Mục tiêu nghiên cứu của bài viết nhằm so sánh nồng độ yếu tố tăng sinh tân mạch trong thủy dịch trước và sau tiêm nội nhãn Bevacizumab điều trị bệnh phù hoàng điểm do đái tháo đường; tìm hiểu mối liên quan giữa nồng độ yếu tố tăng sinh tân mạch với biến đổi võng mạc trên lâm sàng.
Trang 1NỒNG ĐỘ YẾU TỐ TĂNG SINH TÂN MẠCH TRONG THỦY DỊCH
TRƯỚC VÀ SAU TIÊM BEVACIZUMAB NỘI NHÃN
ĐIỀU TRỊ PHÙ HOÀNG ĐIỂM DO ĐÁI THÁO ĐƯỜNG
Nguyễn Tuấn Thanh Hảo 1 , Phạm Trọng Văn 2 , Vũ Tuấn Anh 3
1 Bệnh viện Mắt Đà Nẵng, 2 Trường Đại học Y Hà Nội, 3 Bệnh viện Mắt Trung ương Nghiên cứu nồng độ yếu tố tăng sinh tân mạch trong thủy dịch trước và sau tiêm nội nhãn Bevacizumab
ở phù hoàng điểm do đái tháo đường và mối liên quan với đặc điểm lâm sàng Nghiên cứu tiến cứu, can thiệp lâm sàng trên 20 mắt có chỉ định tiêm bevacizumab nội nhãn tại Bệnh viện Mắt Đà Nẵng Mẫu thủy dịch được lấy ngay trước và 1 tuần sau tiêm nội nhãn 1,25 mg Bevacizumab Nồng độ yếu tố tăng sinh tân mạch trước tiêm là 464,88 ± 383,02pg/ml giảm xuống 20,29 ± 19,29pg/ml (p < 0,001) ở tất cả các mắt sau tiêm 1 tuần Không có sự tương quan giữa nồng độ yếu tố tăng sinh tân mạch với tuổi, thời gian đái tháo đường, đường máu, HbAa1C, thời gian nhìn mờ, thị lực, bề dày, thể tích hoàng điểm Nồng độ yếu tố tăng sinh tân mạch cao hơn đáng kể ở nhóm bệnh võng mạc đái tháo đường tăng sinh, nhóm tăng huỳnh quang cao Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về nồng độ yếu tố tăng sinh tân mạch giữa các nhóm phân loại theo hình thái học Như vậy, nồng độ yếu tố tăng sinh tân mạch giảm đáng kể sau tiêm nội nhãn Bevacizumab ở phù hoàng điểm đái tháo đường Mối liên quan giữa nồng độ yếu tố tăng sinh tân mạch với các thông số lâm sàng cho hiểu biết tốt hơn về vai trò của nồng độ yếu tố tăng sinh tân mạch trong tiên lượng bệnh
Từ khóa: phù hoàng điểm, đái tháo đường, VEGF, Bevacizumab
Địa chỉ liên hệ: Phạm Trọng Văn, Bộ môn Mắt, Trường
Đại học Y Hà Nội
Email: phtrongvan@hotmail.com
Ngày nhận: 19/4/2018
Ngày được chấp thuận: 18/7/2018
I ĐẶT VẤN ĐỀ
Phù hoàng điểm là biến chứng phổ biến
và là nguyên nhân gây mù hàng đầu ở bệnh
nhân mắc bệnh võng mạc do đái tháo đường
Phù hoàng điểm đái tháo đường có liên quan
đến phá vỡ hàng rào máu võng mạc và rò
dịch trong võng mạc từ những mao mạch
bất thường quanh hoàng điểm hay những vi
phình mạch
Nồng độ yếu tố tăng sinh tân mạch là yếu
tố sinh mạch chủ chốt gây tăng tính thấm
mạch/ phù hoàng điểm và tăng sinh tân mạch
Các nghiên cứu đã chứng minh nồng độ yếu
tố tăng sinh tân mạch đóng vai trò chính trong tăng tính thấm mạch ở mắt bệnh nhân đái tháo đường và có mối liên quan giữa nồng độ yếu tố tăng sinh tân mạch nội nhãn với phù hoàng điểm [1 - 3] Nhiều nghiên cứu khác lại cho thấy nồng độ yếu tố tăng sinh tân mạch nội nhãn có thể không có mối liên quan với một số đặc điểm lâm sàng của phù hoàng điểm đái tháo đường [4] Cơ chế bệnh sinh phức tạp còn chưa rõ ràng của bệnh có thể có liên quan đến các cytokine khác
Bevacizumab (Avastin, Genentech Inc) là một trong những thuốc kháng nồng độ yếu tố tăng sinh tân mạch thường được sử dụng, an toàn cho nhiều bệnh lý mạch máu võng mạc trong đó có bệnh võng mạc do đái tháo đường [5] Bevacizumab tiêm nội nhãn được mong đợi làm giảm nồng độ yếu tố tăng sinh tân mạch gây thoái triển tân mạch võng mạc và
Trang 2giảm thoát dịch trong phù hoàng điểm đái tháo
đường [6 - 8]
Việt Nam đã có vài nghiên cứu về hiệu quả
lâm sàng của Bevacizumab trong điều trị bệnh
lý mạch máu võng mạc Tuy nhiên, cho đến
nay vẫn chưa có nghiên cứu nào về nồng độ
yếu tố tăng sinh tân mạch trong bệnh phù
hoàng điểm do đái tháo đường Nghiên cứu
được thực hiện nhằm mục tiêu:
1 So sánh nồng độ yếu tố tăng sinh tân
mạch trong thủy dịch trước và sau tiêm nội
nhãn Bevacizumab điều trị bệnh phù hoàng
điểm do đái tháo đường;
2 Tìm hiểu mối liên quan giữa nồng độ
yếu tố tăng sinh tân mạch với biến đổi võng
mạc trên lâm sàng
II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
1 Đối tượng
Bệnh nhân được chẩn đoán xác định phù
hoàng điểm do đái tháo đường có ý nghĩa lâm
sàng, có chỉ định tiêm Bevacizumab nội nhãn
đến khám tại Bệnh viện Mắt Đà Nẵng từ tháng
5/2016 đến tháng 3/2017
Tiêu chuẩn loại trừ: tiền sử bệnh tim
mạch hay đột quỵ, dị ứng với Bevacizumab,
có nhiễm trùng cấp tính tại mắt, đã tiêm các
thuốc nội nhãn như Triamcinolone, thuốc ức
chế nồng độ yếu tố tăng sinh tân mạch, đã
laser võng mạc, đã phẫu thuật nội nhãn trong
vòng 3 tháng trước khi nghiên cứu
Phương pháp
- Thiết kế nghiên cứu: tiến cứu, thử
nghiệm lâm sàng không nhóm chứng, so sánh
2 giá trị trung bình trước và sau điều trị
- Các bước nghiên cứu
+ Khám sàng lọc xác định bệnh nhân có
phù hoàng điểm do đái tháo đường có chỉ định tiêm Bevacizumab nội nhãn
+ Quy trình khám ghi nhận bệnh gồm: Đo thị lực có chỉnh kính, khám sinh hiển vi, chụp hình màu đáy mắt, chụp mạch huỳnh quang, chụp OCT hoàng điểm trước và sau tiêm 1 tuần
+ Lấy mẫu bệnh phẩm thủy dịch ngay trước khi tiêm nội nhãn Bevacizumab và sau tiêm nội nhãn Bevacizumab 1 tuần
+ Đo nồng độ yếu tố tăng sinh tân mạch trong thủy dịch trước và sau tiêm 1 tuần bằng phương pháp định lượng với kit ELISA DVE00 (R&D System)
3 Đạo đức nghiên cứu
Nghiên cứu được sự thông qua của Hội đồng chấm đề cương nghiên cứu của nghiên cứu sinh Trường Ðại học Y Hà Nội Nghiên cứu được sự chấp nhận của Hội đồng đạo đức trong nghiên cứu y sinh học Trường Đại học Y Hà Nội, của Ban giám đốc, Hội đồng khoa học, Hội đồng đạo đức trong nghiên cứu của Bệnh viện Mắt Đà Nẵng
Tất cả bệnh nhân và người nhà bệnh nhân đều được giải thích, tư vấn kỹ về bệnh, hướng điều trị, tác dụng không mong muốn có thể gặp, mục đích của nghiên cứu Chỉ đưa vào danh sách những bệnh nhân tự nguyện tham gia nghiên cứu Các trường hợp không đồng ý tham gia nghiên cứu không bị phân biệt đối
xử Đối tượng nghiên cứu có thể từ chối tham gia nghiên cứu ở bất cứ giai đoạn nào trong quá trình nghiên cứu Tất cả bệnh nhân nghiên cứu đều được quyền điều trị và theo dõi
III KẾT QUẢ
Nghiên cứu của chúng tôi thực hiện trên 20 mắt của 14 bệnh nhân
Trang 31 Đặc điểm mẫu bệnh nhân nghiên cứu
Bệnh nhân nghiên cứu gồm 9 nam/5 nữ, tuổi trung bình 53, mắc bệnh đái tháo đường > 10 năm HbA1C cao và đa số có đường huyết điều chỉnh (bảng 1)
Bảng 1 Đặc điểm chung của mẫu nghiên cứu
Đặc điểm Trung bình ± Độ lệch chuẩn Nhỏ nhất - lớn nhất
2 So sánh nồng độ yếu tố tăng sinh tân mạch trước và sau tiêm nội nhãn Bevacizumab
Bảng 2 Nồng độ yếu tố tăng sinh tân mạch trước và sau tiêm
ở tất cả bệnh nhân nghiên cứu
Nồng độ yếu tố tăng sinh tân mạch (pg/ml) Trung bình ± độ lệch chuẩn p
< 0,001
Nồng độ yếu tố tăng sinh tân mạch sau tiêm giảm so với trước tiêm và sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (p < 0,001)
Biểu đồ 1 Nồng độ yếu tố tăng sinh tân mạch trước và sau tiêm
theo phân độ bệnh võng mạc đái tháo đường
Ở cả 2 nhóm bệnh võng mạc đái tháo đường không tăng sinh và tăng sinh, nồng độ yếu tố tăng sinh tân mạch sau tiêm giảm so với trước tiêm và sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê, (p < 0,001)
Trang 4Biểu đồ 2 Nồng độ yếu tố tăng sinh tân mạch trước và sau tiêm theo phân loại mức độ
tăng huỳnh quang vùng hoàng điểm
Ở cả 2 nhóm phù hoàng điểm tăng huỳnh quang thấp và tăng huỳnh quang cao, nồng độ yếu
tố tăng sinh tân mạch sau tiêm giảm so với trước tiêm và sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê, (p
< 0,001)
Biểu đồ 3 Nồng độ yếu tố tăng sinh tân mạch trước và sau tiêm
theo hình thái học phù hoàng điểm
Với các hình thái phù hoàng điểm, nồng độ yếu tố tăng sinh tân mạch sau tiêm giảm so với
trước tiêm và sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (p < 0,001)
3 Mối liên quan giữa nồng độ yếu tố yếu tố tăng sinh tân mạch với biểu hiện lâm sàng
máu, HbAa1C, thời gian mắc đái tháo đường, thời gian nhìn mờ, thị lực, bề dày võng mạc trung
Trang 5Biểu đồ 4 Khác biệt về nồng độ yếu tố
tăng sinh tân mạch theo phân độ bệnh
võng mạc đái tháo đường
Nồng độ yếu tố tăng sinh tân mạch thủy
dịch cao hơn đáng kể ở nhóm bệnh võng mạc
đái tháo đường tăng sinh so với nhóm bệnh
võng mạc đái tháo đường không tăng sinh
(p < 0,001)
Biểu đồ 5 Thay đổi nồng độ yếu tố tăng sinh tân mạch theo mức độ tăng huỳnh
quang vùng hoàng điểm
Có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về nồng độ yếu tố tăng sinh tân mạch thủy dịch giữa nhóm phù hoàng điểm tăng huỳnh quang cao và nhóm phù hoàng điểm tăng huỳnh quang thấp (p < 0,05)
Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kế về nồng độ yếu tố tăng sinh tân mạch trước tiêm giữa các hình thái phù hoàng điểm khác nhau (p > 0,05)
Trang 6Trước tiêm
Thị lực: 20/150
VEGF: 475,1 pg/ml
Độ dày: 650 µm
Sau tiêm Thị lực: 20/60 VEGF: 30,6 pg/ml
Độ dày: 198 µm
Hình 1 Kết quả trước và sau tiêm nội nhãn Bevacizumab của bệnh nhân nam, 56 tuổi,
phù hoàng điểm do đái tháo đường
IV BÀN LUẬN
Nồng độ yếu tố tăng sinh tân mạch thủy
dịch trước tiêm trung bình là 464,88 ± 383,02
pg/ml đã giảm xuống chỉ còn 20,29 ± 19,29
pg/ml sau tiêm nội nhãn 1 tuần Tiêm nội nhãn
Bevacizumab làm giảm nồng độ yếu tố yếu tố
tăng sinh tân mạch thủy dịch xuống gấp hơn
20 lần Kết quả tương tự cũng đã được công
bố bởi nhiều tác giả khác trên thế giới [4; 6; 8]
Sự khác biệt này cũng xảy ra ở từng nhóm
bệnh nhân phân loại theo tình trạng bệnh
võng mạc đái tháo đường, theo mức độ tăng
huỳnh quang vùng hoàng điểm, theo hình thái
học phù hoàng điểm (p < 0,001)
Nồng độ yếu tố tăng sinh tân mạch tăng
cả trong dịch kính và thủy dịch ở bệnh phù
hoàng điểm và bệnh võng mạc do đái tháo
đường tiến triển [1; 9] Nghiên cứu của chúng
tôi đo nồng độ yếu tố tăng sinh tân mạch trong
thủy dịch vì lấy mẫu thủy dịch thì dễ dàng và
an toàn hơn nhiều so với lấy mẫu dịch kính
Những nghiên cứu khác trên thế giới cũng đã
cho thấy tiêm nội nhãn thuốc kháng yếu tố
tăng sinh tân mạch làm giảm đáng kể nồng độ
yếu tố yếu tố tăng sinh tân mạch nội nhãn [4;
6; 8] Vai trò chính của nồng độ yếu tố tăng sinh tân mạch trong sinh bệnh học của bệnh nên điều trị mục tiêu nhắm vào nồng độ yếu tố tăng sinh tân mạch đã trở thành chiến lược điều trị trong phù hoàng điểm do đái tháo đường Tuy nhiên, phù hoàng điểm do đái tháo đường cũng như bệnh võng mạc đái tháo đường có cơ chế bệnh sinh là đa yếu tố và cực kỳ phức tạp Do đó, nhiều nghiên cứu trên thế giới vẫn còn đang được tiến hành nhằm tìm hiểu mối liên quan trong cơ chế bệnh sinh phức tạp của bệnh
Nghiên cứu chúng tôi cho thấy không có mối liên quan giữa nồng đồ yếu tố tăng sinh tân mạch trước tiêm với các thông số tuổi, đường máu, HbAa1C, thời gian mắc đái tháo đường, thời gian nhìn mờ (p > 0,05) Mức glucose máu hay HbA1C ngay tại thời điểm nghiên cứu không phản ánh hết được thực sự quá trình kiểm soát đường máu của bệnh nhân trong suốt quá trình diễn tiến lâu dài gây
ra biến chứng võng mạc do đái tháo đường
Trang 7Kết quả này phù hợp với những nghiên cứu
khác trên thế giới [5 - 9]
Về mối tương quan giữa nồng độ yếu tố
tăng sinh tân mạch với thị lực, bề dày võng
mạc trung tâm, thể tích hoàng điểm, trên thế
giới vẫn còn nhiều quan điểm chưa thống
nhất Đa số báo cáo trước đây cho rằng nồng
độ yếu tố yếu tố tăng sinh tân mạch nội nhãn
có tương quan với thị lực, bề dày võng mạc
trung tâm [1 - 3] Ngược lại, những kết quả
công bố mới gần đây lại cho thấy không có
mối tương quan giữa nồng độ yếu tố VEGF
với thị lực, bề dày võng mạc trung tâm nhưng
lại có mối tương quan giữa IL6, IL8, IL10,
PDGF,† với những thông số này [5 - 9]
Quan điểm mới trong cơ chế sinh bệnh học
của bệnh phù hoàng điểm cần kể đến vai trò
quan trọng của những cytokin gây viêm khác
và đưa ra khuyến cáo điều trị triamcinolone
nội nhãn cho một số trường hợp phù hoàng
điểm dai dẳng có cơ chế bệnh sinh không đáp
ứng điều trị với thuốc kháng nồng độ yếu tố
tăng sinh tân mạch [5 - 9]
Nồng độ yếu tố tăng sinh tân mạch thủy
dịch cao hơn đáng kể ở nhóm bệnh võng mạc
đái tháo đường tăng sinh so với nhóm bệnh
võng mạc đái tháo đường không tăng sinh
(p < 0,001) Kết quả này rất phù hợp với hầu
hết các nghiên cứu khác trên thế giới cho rằng
nồng độ yếu tố yếu tố tăng sinh tân mạch nội
nhãn có liên quan với độ nặng của bệnh võng
mạc đái tháo đường [1 - 3]
Nghiên cứu này cho thấy có sự khác biệt
có ý nghĩa thống kê về nồng độ yếu tố tăng
sinh tân mạch thủy dịch giữa nhóm phù hoàng
điểm tăng huỳnh quang cao và nhóm phù
hoàng điểm tăng huỳnh quang thấp (p < 0,05)
Hiện tượng tăng huỳnh quang cao vùng
hoàng điểm phản ánh sự dò rỉ huỳnh quang
do hàng rào máu võng mạc bị phá vỡ Sự tăng huỳnh quang thấp có thể là biểu hiện giai đoạn sớm, do đó giải thích có thể nồng độ yếu
tố tăng sinh tân mạch thấp ở giai đoạn sớm của bệnh là phù hợp [2; 3]
Báo cáo của Sonado và cộng sự năm (2014); của Kim và cộng sự (2015) đều cho thấy nồng độ yếu tố tăng sinh tân mạch không khác nhau giữa 3 loại hình thái học của phù hoàng điểm do đái tháo đường, chỉ có một số cytokine tiền viêm như IL6, IL8, PDGF có liên quan với hình thái học của phù hoàng điểm [7; 10] Nghiên cứu này cũng cho thấy không có
sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về nồng độ yếu tố tăng sinh tân mạch giữa các nhóm phù hoàng điểm phân loại theo hình thái học (p < 0,001)
V KẾT LUẬN
Nồng độ yếu tố tăng sinh tân mạch trong thủy dịch giảm đáng kể sau tiêm nội nhãn Bevacizumab ở bệnh phù hoàng điểm do đái tháo đường Mối liên quan giữa nồng độ yếu
tố tăng sinh tân mạch với các thông số lâm sàng giúp hiểu biết tốt hơn về vai trò của nồng
độ yếu tố tăng sinh tân mạch trong tiên lượng bệnh Tuy nhiên cần có những nghiên cứu xa hơn với cỡ mẫu lớn hơn để làm sáng tỏ vai trò của yếu tố yếu tố tăng sinh tân mạch trong cơ chế sinh bệnh học vẫn còn chưa rõ ràng của bệnh phù hoàng điểm do đái tháo đường
Lời cảm ơn
Nhóm nghiên cứu xin chân thành cảm ơn
Bộ môn Mắt, Trường Đại học Y Hà Nội, Lãnh đạo Bệnh viện Mắt Đà Nẵng, tập thể khoa Đáy mắt Bệnh viện Mắt Đà Nẵng đã giúp đỡ tạo điều kiện thuận lợi để chúng tôi hoàn thành
nghiên cứu này
Trang 8TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Funatsu H., Yamashita H., Noma H et
al (2005) Aqueous humor levels of cytokines
are related to vitreous levels and progression
of diabetic retinopathy in diabetic patients
Graefes Arch Clin Exp Ophthalmol, 243, 3 - 8
2 Funatsu H., Yamashita H., Nakamura
S et al (2006) Vitreous levels of pigment
epi-thelium-derived factor and care related to
dia-betic macular edema Ophthalmology, 113,
294 - 301
3 Funatsu H., Noma H., Mimura T et al
(2009) Association of vitreous inflammatory
factors with diabetic macular edema
Ophthal-mology, 116, 73 - 79
4 Costagliola C., Daniele A., dell'Omo R
et al (2013) Aqueous humor levels of
vascu-lar endothelial growth factor and adiponectin in
patients with type 2 diabetes before and after
intravitreal Bevacizumab injection Exp Eye
Res, 110, 50 - 54
5 Krizova L., Kalousova M., Kubena A
A et al (2015) Correlation of Vitreous
Vascu-lar Endothelial Growth Factor and Uric Acid
Concentration Using Optical Coherence
To-mography in Diabetic Macular Edema J
Oph-thalmol, 478509
6 Funk M., Schmidinger G., Maar N et al (2010) Angiogenic and inflammatory markers
in the intraocular fluid of eyes with diabetic macular edema and influence of therapy with
Bevacizumab Retina, 30, 1412 - 1419
7 Kim M., Kim Y., and Lee S J (2015)
Comparison of aqueous concentrations of an-giogenic and in fl ammatory cytokines based
on optical coherence tomography patterns of
diabetic macular edema Indian J Ophthalmol,
63, 312 - 317
8 Roh M I., Kim H S., Song J H et al (2009) Effect of intravitreal Bevacizumab
in-jection on aqueous humor cytokine levels in
clinically significant macular edema
Ophthal-mology, 116, 80 - 6
9 Selim K M., Sahan D., Muhittin T et al (2010) Increased levels of vascular
endothe-lial growth factor in the aqueous humor of
pa-tients with diabetic retinopathy Indian J
Oph-thalmol, 58, 375 - 9
10 Sonoda S., Sakamoto T., Yamashita
T et al (2014) Retinal morphologic changes
and concentrations of cytokines in eyes with
diabetic macular edema Retina, 34, 741 -
748
Summary VASCULAR ENDOTHELIAL GROWTH FACTOR IN AQUEOUS HUMOR
BEFORE AND AFTER INTRAVITREAL INJECTION OF BEVACIZUMAB
TREATING DIABETIC MACULAR EDEMA
To study the concentration of vascular endothelial growth factor (VEGF) from the aqueous
hu-mor before and after intravitreal injection of Bevacizumab in eyes with diabetic macular edema
(DME) and the correlation with the disease In this prospective, interventional case series, 1.25
mg of Bevacizumab was injected into the vitreous cavity to treat DME in 20 eyes Aqueous humor
samples were obtained before intravitreal injection of Bevacizumab and 1 week after VEGF
con-centration from 464.88 ± 383.02pg/ml decreased to 20.29 ± 19.29 pg/ml (p < 0.001) at 1 week
after injection There was no correlation between VEGF concentration with the age, diabetic
dura-tion, glycemia, HbA1C, vision loss time, best corrected visual acuity, central retinal thickness
Trang 9VEGF concentration was significantly higher in proliferative diabetic, hyperfluorescent DME There were no differences in levels of VEGF between groups according to the morphologic pat-tern Intravitreal injections of bevacizumab resulted in a substantial VEGF reduction The correla-tion between the VEGF concentracorrela-tion with the disease parameters provide a better understanding
of the role of VEGF in unclear pathogenesis of DME
Keyword: diabetes, macular edema, VEGF, Bevacizumab