Ebook 120 câu hỏi phòng chữa đục thủy tinh thể: Phần 2 trình bày các câu hỏi xoay quanh cách phòng và chữa trị các bệnh về đục thủy tinh thể do ngoại thương và đục thuỷ tinh thể kéo theo. Được trình bày dưới dạng hỏi đáp, để trả lời các vấn đề nguyên nhân gây bệnh, đặc trưng hình thái, cơ chế phát sinh phát triển bệnh, phương pháp chẩn đoán điều trị, biện pháp dự phòng và bảo vệ, một cách đơn giản, dễ hiểu với đại chúng.
Trang 1trọng đến việc phục hồi thị lực sau khi mổ Nhưng hiện nay bệnh nhân không cần phải lo lắng, vì bất kể tình huống nào dẫn đến tái phát đục thủy tinh thể (bao gồm sau khi phẫu thuật cắt bỏ ngoài nang cho đục thủy tinh thể do tuổi già, sau phẫu thuật đục thủy tinh thể do ngoại thương, sau phẫu thuật đục thủy tinh thể do bội nhiễm ), đều có thể dùng tia lade YAG để điều trị, phương pháp đơn giản, hiệu quả cao.
61 Sau khi cắt bỏ thủy tinh thể đục do tuổi già
có thể nhìn thấy không?
Bệnh nhân đục thủy tinh thể sau bao năm không nhìn thấy gì, hy vọng sau khi mổ sẽ thấy được ánh sáng, được sống và làm việc như lúc còn trẻ Nói chung, sau khi mổ cắ t bỏ thủy tinh thể đục
do tuổi già, đều có thể nâng cao thị lực ở một mức độ nhất định, có người còn có thể nhìn được như bình thường Nhưng cũng có một số bệnh nhân sau khi mổ thị lực không phục hồi được như mong muốn Đó là do 4 nguyên nhân sau:
(1) Bản thân m ắt bị bệnh, ngoài đục thủy tinh thể do tuổi già, còn có thể có thay đổi bệnh lý ở
bộ phận khác của nhãn cầu, như thể trong suốt
bị dục ảnh hưởng đến quan sá t đáy mắt, biến tính điểm vàng do tuổi già, võng m ạc bị bong, teo thần kinh thị giác w
132
Trang 2(2) Quá trình phẫu thuật không thuận lợi: Nếu thao tác phẫu thuật viên không thành thục, sẽ gây ra những chứng kéo theo không đáng bị, ảnh hưởng tới hiệu quả phẫu thuật Nếu trong lúc phẫu thuật gây tổn thương cho da trong của giác
m ạc, làm thể trong suốt thấm ra, khiến con ngươi
bị dịch lên phía trên, thể trong suốt lọt vào phòng trước sẽ làm con ngươi bị trở ngại, dẫn tới bệnh thong manh kế phát, ch ất da bị sót lại quá nhiều sau khi mổ sẽ gây ra đục sau khi mổ.
(3) Theo dõi, chăm sóc sau khi mổ không tốt:
Do trong lúc phẫu thuật đưa thiết bị vào ra phòng trước quá nhiều, sau phẫu thuật gây ra phản ứng mạnh dẫn đến phía sau con ngươi bị dính, thậm chí gây ra thong manh kế phát Chăm sóc sau khi mổ không tốt, phẫu thuật gây ra tổn thương cho m ắt làm thủy tinh thể bị xuất huyết hoặc do khâu vô trùng không ch ặt chẽ và các nguyên nhân khác gặp nhiễm trùng mắt.
(4) Chính m ắt bị bệnh có vấn đề: Nếu m ắt định mổ vốn bị cận thị nặng hoặc lung lay nhãn cầu bẩm sinh, khiếm khuyết màng m ạch hồng
m ạc, bị thong manh w thì sau phẫu thuật cũng
dễ sinh ra các chứng kéo theo làm thị lực không
được cải thiện.
Tóm lại, sau khi phẫu thuật cắt bỏ đục thủy tinh thể do tuổi già có thể lấy lại được ánh sáng
133
Trang 3hay không còn chịu sự ảnh hưởng của nhiều nhân tố, vì vậy phải căn cứ vào hoàn cảnh của mỗi người mà đưa ra các phân tích cụ thể Trước khi phẫu thuật phải kiểm tra tỉ mỉ thực trạng của thủy tính thể, võng m ạc, thần kinh thị giác để đưa ra các dự đoán dầy dủ về việc phục hồi thị lực sau khi mổ Ngoài ra, phải nắm chắc việc chăm sóc lúc mổ và sau mổ; sắp xếp bác sĩ có kinh nghiệm thực hiện phẫu thuật cũng là nhân
tố quan trọng quyết định bệnh nhân sau mổ có phục hồi dưực thị lực hay không.
do tuổi già phải chăm sóc như thế nào?
Phẫu thuật đục thủy tinh thể trước kia yêu cầu rất chặt chẽ về chăm sóc, thường bệnh nhân phải tuyệt đối nằm trẽn giường từ 7 - 10 ngày Do việc những năm gần đây phẫu thuật nội soi phát triển rất nhanh, nên mép khâu rất tốt, các chứng kéo theo do chăm sóc sau khi mổ giảm đáng kể, nhưng vẫn phải chú ý những điểm sau:
(1) Bệnh nhân đục thủy tinh thể do tuổi già phần lớn là những người già yếu, thường kèm theo nhiều bệnh khác như bệnh dộng m ạch vành, huyết áp cao, tiểu đường w , do vậy phải đặc biệt chú ý những thay dổi bệnh lý trên cơ thể sau khi phẫu thuật và dùng các thuốc điều trị thích
134
Trang 4hợp, khi cần thiết phải kết hợp với bác sĩ nội khoa để diều trị.
(2) Tránh hoạt động quá mạnh, cãn dặn bệnh nhân không được dùng sức để dụi mắt, với người
bị ho hoặc buồn nôn phải cho thuốc uống trị ho hoặc chống nôn.
(3) Sau khi mổ, dặn bệnh nhân nằm thẳng (người có xuất huyết tiền phòng trước có thể nửa nằm nửa ngồi), cố gắng để đầu óc nhẹ nhàng, tránh hoạt động quá nhiều ở phần đầu, hít thở tự nhiên, tránh h ắt hơi mạnh.
(4) Đo nhiệt độ, mạch, nhịp thở 1 lần/ngày, nếu thấy có sốt và vượt quá 38°c thì phải đo nhiệt độ
4 lần/ngày, tìm rõ nguyên nhân và xử lý thích hợp (5) Mắt bị bệnh sau khi mổ thường không đau, nếu đau quá nên chú ý xem có nhiễm trùng trong
m ắt hay không, nếu không có biểu hiện viêm trong m ắt thì có thể cho uống thuốc giảm đau phù hợp.
(6) Tốt nhất nên dùng nắp kim loại che m ắt bị
mổ lại để bảo vệ tròng m ắt, tránh va đập vào vết thương Thay thuốc 1 lần/ngày, chú ý xem m ắt bị
mổ có ch ất thải hay không, đường khâu có bị lỏng ra không.
(7) Trong 3 ngày dầu sau khi mổ nên ăn các
dồ ăn lỏng nhẹ, không ăn đồ cứng khó nhai, đồ
ăn kích thích, kiêng thuốc và rượu.
Trang 5(8) Tạo thói quen đại tiện 1 lần /ngày để đảm bảo duy trì đại tiện luôn thông suốt.
63 Sau khi phẫu thuật đục thủy tinh thể do tuổi già chọn kính mắt như thế nào là đúng?
Mắt cắt bỏ thủy tinh thể đục cũng giống như chiếc máy ảnh đã bị lấy m ất ống kính điều chỉnh tiêu cự, làm ảnh vật không thể rơi đúng võng
m ạc, nên không thể nhìn rõ các vật xung quanh, bởi vậy cần phải mang thấu kính lồi độ cao để thay thế cho thủy tinh thể (với người chưa dặt thủy tinh thể nhân tạo).
Sau khi mổ lúc nào có thể mang kính? Vết mổ nhãn cầu thường phải m ất 4 - 8 tuần mới khỏi hoàn toàn, khi vết sẹo ổn định, hiện tượng tán quang của giác m ạc do dường khâu tạo thành cũng không biến dộng nữa, do vậy người ta thường chọn thời điểm đeo kính vào khoảng 2- 3 tháng sau khi mổ Còn việc chọn số Điốp của lánh như thế nào là chính xác? Thường sau 3 tháng, bệnh nhân đến bệnh viện hoặc hiệu lánh để kiểm tra bằng m áy đo thị lực, rồi căn cứ vào độ chiết quang và mức độ tán quang mà lựa chọn kính
m ắt cho phù hợp Khi chưa có điều kiện kiểm tra bằng máy đo thị lực, có thể dựa vào công thức để tính toán rồi dùng thêm phương pháp thay kính
m ắt để chọn kính mắt Sau khi phẫu thuật, độ
Trang 6chiết quang của nhãn cầu giảm khoảng 10 - 14D, thường kèm theo độ tán quang là 1- 2D, trong hoàn cảnh không cận, không viễn thì nên theo độ số
đó mà tính toán Nếu trước khi phẫu thuật m ắt bị bệnh bị cặn thị hoặc viễn thị thì dùng công thức
để tính độ chiết quang Cách tính là lấy độ số lúc
đo cộng thêm 10 - 14D rồi chia đôi thì được số
độ của kính đeo Nếu bị cận thị 4D thì là 10D cộng với (-2)D = 8D, tức là mang kính cận 80 0 độ
là được Ngược lại nếu bị viễn thi 4D thì lấy 10D cộng với (+2)D = 12D, tức là phải mang kính viễn
1200 độ Công thức này được dùng tính cho kính nhìn xa, nếu để nhìn gần (đọc sách, viết w ) thì phải thêm 2 - 3D Để giảm bớt sự phiền hà cho phải thay kính thì có thể dùng kính hai tròng, phần trên m ắt kính có độ chiết quang nhìn ở cự
ly xa, còn phần bán nguyệt ở phía dưới dùng đọc sách và làm công việc khác ở cự ly gần, do vậy dùng loại kính này rất thuận lợi.
Đối với người bị đục thủy tính thể một bên, do
sau khi mang kính, độ to nhỏ của ảnh vật ở 2
m ắt chênh lệch rất lớn (với người bình thường chỉ
có thể chịu được độ chênh lệch của ảnh vật là 5%), ảnh vật trên võng m ạc của m át điều ehỉ.ih lớn hơn 20 - 30% so với m ắt thường, bởi vậy ảnh vật ở 2 m ắt không chập làm một làm người bệnh
bị hoa mắt, đau đầu Chính vì vậy, họ không thể mang kính m ắt bình thường được m à phải kiểm
Trang 7tra nghiêm ngặt bằng m áy đo thị lực rồi mới đến hiệu kính để đặt kính áp tròng Độ chiết quang của kính áp tròng thường thấp hơn so với kính thường 1 - 2D Do kính áp tròng tiếp xúc trực tiếp với giác m ạc, nên giữa kính và giác m ạc không
có một khoảng không như kính thường, nên mức chênh lệch ảnh vật ở 2 m ắt không lớn, vì vậy hầu hết bệnh nhân đều có thể khắc phục được nhược điểm của kính m ắt phổ thông, từ đó làm hình ảnh thu được của 2 m ắt trùng làm một.
do tuổi già?
Đục thủy tinh thể do tuổi già tuy không phải
là một loại bệnh lớn nhưng có thể làm cho thị lực suy giảm nghiêm trọng, ảnh hưởng đến sinh hoạt, học tập và công tác hàng ngày Đó cũng là một bệnh về m ắt thường gặp ở tuổi già Khi bị đục thủy tinh thể không nên căng thẳng về tư tưởng, nhưng cũng không dược coi thường, không chú ý tới Nhiều ví dụ thực tế cho thấy, lúc bĩnh thường
đã phải chú ý chăm sóc m ắt để tránh phát sinh đục thủy tinh thể, điều này có vai trò rất quan trọng đối với người già Biện pháp phòng tránh bao gồm những m ặt sau:
(1) Trị thẳng vào nguyên nhân gây bệnh: Nguyên nhân gây bệnh đục thủy tinh thể do tuổi già rất
Trang 8phức tạp, hơn nữa lại do nhiều nhân tố cùng gây
ra, như dinh dưỡng, trao đổi ch ất của thể trong suốt, chiếu xạ tia hồng ngoại, thay đổi nội tiết của người bệnh và các nhân tố môi trường w đều có ảnh hưởng rất lớn đến sự hình thành đục thủy tinh thể Do vậy, biện pháp đề phòng chủ yếu là tăng cường dinh dưỡng thích hợp, ăn nhiều hoa quả rau tươi, tránh chiếu xạ tia hồng ngoại, thường xuyên dùng thuốc nhỏ m ắt hoặc thuốc uống có lợi cho trao đổi chất của thủy tinh thể (như thuốc nhỏ mắt Glutathione, hoặc viên hoàng thảo dạ quang w ), với người bệnh do trao đổi chất hoặc do nội tiết cần phải kịp thời chữa trị (2) Lúc thường đã phải chú ý chăm sóc bảo dưỡng mắt: Do tính đàn hồi của thủy tinh thể của người già bị suy giảm, khả năng điều tiết của thể lông mi bị giảm yếu, nên khi xem sách hoặc viết lách lâu một chút là có thể làm cho nhãn cầu bị sưng đau, thậm chí khó chịu đau đầu Do vậy, phải khống chế thời gian đọc sách và xem ti vi một cách thích hợp, cứ cách 1 tiếng lại phải ra ngoài hoạt động hoặc để m ắt nghỉ ngơi 10 - 1 5 phút Vào buổi tối hoặc khi ánh sáng không được quá lâu, kết hợp hài hòa giữa đọc sách và vận động (3) Chú ý điều chỉnh độ chiết quang: Người già nếu có độ chiết quang của nhãn cầu không chuẩn như cận thị, viễn thị hoặc tán quang w thì phải
Trang 9đến bệnh viện để kiểm tra thị lực để mang kính viễn hoặc kính lão phù hợp nhằm tránh làm m ắt quá m ệt mỏi.
(4) Chú ý điều dưỡng trong sinh hoạt: ăn uống ngủ nghỉ phải có qui luật, tốt nhất nên xây dựng
kế hoạch làm việc, sinh hoạt học tập và phải thực hiện nghiêm chỉnh, chú ý kết hợp giữa lao động và vui chơi hợp lý Ngoài ra, còn phải chú ý chế ngự tinh cảm của bản thân, phải cởi mở (5) Chú ỹ sắp xếp ăn uống hợp lý: Ngoài qui luật ăn uống ba bữ a/ngày ra, người già còn phải chú ý ăn nhiều cá c đồ ăn giàu vitamin c, vitamin
D, hạn chế ăn dồ ăn nhiều dầu mỡ và quá mặn, kiêng rượu, thuốc lá, tránh ăn uống quá nhiều một lúc w
65 Thủy tình thể nhân tạo là gì?
Thủy tinh thể nhân tạo là một thấu kính đặc biệt được chế tạo từ các vật liệu tổng hợp nhân tạo như nhựa silic, thủy tinh, polymethacrylates Hình dáng, chức năng và độ chiết quang của nó đều giống như thủy tinh thể của con người Sau khi cắt bỏ thủy tinh thể bị dục, có thể lắp đặt thấu kính này vào trong m ắt thay cho thủy tinh thể đục làm ảnh vật tập trung được trên võng mạc, giúp người bệnh lại nhìn được rõ ràng các vật thể xung quanh.
Trang 10Kỹ thuật lắp đặt thủy tinh thể nhân tạo bắt đầu có tữ năm 1949, Ridley là người đầu tiên đặt thủy tinh thể nhân tạo kiểu hậu phòng vào trong
m ắt người Sau sử dụng trong lâm sàng hơn 40 năm, thủy tinh thể nhân tạo đã phát triển thành
3 loại cơ bản (gồm kiểu tiền phòng, hậu phòng và kiểu kép hồng mạc) và hơn 10 loại hình dáng thiết kế (như kiểu chân nhện, kiểu 3 vòng, kiểu 4 vòng và kiểu chữ “C” hoặc chữ “J ”, w.„) đồng thời
có loại thủy tinh thể nhân tạo một tiêu điểm, nhiều tiêu điểm và loại mềm, đã nâng cao đáng
kể hiệu quả trị liệu bằng phẫu thuật, giảm bớt bội nhiễm do phẫu thuật Ngoài ra, vật liệu thủy tinh thể nhân tạo và phương pháp phẫu thuật lắp đặt trong những năm gần đây đã có những tiến
bộ vượt bậc giúp phục hồi ánh sáng cho nhiều bệnh nhân đục thủy tính thể hơn.
66 Những loại đục thủy tinh thể do tuổi già nào sau khi phẫu thuật thích hợp với lắp đặt thủy tinh thể nhân tạo?
Mấy năm gần đây do sự phát triển rộng rãi của kỹ thuật mổ nội soi đục thủy tinh thể và đặt thủy tinh thể nhân tạo, nhiều người già sau khi cắt bỏ thủy tinh thể đục đều mong muốn dược
lắp đặt thủy tinh thể nhân tạo, để tránh phiền
hà phải mang kính sau khi mổ Nhưng dặt thủy
Trang 11tinh thể nhân tạo có những đòi hỏi thích hợp nghiêm ngặt,chứ không phải cứ cắt bỏ thủy tinh thể đục là đều có thể lắp dặt được Ngoài ra, đặt thủy tinh thể nhân tạo còn có thể gây ra các chứng kéo theo, do vậy sau khi cắt bỏ thủy tinh thể đục có dặt thủy tinh thể nhân tạo được hay không còn phải căn cứ vào thực tế của m ắt và toàn thân của mỗi người, cũng phải xem x é t đánh giá tổng hợp nhu cầu về thị lực của bệnh nhân Những người thích hợp đ ặt thủy tinh thể
nh ân tạo, sau khi cắt bỏ thủy tinh thể đục do tuổi già là:
(1) Người sau khi cắt bỏ thủy tinh thể đục do tuổi già nếu không bị các bệnh kéo theo đều có thể đặt thủy tinh thể nhân tạo.
(2) Người chi bị đục thủy tinh thể, còn cảm giác ánh sáng và định vị ánh sáng vẫn tốt, nhưng kiểm tra siêu B âm không thấy thủy tinh thể và võng m ạc bị thoát vị, lệch vị trí.
(3) Người không có bệnh biến ở võng m ạc do tuổi già, như điểm vàng bị biến tính, biến tính sắc tố võng mạc
(4) Người không có bệnh biến nghiêm trọng võng m ạc do bệnh tiểu đường và không có m ạch máu mới sinh ở hồng m ạc (nhưng với bệnh biến ở võng m ạc do bệnh tiểu đường ở giai đoạn tăng
Trang 12thực nói chung không thích hợp với phẫu thuật đặt thủy tinh thể nhân tạo).
(5) Người không bị tán quang do cận thị hoặc
Từ khi ra đờl đến nay, thủy tinh thể nhân tạo
đã trải qua 43 năm phát triển và qua các thời kỳ khác nhau Hơn 4 0 năn đã có những bước phát triển lớn trong việc thiết kế, hình dáng, vật liệu
143
Trang 13của thủy tinh thể nhân tạo cũng như kỹ thuật mổ mắt, đồng thời giới y học cũng đã tích lũy được một kho tàng kinh nghiệm lâm sàng phong phú Căn cứ vào vị trí đặt thủy tính thể nhân tạo trong mắt, hình dáng của khuyên đỡ, vật liệu làm và chức năng của thủy tinh thể nhân tạo w „, có thể chia thành những loại sau:
Phân loại theo vị trí đặt thủy tinh thể:
(1) Thủy tính thể nhân tạo loại tiền phòng: Nằm ở phía trước của hồng m ạc, khuyên đỡ cố định ở trong góc tiền phòng.
(2) Thủy tính thể nhân tạo loại kép hồng mạc: Gần giống với thủy tính thể nhân tạo loại tiền phòng, khuyên đỡ cố định ở trên hồng m ạc và rìa mép con ngươi.
(3) Thủy tính thể nhân tạo loại hậu phòng: Nằm ở phía sau hồng m ạc và con ngươi, gần giống với vị trí tự nhiên, khuyên đỡ nằm trong túi nang hoặc trong rãnh của thể lông mi Đây là thủy tính thể nhãn tạo được dùng rộng rãi nhất hiện nay.
Phân loại theo hình dáng của khuyên đỡ:
(1) Thủy tính thể nhân tạo kiểu 4 vòng: còn gọi là kiểu hình cánh hoa, thịnh hành vào thập niên 50, nhưng đường kính của vòng nhỏ, dễ thoát
vị nên luôn phải khâu cố định (xem Hình 35).
Trang 14Hình 3 5 Thủy tinh thể nhân tạo kiểu 4 vòng.
(2) Thủy tinh thể nhân tạo kiểu 3 vòng, 2 vòng: Là thủy tính thể nhân tạo được thiết kế sau thập niên 50, có nhược điểm là sau khi đặt vào trong m ắt thường dễ không ổn định, dễ dịch chuyển vị trí, phải dùng chỉ khâu để cố định (xem Hình 36).
Hình 3 6 Thủy tinh thể nhân tạo kiểu 2 vòng.
(3) Thủy tính thể nhân tạo dạng chân nhện và dạng huy chương: là loại thủy tính thể nhân tạo thường dùng của thập niên 50, do trọng lượng lớn, nên dễ bị thoát vị (thường rơi vào trong thể trong suốt) (xem Hình 37 và Hình 38).
Trang 15thể nhân tạo cải
tiến vào đầu những
lớn, khâu bám đỡ Hình 3 9 Thủy tính thể nhăn
ổn định nên không tạo hừih bán nguyệt
cần phải khâu cố
định (Hình 39).
Trang 16(5) Thủy tinh thể nhân tạo hình chữ “C” hoặc chữ: ”J ”, hoặc chữ “J ” cải hến: Là loại thủy tinh thể nhân tạo được dùng rộng rãi trong thập niên
70, có thiết kế hợp lý hơn, trọng lượng nhẹ, trục nhìn mỏng, độ chiết quang lớn, cố định tốt, ít thoát
Trang 17Phân loại theo vật liệu làm thủy tinh thể
nh ân tạo:
(1) Thủy tinh thể nhân tạo làm bằng thủy tinh phổ thông: độ trong cao, khả năng chiết quang mạnh, tính thích ứng trong m ắt tốt, là vật liệu làm thủy tính thể nhân tạo thường dùng của những năm 70.
(2) Thủy tinh thể nhân tạo bằng nhựa sỉlic: Dùng nhựa silic y khoa chuyên dụng để làm, có độ trong suốt cao, nhưng trục nhìn tương đối dày, khuyên thuỷ tính thể tương đối mềm nên nếu công nghệ chế tác không tốt sẽ có phản ứng m ạnh khi lắp dặt trong mắt.
(3) Thủy tính thể nhân tạo bằng nhựa đông lạnh y khoa: Là thủy tinh thể nhân tạo được dùng trong thập niên 50 - 60, có tính ổn định khi lắp đặt trong mắt nhưng tính thích ứng sinh học kém, nên hiện nay không còn dùng nữa.
(4) Thủy tính thể nhân tạo bằng polymethac- iylates (PMMA): Là vật liệu làm thủy tinh thể nhân tạo tương đối lý tưởng, được phát hiện sau những năm 70 Có trọng lượng nhẹ, độ trong suốt cao, không biến hình, tính ch ất hóa học ổn định, có tính chịu đựng tốt.
Phân loại theo chức năng sinh lý của thủy tính thể nhân tạo:
Trang 18(1) Thủy tinh thể nhân tạo một tiêu điểm: Chỉ
có 1 tiêu điểm của vật thể khi nhìn xa, nhưng khi nhìn gần phải có kính m ắt hỗ trự.
(2) Thủy tinh thể nhân tạo hai tiêu điểm: Có hai tiêu điểm cận và viễn, thuận tiện cho cả nhìn
xa, nhìn gần và đọc sách.
(3) Thủy tinh thể nhân tạo nhiều tiêu điểm: Thích hợp với các tía sáng có cự ly khác nhau, gần giống với chức năng điều tiết của thủy tính thể bình thường.
Ngoài ra còn có thủy tính thể nhân tạo chống tía hồng ngoại, thủy tinh thể nhân tạo lade, thủy tinh thể nhân tạo loại mềm w
68 Dùng thủy tinh thể nhân tạo có những ưu điểm gì?
Phẫu thuật đục thủy tinh thể hiện đại không chỉ đơn thuần là phẫu thuật cắt bỏ thủy tinh thể,
mà còn lắp đặt thủy tính thể nhân tạo loại tiền phòng hoặc hậu phòng sau khi đã cắt bỏ thủy tinh thể đục ngoài nang, nên dần dần khắc phục
được sự bất tiện do phải mang kính áp tròng hoặc thấu kính lồi dộ cao sau khi phẫu thuật Hiện nay, thủy tính thể nhân tạo phát triển đã có
nhiều kích cỡ và qui cách, đủ loại độ chiết quang khác nhau, vật liệu làm thủy tính thể nhân tạo
Trang 19cũng có những thay đổi lớn, trong đó polymethac- iylates (PMMA) được công nhận là loại thủy tinh thể nhân tạo tương đối lý tưởng có độ trong suốt rất cao, ổn định về sinh học, trọng lượng nhẹ, tính thích ứng trong m ắt tốt, có thể coi đã đạt được đến giai đoạn hoàn thiện về phương diện khống chế ch ất lượng và ứng dụng lâm sàng Hơn nữa, hiện nay giới nhãn khoa đả tích lũy được nhiều kinh nghiệm thành công phong phú So với dùng kính áp tròng và kính phổ thông, dùng thủy tinh thể nhân tạo có những ưu điểm sau:
(1) Vị trí giải phẫu hợp lý: Sau khi cắ t bỏ thủy tính thể đục ngoài nang, đật thủy tinh thể nhân tạo kiểu hậu phòng vào vị trí thủy tính thể trước kia (nhất là khi đặt vào trong túi nang), do phù hợp với vị trí sinh lý, nên khi thu được kết quả có thị lực tốt.
(2) Rút ngắn độ chênh lệch về ảnh vật của hai mắt: Sau khi cắt bỏ thủy tinh thể đục của một
m ắt, bệnh nhân phải mang kính lồi độ nặng, làm
2 mắt nhìn vật to nhỏ khác nhau, m ắt phẫu thuật nhìn thấy ảnh lớn, m ắt còn lại thì nhìn thấy ảnh vật nhỏ Nên độ lệch to nhỏ của ảnh vật 2 m ắt vượt quá 5% thì người bệnh sẽ không thể chịu đựng được, đại não không thể điều chỉnh làm cho
2 ảnh vật to nhỏ khác nhau đó thành 1 ảnh được,
vì vậy gây ra nhìn chồng hình, loạn thị, nhìn vật
Trang 20bị biến dạng hoặc tầm nhìn bị rút ngắn, người bệnh cảm thấy đau đầu hoa m ắt, thậm chí buồn nôn Sau khi đặt thủy tinh thể nhân tạo, do đặt đúng vào vị trí nên dã giảm bớt được sự chênh lệch của ảnh vật ở 2 mắt, khiến người bệnh có thị lực tương đối tốt sau khi phẫu thuật, tránh được nhược điểm phải mang kính.
(3) Có thể phục hồi được chức năng điều tiết ở một mức độ nhất định: Sau khi cắt bỏ thủy tinh thể dục, chức năng điều tiết nhìn của m ắt cũng
bị m ất theo, khi nhìn vật ở xa hay khi đọc sách, viết lách luôn phải mang kính 2 tròng, gây nhiều bất tiện cho bệnh nhân Sau khi loại thủy tinh thể nhân tạo nhiều tiêu điểm ra đời đã giải quyết được những vấn đề nói trên Khi lắp đặt thủy tinh thể nhân tạo loại này, bất kể là nhìn xa hay gần đều có thể thu được hình ảnh rõ nét, giống như
đã phục hồi được chức năng điều tiết của m ắt bình thường.
(4) Giảm bớt được sự phiền phức do phải mang kính áp tròng hoặc kính phổ thông: Sau khi phẫu thuật đục thủy tinh thể do tuổi già ở cả hai mắt, tuy có thể mang kính phổ thông hoặc kính áp tròng nhưng vẫn còn nhiều điểm bất tiện, nhất là người già, phần lớn phải mang kính áp tròng đều thấy không phù hợp, vì mỗi lần thay rửa, tự lắp đều dễ gây nguy hiểm như làm tổn thương giác
Trang 21m ạc, nhiễm trùng giác m ạc Sau khi lắp đặt thủy tinh thể nhân tạo sẽ tránh được những phiền toái nói trên, nên được nhiều người già hoan nghênh.
Đương nhiên, lắp đặt thủy tinh thể nhân tạo không phải là phương pháp hoàn toàn hoàn thiện, bản thân khâu phẫu thuật đã gây những bội nhiễm không tốt, có người sau khi mổ thị lực còn không được như mong muốn, các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả phẫu thuật cũng rất nhiều, hơn nữa không phải bất cứ bệnh nhân đục thủy tính thể nào cũng đều thích hợp với loại phẫu thuật này v ề vật liệu, hình dáng của thủy tinh thể nhân tạo, cũng như phương pháp phẫu thuật vẫn còn phải hoàn thiện một bước nữa.
đặt thủy tinh thể nhân tạo?
Thủy tinh thể nhân tạo đã có hơn 4 0 năm lịch
sử phát triển, đã trải qua hơn 10 vấn đề cải cách lớn như kiểu dáng, thiết kế, công nghệ chế tác, lựa chọn vật liệu, phương pháp phẫu thuật w nên đã thu được những kinh nghiệm phong phú Hiện nay việc phẫu thuật định hình đã rất thuần thục và tương đối hoàn thiện và có một số phương pháp phẫu thuật thường dùng sau:
(1) Phẫu thuật dặt thủy tinh thể nhân tạo loại tiền phòng: Thích hợp sau khi phẫu thuật trong
Trang 22nang cắt bỏ đục thủy ttnh thể thông thường, nứt
vỡ nang sau do ngoại thương hoặc thủy tinh thể thoát vị khi phẫu thuật trong nang cắt bỏ thủy tinh thể Cách làm là rạch mổ thông thường ở rìa mép củng m ạc, rồi đặt thủy tinh thể nhân tạo loại tiền phòng (phần lớn là kiểu huy chương hoặc kiểu 2 vòng) vào phía trước hồng mạc, khuyên
đỡ nằm ở trong góc của phòng trước.
(2) Phẫu thuật đặt thủy tính thể nhân tạo loại kép hồng m ạc: Tính thích ứng loại này cũng như phẫu thuật đặt thủy tinh thể nhân tạo loại tiền phòng, nhưng đòi hỏi rìa con ngươi và hồng mạc phải nguyên vẹn, không có tổn thương, vì thủy tinh thể nhân tạo loại này cố định trên rìa mép con ngươi, cách lắp đặt không có gì khác biệt lớn
so với loại tiền phòng.
(3) Phẫu thuật lắp dặt thủy tinh thể nhân tạo loại hậu phòng: Là phương pháp phẫu thuật thường dùng nhất hiện nay, thích hợp với hầu hết bệnh nhân sau khi phẫu thuật cắt bỏ thủy tinh thể đục
do tuổi già, với người còn nguyên vẹn màng nang sau khi bị đục thủy tinh thể do bẩm sinh hoặc ngoại thương, một số ca đục thủy tinh thể bội phát đều có thể thực hiện loại phẫu thuật này Phương pháp là mổ ở góc củng m ạc, rồi đặt thủy tinh thể nhân tạo loại hậu phòng vào phía sau hồng m ạc, khuyên đỡ nằm trong túi nang hoặc
Trang 23rãnh thể lông mi, trục nhìn của thủy tinh thể nhân tạo dặt ở giữa con ngươi.
(4) Phẫu thuật đặt thủy tinh thể nhân tạo mềm (phần lớn là thủy tính thể nhân tạo loại hậu phòng): Ưu điểm của nó là có thể thay đổi hình dạng, miệng vết mổ chỉ cần 3 - 5mm, hiện tượng tán quang giác m ạc sau khi mổ nhỏ, phục hồi thi lực tốt Cách làm là áp dụng kỹ thuật nhũ hóa thủy tinh thể bằng siêu âm lấy thủy tinh thể đục (giữ nguyên vẹn màng nang sau), sau đó dùng panh gắp thủy tinh thể chuyên dùng đặt thủy tinh thể và khuyên dở loại biến dạng vào trong phòng sau qua miệng mổ rất nhỏ.
(5) Phẫu thuật khâu thủy tính thể nhân tạo: Chi dùng cho phẫu thuật đặt thủy tinh thể nhân tạo trong một số hoàn cảnh đặc biệt, như khi cắt
bỏ thủy tinh thể đục do ngoại thương, nang sau
đã bị tổn hại hoặc khi cắt bỏ thủy tinh thể ngoài nang, làm nang sau bị rách không thể nào dặt thủy tinh thể nhân tạo loại hậu phòng vào theo cách bình thường w thì đều có thể thực hiện loại phẫu thuật này Cách làm là dùng chỉ khâu Polyme 9 - 0 hoặc 1 0 - 0 khâu cố định hai khuyên
đỡ thủy tinh thể vào rãnh của thể lông mi, chỉ khâu kéo từ ngoài củng m ạc ra Kỹ thuật mổ này đòi hỏi yêu cầu cao, bội nhiễm nhiều nên phải nắm vững các chứng thích ứng.
Trang 2470 Phẫu thuật đặt thủy tinh thể nhăn tạo có những chứng kéo theo (bội nhiễm) nào?
Phẫu thuật cắt bỏ ngoài nang đục thủy tính thể, đặt tính thể nhân tạo là loại phẫu thuật nội soi nhãn khoa mới, không những yêu cầu phẫu thuật viên phải thao tác khéo léo kỹ thuật mổ nội soi, mà còn phải chuẩn bị thiết bị máy móc
mổ nội soi đầy đủ, kính hiển vi phẫu thuật có tính năng tốt và có phương pháp hữu hiệu bảo vệ
da trong giác mạc Nếu không sẽ gây ra các chứng kéo theo sau phẫu thuật nghiêm trọng Tất nhiên, việc phát sinh các chứng kéo theo có liên quan
m ật thiết với nhiều nhân tố khác, như vật liệu của thủy tính thể nhân tạo, kiểu dáng của thủy tính thể nhân tạo, mức độ thành thạo của phẫu thuật viên, lựa chọn kiểu phẫu thuật, chất dùng kết dính trong khi mổ, chăm sóc sau khi mổ và điều kiện của m ắt bị bệnh w
Có một số chứng kéo theo thường gặp khi phẫu thuật đặt thủy tính thể nhân tạo như sau: (1) Chứng kéo theo trong khi mổ:
© Da trong giác m ạc bị tổn thương làm chất thực của giác m ạc bị phù thũng, viêm giác mạc dạng phồng rộp: Chủ yếu xảy ra khi cắt nang, phòng trước quá rộng nên bị kim cắt nang làm tổn thương hoặc do lúc rửa, đầu kim chạm vào gây tổn thương hoặc khi đặt thủy tinh thể nhân
155
Trang 25tạo, ch ất kết dính trong m ắt quá ít, làm thủy tinh thể nhân tạo cọ x á t với da trong của giác m ạc rồi gây tổn thương.
© Lớp đàn hồi sau giác m ạc bị bong: Là do kim cắt nang di vào lớp đế của giác m ạc hoặc do làm tổn thương lớp đàn hồi sau hoặc miệng vết
mổ quá nhỏ, người mổ đặt thủy tinh thể nhân tạo vào quá m ạnh làm lớp đàn hồi phía sau bị bong
ra Người bị nặng có thể bị phù thũng tầng chất thực của giác m ạc.
© Tổn thương hồng m ạc: Do thao tác không chuẩn xác khi rửa chất da hoặc do đặt thủy tính thể nhân tạo không tốt làm tổn thương các mô thượng bì sắc tố của giác m ạc, khiến nhiều sắc tố
bị bong ra, sau khi phẫu thuật có thể xuất hiện hiện tượng teo hồng m ạc cục bộ hoặc con ngươi
bị biến dạng, ảnh hưởng tới hiệu quả phẫu thuật.
© Phần gốc của hồng m ạc bị bong rời: Do khi kim cắt nang đưa vào miệng vết mổ không cẩn thận chọc rách hồng m ạc hoặc do khi đặt thủy tinh thể nhân tạo lại dùng lực không hợp lý gây
ra, khi đặt thủy tinh thể nhân tạo loại tiền phòng rất dễ bị.
© Rách màng nang sau, dịch thể trong suốt bị tràn ra: Thường xảy ra khi gắp nhân ra dùng lực không hợp lý, khi rửa ch ất da hút nhân màng nang sau hoặc do khi đặt thủy tinh thể nhân tạo
156
Trang 26làm tổn thương m àng nang sau, khiến dịch thể trong suốt bị thấm ra.
(2) Các chứng kéo theo sau khi mổ:
o Trong phẫu thuật đặt thủy tinh thể nhân tạo loại tiền phòng, có người bị tổn thương da trong giác mạc, sau khi mổ da trong có thể bị thay đổi, gây đục vĩnh viễn do giác mạc Do khuyên dở nằm ở góc tiền phòng, nên thường kích thích làm sinh ra các m ạch máu mới ở góc tiền phòng, làm cầu nhỏ bị tổn thương lớn, xung quanh khuyên đỡ
bị xơ hóa vv Phẫu thuật đặt thủy tinh thể nhân tạo kiểu kép hồng m ạc có thể dễ gây ra dính hồng m ạc, thoát vị thủy tinh thể Phẫu thuật đặt thủy tinh thể loại tiền phòng dễ gây viêm màng sắc tố, bệnh thong manh, chứng xuất huyết tiền phòng (hội chứng UGH).
© Phẫu thuật đặt thủy tinh thể nhân tạo loại hậu phòng dễ gây ra dính hồng mạc, con ngươi bị kẹp giữ, thủy tinh thể bị dịch vị trí (hội chứng
m ặt trời lặn) Khuyên đỡ làm tổn thương hồng
m ạc, thể lông mi, dây chằng treo thủy tinh thể, làm thể trong suốt bị chảy máu, cũng có một số bệnh nhân kéo theo chứng UGH, phù thũng dạng nang ở điểm vàng w
Do phương pháp phẫu thuật không ngừng được đổi mới theo sự phát triển của công nghệ chế tác
và vật liệu làm thủy tinh thể nhân tạo, bởi vậy
157
Trang 27những chứng kéo theo khi phẫu thuật đặt thủy tinh thể nhân tạo đã giảm rất nhiều so với trước kia Có trường hựp hoàn toàn có thể tránh được Nhưng người mới làm phẫu thuật này nên hết sức chú ý dề phòng gây ra các chứng kéo theo.
71 Sau khi phẫu thuật đặt thủy tinh thể nhân tạo có những nguyên nhân nào làm thị lực sút giảm?
Phẫu thuật cắt bỏ ngoài nang và dặt thủy tinh thể nhân tạo là loại phẫu thuật lấy lại ánh sáng cho bệnh nhân rất lý tưởng và phù hợp với giải phẫu sinh lý, hầu hết bệnh nhân sau khi phẫu thuật đều có thị lực tương đối tốt, không cần phải mang kính, thị lực vẫn có thể trên 0,5, thị lực cơ bản điều chỉnh được đến mức bình thường.
Nhưng cũng có một số bệnh nhân, sau khi phẫu thuật, thị lực phục hồi không được như mong muốn,
có người thậm chí còn kém hơn nhiều so với trước khi phẫu thuật Có nhiều nguyên nhân gây ra hiện tượng trên, như công nghệ chế tác, vật liệu làm thủy tinh thể nhân tạo, tính chuẩn xác tính toán
độ chiết quang trước khi phẫu thuật, mức độ thành thạo của phẫu thuật viên, trạng thái chức năng của m ắt bị bệnh (có bị cá c bệnh về m ắt ngoài đục thủy tinh thể không) và chăm sóc sau khi mổ
Có một số nguyên nhân thường gặp sau đây:
158
Trang 28(1) Sai lệch độ chiết quang do tính toán trước khi phẫu thuật: Trước khi đặt thủy tính thể nhân tạo, việc dầu tiên là đo 3 chỉ tiêu: độ chiết quang của giác mạc, độ dài của nhãn cầu và độ sâu của phòng trước, sau đó dùng công thức tính toán riêng để đưa ra độ chiết quang của thủy tính thể nhân tạo cần dùng Nói chung, m ắt bình thường (không cận không viễn) thì cần phải đặt thủy tinh thể nhân tạo có độ chiết quang 19,OD là được Với người bị cận thị thì phải giảm độ chiết quang, còn người bị viễn thị thì phải tăng số độ chiết quang Nhưng trong 3 chỉ tiêu nói trên, chỉ cần 1 chỉ tiêu sai thì độ chiết quang tính được theo công thức sẽ không chuẩn xác, khi đặt thủy tinh thể nhân tạo như vậy vào trong m ắt thì thị lực không điều chỉnh được như mong muốn; độ chiết quang sai lệch càng lớn thì thị lực càng kém (2) Phát sinh các bệnh kéo theo sau phẫu thuật: Phẫu thuật cắt bỏ và đặt thủy tính thể nhân tạo tuy là loại phẫu thuật thường gặp dể lấy lại ánh sáng cho người bệnh, nhưng nếu để phát sinh các chứng kéo theo do phẫu thuật cũng sẽ làm thị lực không tốt sau khi phẫu thuật Nếu trong khi phẫu thuật thao tác không cẩn thận làm tổn thương da trong giác mạc, gây viêm giác mạc dạng phồng rộp, tạo ra phù thũng vĩnh viễn tầng chất thực của giác m ạc, đặt thủy tinh thể nhân tạo loại tiền phòng gây ra viêm sắc tố, đặt thủy tính
Trang 29thể nhân tạo loại hậu phòng có thể gây kết dính phía sau hồng m ạc ở diện rộng, làm con ngươi bị kẹp giữ, thủy tinh thể bị thoát vị, viêm màng sắc
tố, bệnh thong manh và chứng xuất huyết tiền phòng (UGH), làm thị lực sau khi mổ không dược nâng cao, có trường hợp còn kém hơn hơn cả trước khi mổ.
(3) Đục màng nang sau thủy tinh thể: Đục màng nang sau do cắt bỏ đục thủy tinh thể ngoài nang cũng là nhân tố thường gặp ảnh hưởng tới thị lực sau khi mổ Bệnh nhân luồn cảm thấy lúc đầu thị lực rất tốt, nhưng sau một thời gian ( 1 - 3 tháng sau khi mổ) dần dần sẽ cảm thấy trước m ắt như
có một lớp sương mù, thị lực giảm dần Kiểm tra bằng đèn rọi có thể thấy màng nang sau bị đục màu trắng xám , không nhìn rõ được đáy mắt Có thể dùng tia lade YAG để phẫu thuật cắt bỏ màng nang sau, thị lực sẽ phục hồi ngay sau khi mổ (4) Tán quang do đường khâu gây ra: Phần lớn
là do thao tác của phẫu thuật viên không thành thạo, đường khâu lỏng chặt không đều, cự ly và khoảng cách các mũi khâu không hợp lý làm mép
mổ không khít hoặc mép mổ quá lệch vẻ phía giác mạc rồi gây ra tán quang Nếu tán quang có qui tắc thì sau khi mổ có thể điều chỉnh bằng cách đeo kính: nếu tán quang không có qui tắc là nguyên nhân hạ giảm thấp thị lực vĩnh viễn.
Trang 30(5) Bị bệnh biến ở võng mạc thể trong suốt: Trước khi phẫu thuật cắt bỏ thủy tinh thể đục thường phải kiểm tra cảm giác ánh sáng, khả năng
• định vị ánh sáng, nếu cảm giác ánh sáng và định
vị ánh sáng không chuẩn xác thì thị lực sau khi phẫu thuật sẽ không nâng cao được như mong muốn, bởi vậy nên khuyên bệnh nhân không cần thực hiện loại phẫu thuật này Nếu trước khi mổ thấy, m ắt bị bệnh có bệnh biến ở võng mạc hoặc
bị đục thể trong suốt (như biến tính điểm vàng do tuổi già, phù thũng điểm vàng dạng nang, teo võng mạc w.„) thì dù phẫu thuật rất thành công, nhưng sau phẫu thuật thị lực vẫn không nâng cao được
Do đó, ở những khâu cuối trước khi mổ mắt, nếu hoài nghi có các bệnh biến hoặc trước kia đã bị bệnh ở đáy m ắt thì phải kiểm tra kỹ lưỡng thể trong suốt và võng m ạc (có thể kiểm tra sinh lý
m ắt bằng diện siêu âm).
72 Vì sao có trường hợp sau khi đặt thủy tinh thể nhân tạo lại đọc sách vẫn không rõ?
Có một số người già hỏi: Sau khi cắt bỏ thủy tính thể đục và đặt thủy tính thể nhân tạo, vì sao
nhìn vật ở xa (như xem phim, tivi ) thì rõ, nhưng
khi tôi đọc sách báo, viết lách lại nhìn không rõ?
Để trả lời câu hỏi này phải biết có vấn đẻ có liên quan với vị trí của thủy tính thể trong m ắt và chức năng sinh lý của nó Chúng ta đều biết, thủy
Trang 31tinh thể bình thường có thể biến hình thành lồi hoặc phẳng tùy theo độ xa gần của vật thể để điều tiết độ chiết quang của mắt, làm ảnh vật rơi đúng trên võng mạc; vì vậy dù nhìn vật thể ở xa hay gần cũng đều rất rõ ràng Sau khi đặt thủy tinh thể nhân tạo, do độ chiết quang của m ắt không thể thay đổi được theo cự ly của vật thể (vì độ chiết quang của thủy tinh thể nhân tạo cố định không thay đổi) Thông thường người ta chọn độ chiết quang nhìn vật ở xa, vĩ vậy khi nhìn vật thể ở gần (đọc sách, viết lách w ) không thể nhìn rõ được, và khi đọc sách viết chữ vẫn phải mang kính mắt Trong những năm gần đây, thủy tinh thể nhân tạo được các bệnh viên lớn lắp đặt đều là thủy tinh thể nhân tạo một tiêu điểm, chỉ chuyên thiết kế để nhìn vật ở xa Theo tốc độ cải tiến không ngừng của công nghệ chế tác thủy tinh thể nhân tạo, nhiều nước đã sản xuất các thủy tinh thể hai tiêu điểm, nhiều tiêu điểm, giúp chức năng của thủy tinh thể nhân tạo ngày càng gần với thủy tinh thể bĩnh thường của con người Sau khi lắp đặt loại thủy tinh thể này, bất kể là nhìn xa hay nhìn gần đều có thể thu được hình ảnh rõ nét, khắc phục được nhược điểm của thủy tinh thể nhân tạo một tiêu điểm Nhưng hiện nay công nghệ làm thủy tinh thể nhân tạo này rất phức tạp, giá cả còn cao, phải cải tiến không ngừng và hoàn thiện trong thực tiễn lâm sàng.
Trang 3273 Sau khi đặt thủy tinh thể nhân tạo có phải mang kính không?
Thủy tinh thể nhân tạo là kỹ thuật mới đang phát triển, tuy vậy nâng cao thị lực sau khi mổ vẫn còn chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố Sau khi đặt thủy tinh thể nhân tạo có phải mang kính hay không còn phụ thuộc vào hoàn cảnh cụ thể Trước khi làm phẫu thuật, trước tiên phải đo
độ sâu của phòng trước, chiều dài của trục mắt,
độ chiết quang của giác mạc để tính toán ra độ chiết quang của thủy tinh thể nhân tạo Nếu đo hoặc tính toán sai, độ chiết quang của thủy tinh thể nhân tạo lắp đặt lớn hoặc nhỏ hơn dộ số cần đặt đều ảnh hưởng rất lớn đến thị lực Ngoài ra khí phẫu thuật miệng mép mổ giác mạc, mức độ lỏng chặt và số mũi khâu nhiều hay ít đều có thể gây ra hiện tượng giác m ạc tán quang không có qui tắc sau khi phẫu thuật, ảnh hưởng tới việc nâng cao thị lực Do vậy, hiện nay người ta chủ trương mở mép mổ ở củng mạc, thực hiện mổ hình bậc thang, để giảm bớt hiện tượng tán quang sau khi mổ Ngoài ra trình độ thao tác của phẫu thuật viên thấp, thủy tinh thể bị dặt nghiêng lệch vị trí w đều có thể ảnh hưởng tới thị lực sau khi mổ Nói chung, nếu có thể tránh được những nhân tố nói trên thì thị lực sau khi đặt thủy tinh thể nhân tạo có thể dạt được mức bĩnh thường, không cần phải mang kính mắt Nếu
Trang 33sau khi đặt thủy tính thể nhân tạo mà thi lực không được như ý thì phải tìm rõ nguyên nhân, ngoài các nhân tố của bệnh biến ở đáy m ắt ra,
do sai lệch số độ chiết quang của thủy tính thể nhân tạo hoặc do tán quang của đường khâu ở giác m ạc làm giảm thị lực thì 3 tháng sau khi mổ nên kiểm tra bằng máy đo thị lực, kết hợp đeo kính để điều chỉnh, c ầ n phải biết, ngoài thủy tinh thể nhân tạo nhiều tiêu điểm ra, các loại thủy tính thể nhân tạo còn lại chỉ thích hợp cho nhìn
vật ở xa, khi nhìn vặt ở gần như xem sách báo,
viết lách vv người già vẫn phải mang kính lão.
tinh thể nhân tạo?
Sau khi phẫu thuật đặt thủy tinh thể nhân tạo, thị lực sẽ được cải thiện lập tức, từ mờ lòa bệnh nhân lại nhìn thấy ánh sáng, khiến họ vui mừng không tả xiết Nhưng có người chỉ sau vài tháng thị lực của họ lại suy giảm, thậm trí bị các bội nhiễm nghiêm trọng, hiện tượng đó là do nguyên nhân gì?
Hiện tượng này chủ yếu là do việc giám sát chăm sóc sau khi mổ không đầy đủ, nên đã bỏ mất thời cơ cứu vãn, gây ra hậu quả nghiêm trọng Sau khi đặt thủy tính thể nhân tạo, nói chung người bệnh phải chú ý những vấn đề sau:
Trang 34(1) Trước tiên phải chú trọng về tư tưởng, không nên cho rằng đã làm phẫu thuật là mọi sự đều tốt Thủy tinh thể nhân tạo đặt trong mắt suy cho cùng vẫn là một dị vật, nếu không chú ý theo dõi và bảo vệ chăm sóc dễ dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng.
(2) Trong vòng 1 tuần sau khi đặt thủy tinh thể nhân tạo, phải chú ý xem mắt được phẫu thuật có đau không, thủy tinh thể nhân tạo có bị đặt lệch hoặc thoát vị không, phần phía trước của m ắt có
bị viêm không, con ngươi có bị dính không.
(3) Trong vòng 1 tháng sau khi phẫu thuật, hàng tuần vẫn phải tới bệnh viện để kiểm tra 1 lần, bao gồm theo dõi thị lực, quan sát phần phía trước
(6) Trong ăn uống phải ăn ít, không ăn các thức kích thích như ớt, hành, đồng thời kiêng rượu, thuốc lá.
Trang 35(7) 3 tháng sau khi mổ phải đến bệnh viện kiểm tra theo qui định thông thường và kiểm tra bằng máy đo thị lực bằng máy vi tính, người có
dộ chiết quang thay đổi thì phải mang kính để điều chỉnh Sau 3 tháng thủy tinh thể nhân tạo
đã tương đối ổh định, có thể tham gia học tập và công tác bình thường.
75 Thực trạng phát triển thủy tinh thể nhân tạo hiện nay như thế nào?
Như trên dã nói, ngay từ 1949 nước ngoài đã sản xuất ra thủy tính thể nhân tạo tương đối hoàn thiện và đã tích lũy được các kinh nghiệm lâm sàng phong phú Việt Nam triển khai phẫu thuật lắp đặt thủy tính thể nhân tạo muộn hơn
40 năm so với nước ngoài Nhưng trong 10 năm trở lại đây, do thực hiện chính sách đổi mới, sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật, cho nên phẫu thuật thủy tinh thể nhân tạo của nước ta cũng dã
có những bước phát triển vượt bậc, khoa m ắt của nhiều bệnh viện đả lắp đặt kính hiển vi phẫu thuật và đã triển khai phẫu thuật nội soi, mà tiêu biểu là lắp đặt thủy tính thể loại phòng sau, đã thu được những kết quả tốt Một số bệnh viện Trung ương đà triển khai phẫu thuật lắp đặt thủy tính thể nhân tạo và đá đạt được đẳng cấp Quốc
tế về máy móc phẫu thuật, thao tác khéo léo và
Trang 36xử lý sau khi mổ tốt, nên các chứng kéo theo sau phẫu thuật cũng giảm dần v ề nguồn gốc của thủy tinh thể nhân tạo, hiện nay vẫn phải nhập khẩu, nên giá thành vẫn còn đắt.
76 Trong phẫu thuật và thiết kê' thủy tinh thể nhân tạo, thế giới có những bước phát triển mới như thế nào?
Phẫu thuật thủy tinh thể nhân tạo ở nước ta
đã qua thăm dò tìm tòi lâm sàng chục năm, kỹ thuật lắp đặt thủy tinh thể nhân tạo đã trở thành một kỹ thuật cấy ghép hoàn chỉnh, là kỹ thuật có hiệu quả lý tưởng nhất trong lĩnh vực cấy ghép các cơ quan nhân tạo hiện nay Phương pháp phẫu thuật đơn giản, tính thích ứng với các mô tốt, sau khi mổ thị lực được điều chinh phù hợp với trạng thái sinh lý, giá vật liệu rẻ, lệ phí phẫu thuật thấp, do vậy nó đã được hầu hết các bệnh nhân đục thủy tính thể hoan nghênh Những năm gần đây, trên thế giới đã có những tiến bộ rất lớn về vật liệu, kiểu dáng, thiết kế, công nghệ gia công
và phương pháp phẫu thuật lắp đặt thủy tính thể nhân tạo, chủ yếu thể hiện ở những m ặt sau:
(1) Thay đổi cải tiến hình dáng thủy tính thể nhân tạo: Sau thập niên 70 thủy tính thể nhân tạo nước ngoài lắp đặt chủ yếu là loại khuyên hình chữ “C” hoặc chữ "J ”, có trọng lượng nhẹ.
Trang 37trục nhìn mỏng, độ chiết quang lớn, cố định tốt, khó thoát vị Sau thập niên 80, đã sản xuất được thủy tinh thể nhân tạo mềm, thủy tinh thể nhân tạo lồi 2 mặt, thủy tinh thể nhân tạo hình bầu dục vv phần lớn đều chế tạo bằng nhựa silic y khoa, có tính dẻo cao, sau khi đặt vào m ắt lại trở
về hĩnh dáng bĩnh thường, miệng vết mổ nhỏ, hiện tượng tán quang sau mổ ít, thị lực phục hồi tốt (2) Thay dổi về tiêu điểm và độ chiết quang của thủy tính thể nhân tạo: Trước kia, loại cỡ thủy tính thể nhân tạo rất ít, phần lớn là loại một tiêu điểm, nên phạn vi ứng dụng bị hạn chế ở một mức độ nhất định Nhưng những năm gần đây không có chỉ kích cờ và độ chiết quang phong phú mà thế giới đã đưa ra thủy tính thể nhân tạo hai tiêu điểm, nhiều tiêu điểm Khi đặt thủy tính thể nhân tạo loại này vào trong m ắt rất hợp với yêu cầu sinh lý của mắt, nhìn vật thể xa hay gần đều thu được hình ảnh rõ nét, giống như đã phục hồi được khả năng điều tiết của một thủy tinh thể bĩnh thường, nên dỏng đảo bệnh nhân dục thủy tính thể chọn dùng.
(3) Cải tiến vật liệu thủy tính thể nhân tạo: Hiện nay, vật liệu dể làm thủy tính thể nhân tạo vẫn là Polymethacrylates (PMMA), còn khuyên tinh thể chủ yếu là dùng Polyme làm nguyên liệu, tuy vẫn có một số bệnh nhân sau khi phẫu thuật vẫn
Trang 38phản ứng mạnh, bị dính phía sau hồng mạc, gây ảnh hưởng xấu tới hiệu quả phẫu thuật Mấy năm gần đây, có người đã dùng thủy tinh thể nhân tạo
xử lý qua Heparin, nguyên liệu làm khuyên thủy tinh thể nhân tạo vẫn là PMMA, ngoài ra còn có loại thủy tinh thể nhân tạo cản tia hồng ngoại w.„, nên đã giảm bớt được phản ứng sau phẫu thuật
và nâng cao được hiệu quả phẫu thuật.
(4) Cải tiến về phương pháp phẫu thuật: Phẫu thuật lắp đặt thủy tinh thể nhân tạo hoàn toàn được thực hiện dưới kính hiển vi, chỉ cần 20 - 30 phút là có thể hoàn thành ca mổ Hiện nay người
ta hoàn toàn sử dụng kiểu phẫu thuật cắt bỏ ngoài nang để lắp đặt thủy tinh thể nhân tạo, vị trí đặt thủy tinh thể cũng được cải tiến từ chỗ đặt
vào rãnh của thể lông mi dến chỗ đặt ở trong túi
nang nên đã tiếp cận gần hơn với vị trí giải phẫu học của thủy tinh thể thật, đồng thời người ta cũng có những cải tiến tinh vi về kỹ thuật rửa màng, lấy nhân, cắt nang Ngoài ra, việc cắt bỏ thủy tinh thể đục trong những năm gần đây có xu hướng mở miệng vết mổ nhỏ, ứng dụng kỹ thuật nhũ hóa bằng siêu âm để cắt bỏ, nên chỉ cần miệng vết mổ khoảng 3mm, sau đó đặt thủy tinh thể nhân tạo mềm qua miệng vết mổ nhỏ này Còn có một khuynh hướng cải tiến mổ hĩnh bậc thang ở củng m ạc Ưu điểm của hai loại miệng vết mổ này là hiện tượng tán quang sau khi phẫu
Trang 39thuật ít, thị lực được điều chỉnh tốt, nâng cao được hiệu quả phẫu thuật Vào cuối thập niên 80, trên thế giới con phát triển kỹ thuật treo thủy tinh thể nhân tạo, dùng chỉ Polypropylen khâu cố định hai khuyên đỡ của thủy tính thể nhân tạo vào thể lông mi Phương pháp này phù hợp với các ca bệnh đục thủy tinh thể do ngoại thương, không có nang sau hoặc rách nang sau do phẫu thuật cắt bỏ thủy tính thể đục do tuổi già và mở
ra một con đường mới cho phẫu thuật thủy tính thể nhân tạo.
Trang 40ĐỤC THỦY TINH THE DO
NGOẠI THƯƠNG
77 Đục thủy tinh thể do ngoại thương là gì?
Chúng ta đều biết, bất kể vì nguyên nhân nào, chỉ cần thủy tinh thể vốn trong suốt xuất hiện những vẩn đục, ảnh hưởng tới thị lực, thì đều gọi
là đục thủy tinh thể Đục thủy tinh thể do ngoại thương là loại đục.thủy tinh thể ở các mức độ khác nhau do nhãn cầu bị tác dộng từ bên ngoài, bao gồm bị thương do va đập, do xuyên thủng, có dị vật trong mắt, bị thương do phóng xạ, điện giật w gây tổn hại cho chất da và nang của thủy tinh thể, từ đó làm giảm thấp độ trong suốt hoặc làm thủy tình thể bị đục hoàn toàn.
Hiện tượng đục này có thể do nước của phòng thủy lọt vào lớp chất thực bên trong của thủy tình thể, từ đó gây ra phù thũng; cũng cỏ thể do các
mô bị tổn thương, biến tính hoặc thành sẹo gây
ra Trong dó đục thủy tinh thể ngoại thương do va đập cơ học là loại thường gặp nhiều nhất Các
IV