH VÀ TUÂN THỦ CÁC KHUYẾN CÁO
VỀ HÀNH VI Ở NGƯỜI BỆNH TĂNG HUYẾT ÁP TẠI BỆNH VIỆN
CẨM KHÊ, PHÚ THỌ, NĂM 2015 - 2016
Kim Bảo Giang 1 , Hồ Thị Kim Thanh 1 , Nguyễn Hải Minh 2
1 Trường Đạị học Y Hà Nội; 2 Bệnh viện huyện Cẩm Khê, Phú Thọ
Nghiên cứu nhằm mô tả thực trạng kiến thức về bệnh tăng huyết áp và phân tích một số yếu tố liên quan
đến sự tuân thủ các khuyến cáo về hành vi của người bệnh tăng huyết áp tại Bệnh viện Đa khoa huyện Cẩm Khê, Phú Thọ năm 2015 - 2016 Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện bao gồm nghiên cứu hồ sơ bệnh án và phỏng vấn trực tiếp 263 người bệnh tăng huyết áp nguyên phát, đang điều trị ngoại trú trên 12 tháng về kiến thức tăng huyết áp, mức độ thực hiện hành vi ăn giảm muối, giảm mỡ, giảm rượu/bia, bỏ hoặc
giảm thuốc lá, hoạt động thể lực, theo dõi huyết áp, khám định kỳ Kết quả cho thấy chỉ 8,6% người bệnh có
kiến thức tốt về chế độ ăn, lối sống, loại thuốc đang dùng, dấu hiệu cần xin ý kiến bác sĩ Tuân thủ tốt các
hành vi được khuyến cáo là 19% Nữ giới tuân thủ các hành vi được khuyến cáo tốt hơn nam Vì vậy, các
can thiệp trên bệnh nhân tăng huyết áp cần được thực hiện tích cực và trực tiếp hơn để tăng hiệu quả điều trị cho người bệnh
Từ khoá: Tăng huyết áp, tuân thủ điều trị, hành vi, Việt Nam
I ĐẶT VẤN ĐỀ
Theo Tổ chức Y tế Thế giới, tỷ lệ người
mắc tăng huyết áp đang tăng dần hàng năm,
từ 26,4% dân số toàn thế giới năm 2000 dự
tính sẽ tăng lên 29,2% vào năm 2025 [1]
Tăng huyết áp là nguyên nhân gây tàn phế và
tử vong hàng đầu ở các nước đang phát triển
[2] Điều trị tăng huyết áp có thể giảm 40%
nguy cơ tai biến mạch máu não và 15% nguy
cơ nhồi máu cơ tim Tỉ lệ tăng huyết áp tại
Việt Nam đang ngày càng gia tăng, từ 1%
năm 1960 lên đến 11,7% năm 1992 và đến
47,3% ở người từ 25 tuổi trở lên [3; 4] Một
trong những khuyến cáo để tăng hiệu quả
điều trị tăng huyết áp là giảm các hành vi nguy
cơ bao gồm uống rượu, hút thuốc lá, hạn chế
vận động thể lực, chế độ ăn giàu chất béo,
mặn, không khám định kỳ và theo dõi huyết áp
thường xuyên Tuy nhiên, tuân thủ các khuyến cáo về hành vi của người bệnh tăng huyết áp còn hạn chế Nghiên cứu tại Israel năm 2011 cho thấy chỉ có khoảng 1/2 người bệnh tuân thủ khuyến cáo về hoạt động thể lực (48%) và chế độ ăn (45%) và chỉ có 36% bỏ hút thuốc [5] Có nghiên cứu báo cáo tỉ lệ tuân thủ về chế độ ăn chỉ là 22,5% [6] Nghiên cứu trước đây cho thấy tỉ lệ tuân thủ điều trị tăng huyết
áp nói chung ở Việt Nam chỉ đạt hơn 30% [7, 8] Ở Việt Nam, nghiên cứu liên quan đến tuân thủ các khuyến cáo về hành vi của người bệnh tăng huyết áp chưa được công bố rộng rãi Nghiên cứu này nhằm mục tiêu mô tả kiến thức về bệnh tăng huyết áp và phân tích một
số yếu tố liên quan với tuân thủ các khuyến cáo về hành vi của người bệnh tăng huyết áp tại bệnh viện Đa khoa huyện Cẩm Khê tỉnh Phú Thọ năm 2015 - 2016
II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu: từ
tháng 1 năm 2016 đến tháng 12 năm 2016 tại Khoa Khám bệnh của bệnh viện đa khoa huyện Cẩm Khê
Trang 22 Đối tượng
Người bệnh được chẩn đoán là tăng huyết
áp trong chương trình quản lý bệnh tăng huyết
áp đã được điều trị nội trú dò liều thuốc, tham
gia điều trị ngoại trú, khám bệnh định kỳ từ 12
tháng trở lên
3 Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả
bao gồm nghiên cứu hồ sơ bệnh án và phỏng
vấn trực tiếp người bệnh
Cỡ mẫu: Áp dụng công thức tính cỡ mẫu
của Tổ chức Y tế thế giới cho ước lượng tỉ lệ
Tỉ lệ tuân thủ với khuyến cáo hành vi về chế
độ ăn là p = 0,225 theo số liệu được báo cáo
trước [6] và với độ xác định tương đối ε = 0,2,
với độ tin cậy α = 0,05 Dự phòng 20% đối
tượng không đến khám và 10% các trường
hợp mất dữ liệu Cỡ mẫu là 269 người bệnh
Chọn mẫu: Từ danh sách người bệnh
khám bệnh ngoại trú có mã ICD là J10 và có
thời gian điều trị tại bệnh viện ít nhất 12 tháng,
chọn ngẫu nhiên 269 người Kết quả thu thập
được đầy đủ thông tin của 263 người bệnh
4 Biến số nghiên cứu chính
Các đặc điểm của người bệnh: bao gồm
tuổi, giới, nghề nghiệp, học vấn, thời gian mắc
bệnh theo năm, số lần khám tại bệnh viện
trong 12 tháng qua
Kiến thức về bệnh được đánh giá thông
qua hiểu biết về 5 vấn đề gồm chế độ ăn, chế
độ vận động, lối sống phù hợp, thời điểm phải
hỏi bác sĩ, các loại thuốc đang dùng Mỗi câu
trả lời cho các câu hỏi này được bác sĩ điều trị
tại Khoa khám bệnh hỏi theo bảng hỏi thiết kế
sẵn và đánh giá theo thang điểm từ 1 đến 3
với 1 là “Không biết”; 2 là “Biết nhưng chưa
đủ”; 3 là “Biết đầy đủ” “Biết đầy đủ” có nghĩa
là kể đầy đủ tên thuốc hoặc kể đủ lưu ý về chế
độ ăn, chế độ luyện tập, về hút thuốc lá, uống
rượu bia, theo dõi huyết áp, giờ uống thuốc,
các dấu hiệu biến chứng “Biết nhưng chưa đủ” là kể được một vài nhưng chưa đủ hết tên thuốc hoặc kể đủ lưu ý về chế độ ăn, chế độ luyện tập, về hút thuốc lá, uống rượu bia, theo dõi huyết áp, giờ uống thuốc, các dấu hiệu biến chứng Điểm kiến thức thấp nhất là 5 và cao nhất là 15 và phân loại dựa trên khoảng
tứ phân vị, gồm kiến thức kém ( 5 - 8 điểm);
kiến thức trung bình ( 9 - 12 điểm); kiến thức tốt (13 - 15 điểm)
Mức độ tuân thủ các khuyến cáo về hành
vi gồm có ăn giảm mặn, ăn giảm mỡ/chất béo, giảm/cai rượu bia, giảm/cai hút thuốc, tăng cường hoạt động thể lực, theo dõi huyết áp tại nhà Mức độ tuân thủ cho từng hành vi bao gồm: 1 điểm (không tuân thủ; tuân thủ rất ít:
thực hiện < 25% số ngày trong tháng); 2 điểm (tuân thủ ít , thực hiện từ 25% đến dưới 50%
số ngày trong tháng); 3 điểm (tuân thủ thường xuyên từ 50 đến < 75% số ngày trong tháng);
4 điểm (tuân thủ rất thường xuyên từ 75 đến 100% số ngày trong tháng) Mức độ tuân thủ được thể hiện bằng tổng điểm tuân thủ, dao động từ 6 đến 30 điểm Mức độ tuân thủ chung được phân loại dựa trên khoảng tứ phân vị của tổng điểm: từ 6- 18 điểm là không tuân thủ/tuân thủ kém; từ 19 - 24 điểm là tuân thủ trung bình; từ 25 đến 30 điểm là tuân thủ tốt
Quá trình thu thập số liệu: 7 cán bộ bệnh viện trao đổi thống nhất để tham gia phỏng vấn người bệnh được chọn tại khoa khám bệnh khi đến tái khám
5 Xử lý và phân tích số liệu: Các phiếu
điều tra được kiểm tra để loại trừ các phiếu điền không đầy đủ Số liệu được nhập vào phần mềm Epi Data 3.1., được làm sạch và được phân tích bằng phần mềm STATA 12
Thống kê mô tả, ước tính tần số và tỷ lệ của các biến số; Để xác định liên quan của tuân thủ khuyến cáo về hành vi với các yếu tố văn
Trang 3hoá, xã hội hồi quy tuyến tính đa biến với biến
phụ thuộc là điểm tuân thủ thực hành hành vi,
biến độc lập là biến số về đặc trưng cá nhân
của người bệnh như tuổi, giới, nghề nghiệp,
học vấn, thời gian bị bệnh, điểm nhận thức,
huyết áp tối đa cao nhất
6 Đạo đức trong nghiên cứu: Đối tượng
hoàn toàn tự nguyện tham gia sau khi được giải thích về mục đích, nội dung nghiên cứu Mọi thông tin cá nhân thu được qua phỏng vấn đều được bảo mật Nghiên cứu được sự cho phép của lãnh đạo bệnh viện và đề cương được thông qua hội đồng đào tạo chuyên khoa cấp II tại trường đại học Y Hà Nội
III KẾT QUẢ
1 Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu
Bảng 1 Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu
Nhóm tuổi
Nghề nghiệp
Trinh độ học
vấn
Nguồn thu
nhập
Chăn nuôi, trồng trọt, buôn bán 141 53,6
Thời gian bị
bệnh
Trang 4Bảng 1 cho thấy, trong số 263 đối tượng nghiên cứu có 59,7% là nam và 40,3% nữ Tỷ lệ đối
tượng dưới 60 tuổi chiếm 22,4%, từ 60 đến 80 tuổi chiếm 68,1% Có 57,4% đối tượng nghiên
cứu làm nghề nông, 38% là cán bộ hành chính hoặc hưu trí Đối tượng học hết trung học cơ sở
chiếm 37,3%, trung học phổ thông chiếm 29,3% Có 51,7% số người có nguồn thu nhập từ chăn
nuôi và trồng trọt Có tới 91,6% người bệnh có thời gian bị bệnh dưới 10 năm
Bảng 2 Kiến thức của người bệnh về bệnh tăng huyết áp
Hiểu biết về chế độ ăn
Biết nhưng không đầy đủ 174 66,2
Hiểu biết về chế độ vận động
Biết nhưng không đầy đủ 210 79,8
Hiểu biết về lối sống phù hợp
Biết nhưng không đầy đủ 228 86,7
Khi nào phải hỏi ý kiến bác sĩ
Biết nhưng không đầy đủ 231 87,8
Kể tên các loại thuốc đang dùng
Biết nhưng không đầy đủ 95 36,1
Mức độ nhận thức
Liên quan đến kiến thức có các nội dung về chế độ ăn, chế độ vận động, lối sống phù hợp,
dấu hiệu nguy hiểm cần đi khám, tên một số thuốc hạ huyết áp thông thường Kết quả cho thấy
có 80,6% số người bệnh có mức độ kiến thức về bệnh tăng huyết áp ở mức độ trung bình, có
hiểu biết nhưng không đầy đủ, chỉ có 8,4% số người bệnh có kiến thức tương đối đầy đủ, và còn
11% số người bệnh hiểu biết kém về bệnh tăng huyết áp Đối với từng chủ đề về kiến thức, tỉ lệ
người bệnh biết đầy đủ cao nhất là về chế độ ăn (32,3%), về chế độ vận động (12,9%), về tên
các loại thuốc đang dùng (10,3%)
Trang 52 Tuân thủ các khuyến cáo về hành vi
Bảng 3 Thực hành các hành vi được khuyến cáo của người bệnh tăng huyết áp
Ăn giảm mặn
Ăn giảm mỡ
Giảm/cai rượu
bia
Rất thường xuyên (75 - 100%) 141 53,6
Giảm/cai thuốc
lá/ thuốc lào
Rất thường xuyên (75 - 100%) 176 66,9
Tăng cường vận
động thể lực
Theo dõi huyết
áp tại nhà
Không có máy đo, thỉnh thoảng nhờ đo 100 38,0
Có máy đo, thỉnh thoảng mới đo 68 25,9
Có máy đo, đo hàng ngày, không ghi chép 38 14,4
Có máy đo, đo, ghi chép hàng ngày 53 20,1
Trang 6Biến số Số lượng Tỷ lệ%
Mức độ tuân thủ
khuyến cáo về
hành vi
Tỉ lệ % người bệnh tăng huyết áp có tuân thủ các khuyến cáo về hành vi ở mức tốt là 19,4%,
ở mức trung bình là 77,9% Hành vi được thực hiện ở mức độ “rất thường xuyên” cao nhất là “cai
thuốc lá” (66,9%), tiếp theo là “Giảm/cai bia rượu” (53,6%), “tăng cường vận động thể
lực” (28,1%), “đo huyết áp và ghi chép hàng ngày” (20,1%)
3 Một số yếu tố liên quan đến tuân thủ khuyến cáo về hành vi
Bảng 4 Mô hình hồi quy tuyến tính về một số yếu tố liên quan đến mức độ
tuân thủ khuyến cáo về hành vi
Học vấn
Nghề nghiệp
Trang 7Kết quả ở bảng 4 cho thấy việc tuân thủ các khuyến cáo hành vi có liên quan có ý nghĩa thống
kê với giới và với chỉ số huyết áp cao nhất người bệnh từng có Theo kết quả nữ tuân thủ tốt hơn nam 1,2 điểm mức độ tuân thủ, với độ tin cậy trên 99% Người có huyết áp cao hơn tuân thủ tốt hơn
IV BÀN LUẬN
Theo nghiên cứu này mức độ kiến thức về
bệnh tăng huyết áp của người bệnh tăng
huyết áp còn hạn chế, dù thời gian theo dõi và
điều trị tăng huyết áp từ 12 tháng trở lên
Phần lớn (80,6%) người bệnh chỉ có kiến thức
ở mức chưa đầy đủ và chỉ có 8,4% người
bệnh có đủ kiến thức cơ bản Chủ đề mà
người bệnh có kiến thức cao nhất là “những
lưu ý về chế độ ăn” cũng chỉ có tỉ lệ hiểu biết
đầy đủ ở mức 32,3% Kết quả nghiên cứu của
chúng tôi về kiến thức của người bệnh tăng
huyết áp thấp hơn kiến thức của một số
nghiên cứu khác Nghiên cứu tại Pakistan cho
thấy tỉ lệ người bệnh trả lời đúng câu hỏi liên
quan đến chế độ ăn là 45,2% [6] Nghiên cứu
trên người bệnh tăng huyết áp ở Israel, với tỉ
lệ trả lời đúng các câu hỏi liên quan đến hậu
quả của huyết áp không ổn định, quá cân là
yếu tố nguy cơ của tăng huyết áp, cần thiết
cải thiện chế độ ăn đều trên 80% [5] Nghiên
cứu của Angelina Alphonce Joho cho thấy tỉ lệ
người bệnh có nhận thức tốt về mức độ trầm
trọng của bệnh từ 46% ở nhóm không tuân
thủ điều trị và 53,7% ở nhóm tuân thủ điều trị
[9] Khác nhau về mức độ kiến thức của người
bệnh giữa các nghiên cứu có thể giải thích bởi
sự khác biệt về cấu trúc và câu hỏi phỏng vấn,
cách tiếp cận trong đánh giá kiến thức Nghiên
cứu của chúng tôi chủ yếu đặt câu hỏi để đối
tượng trả lời, sau đó người phỏng vấn sẽ
đánh dấu và những lựa chọn phù hợp với câu
trả lời của người trả lời Nghiên cứu của tác
giả ở Israel là câu hỏi đóng với câu trả lời là
“Đúng” hoặc “sai” Vì vậy có thể tỉ lệ có kiến thức đúng ở nghiên cứu của chúng tôi có thể thấp hơn do câu hỏi khó hơn, đòi hỏi đối tượng phải có câu trả lời cụ thể, trong khi nghiên cứu của Israel chỉ cần lựa chọn câu trả lời có sẵn Nghiên cứu của Angelina laị đánh giá kiến thức dựa trên các câu hỏi theo mô hình Niềm tin sức khoẻ, với nhiều câu hỏi được đặt ra cho phần “Nhận thức về mức độ trầm trọng của bệnh” và “Nhận thức về mức nhạy cảm của bệnh” Sự khác biệt cũng có thể
do tư vấn hỗ trợ nâng cao nhận thức cho người bệnh khác nhau giữa các hệ thống chăm sóc sức khoẻ
Việc tuân thủ các khuyến cáo về hành vi của người bệnh cũng còn rất khiêm tốn Hành
vi có mức độ tuân thủ thường xuyên cao nhất
là tuân thủ trong giảm/cai thuốc lá chỉ là 66,9% và giảm/cai rượu bia là 53,6% Các tuân thủ liên quan đến chế độ ăn, vận động thể lực còn rất thấp (từ 5,7% đến 20,1% ) So với nghiên cứu tại Phần Lan từ năm 1999, nghiên cứu này tương tự về tỉ lệ tuân thủ hành
vi uống rượu là 53%, thấp hơn về tuân thủ hành vi vận động thể lực (54%) và về hành vi liên quan đến chế độ ăn (30%) [10] Tuân thủ
về hành vi liên quan đến chế độ ăn trong nghiên cứu của chúng tôi cũng thấp hơn nghiên cứu tại Pakistan năm 2014 (22,5%) [6] Kết quả của chúng tôi cho thấy chỉ có giới
và chỉ số huyết áp tối đa cao nhất là có liên quan có ý nghĩa thống kê Nghiên cứu của các tác giả tại một số nước khác cho thấy tuân thủ
Trang 8với các khuyến cáo về hành vi có liên quan rất
nhiều đến nhận thức của người bệnh [5, 6],
giới, trình độ học vấn, tiếp cận với tư vấn về
hành vi [5] Nữ giới có mức độ tuân thủ hành
vi cao hơn trong nghiên cứu của chúng tôi
cũng có thể giải thích bởi thực trạng những
hành vi được khuyến cáo đều là những hành
vi có nhiều hơn ở nam giới do những đặc
trưnng văn hoá, xã hội ở Việt Nam là nam
uống bia, rượu, hút thuốc và ăn uống bên
ngoài nhiều hơn nữ giới rất rõ rệt
V KẾT LUẬN
Người bệnh tăng huyết áp có thời gian
điều trị từ 12 tháng trở lên tại Bệnh viên Đa
khoa Cẩm Khê có kiến thức về bệnh và tuân
thủ các khuyến cáo về hành vi còn hạn chế
Hạn chế về kiến thức tập trung nhiều hơn đến
nội dung liên quan đến các dấu hiệu cần thiết
phải hỏi ý kiến bác sĩ, các tên thuốc đang
dùng, hành vi lối sống phù hợp Tuân thủ về
hành vi còn chưa tốt, đặc biệt liên quan đến
chế độ ăn uống và theo dõi tình trạng huyết
áp Vì vậy, cần có các can thiệp tích cực hơn,
trực tiếp hơn để tăng cường mức độ tuân thủ
và hiệu quả điều trị tăng huyết áp
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Đào Duy An (2006) Nhận thức cơ bản
và cách xử trí ở bệnh nhân tăng huyết áp, , in
Hội nghị khoa học Tim mạch toàn quốc lần
thứ 11
2 Đào Duy An(2007) Tăng huyết áp thầm
lặng như thế nào Tạp chí Tim mạch học Việt
Nam 47, 445 - 451
3 Trung tâm Nghiên cứu Chính sách và
Phòng chống Chấn thương Thực trạng tăng
huyết áp ở Việt Nam 2016 [cited 2016 De-cember 31]; Available from: http://
cippr.huph.edu.vn/vi/node/98
4 Hội Tim mạch Việt Nam (2014) Tài liệu
hội thảo Tim mạch toàn quốc năm 2014 Hội nghị Tim mạch toàn quốc
5 Anthony D Heymann (2011) Factors
associated with Hypertensive Patients’ compli-ance with recommended lifestyle Behaviors
IMAJ, 13, 553 - 557
6 Muhammad Shahzeb Khan, F.I.B., Arslan Mirza, Mehwish Hussain et al (2014)
Frequency and Predictors of Non-compliance
to Dietary Recommendations Among
Hyper-tensive Patients J Community Health
7 Ninh Văn Đông (2010) Đánh giá sự
tuân thủ điều trị của bệnh nhân tăng huyết áp trên 60 tuổi tại phường Hàng Bông- Hoàn Kiếm - Hà Nội, năm 2010, Trường Đại học Y
tế Công cộng
8 Tâm, P.T., N.T Đạt, Lê Minh Hữu, (2014) Nghiên cứu tình hình tăng huyết áp và
việc thực hiện theo dõi và điều trị ở ngưởi từ
25 tuổi trở lên tại huyện Châu Thành, tỉnh Hậu
Giang Y học thực hành 944, 312 - 314
9 Angelina Alphonce Joho,(October, 2012) Factors affecting treatment compliance
among hypertension patients in three district hospitals - Dar Es Salaam, in Thesis for De-gree of Master of Science Nursing (Critical Care & Trauma) of Muhimbili University of Health and Allied Sciences, (MUHAS) 26
10 Helvi Kyngas and Tiina Lahdenpera (1999) Compliance of patients with
hyperten-sion and associated factors Journal of
Ad-vanced Nursing, 29(4), 832 - 839
Trang 9Summary KNOWLEDGE ABOUT HYPERTENSION AND COMPLIANCE TO RECOMMENDED HEALTH BEHAVIORS AMONG HYPERTENSIVE PATIENTS MANAGED AT CAM KHE HOSPITAL
IN VINH PHUC PROVINCE, 2015 - 2016 The purpose of this study is to describe the patient knowledge about hypertension and analyze
some associated factors with the compliance to recommended health behaviors among hyperten-sive patients managed at the Camkhe district hospital in Phu Tho province in 2015 - 2016 A cross-sectional study was conducted consisting of patients’ record extraction and direct interview with 263 hypertensive patients who had been regularly treated and managed at the outpatient clinic for at least 12 months Collected data included knowledge about hypertension, compliance level to behaviors such as reduction of salt and lipid intakes, reduction of alcohol beverage, tobacco cessation or reduction, physical activities, blood pressure monitoring and regular check
up The results shows that only 8.6% of patients had good knowledge about diet, appropriate life styles, current drugs in use, symptoms that need doctor’s consultation The proportion of patients with good compliance to recommended behaviors was only 19% Female patients were more
likely to be compliant to treatment than males Therefore, interventions targeting hypertensive
patients should be more active and direct to improve effectiveness for patients treatment
Key words: Hypertension, treatment compliance, behavior, Vietnam