1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Ghép ruột, lịch sử phát triển, chỉ định, kỹ thuật và triển vọng (Tổng quan)

6 66 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 401,96 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Báo cáo dưới đây xin điểm lại một số vấn đề chính liên quan tới ghép ruột, bao gồm: Lịch sử phát triển của ghép ruột, Chỉ định và các mô hình kỹ thuật ghép ruột và triển vọng của ghép ruột.

Trang 1

GH P RU T ỊCH S PHÁT TRIỂN, CH ĐỊNH,

THUẬT VÀ TRIỂN VỌNG Tổng quan

Nguyễn Văn Xuyên*; Lê Thanh Sơn*

TÓM TẮT

Mục tiêu: cập nhật tình hình ghép ruột trên thế giới về lịch sử phát triển, chỉ định, các mô

hình kỹ thuật và triển vọng Kết quả: ghép ruột được chỉ định cho bệnh nhân (BN) bị suy/mất chức năng ruột vĩnh viễn, có các biến chứng nặng liên quan tới nuôi dưỡng đường tĩnh mạch

Có 4 mô hình kỹ thuật mổ ghép ruột với những lựa chọn chỉ định tương ứng Thách thức lớn nhất trong ghép ruột là chống thải ghép và chống nhiễm trùng Kết luận: ghép ruột là một thành tựu lớn của y học thế giới và đang ngày càng phát triển Để tiến tới triển khai ghép ruột, cần có

kế hoạch phát triển lâu dài và đồng bộ nhiều chuyên khoa liên quan

* Từ khóa: Ghép ruột

Intestinal Transplantations: History, Indications and Prospects (Review)

Summary

Objectives: Update intestinal transplantations on history of development, indications, models of techniques and prospects Results: Intestinal transplantations are indicated to intestinal failures with severe complications of total parenteral nutrition There are 4 technical models with respective indications The most challenges of intestinal transpaltations are rejection and infection post transplants Conclusion: Intestinal transplantations is a great achievement of medicine Progressive to perform intestinal transplant needs long-term and synchronous plans of developing related specialists

* Key word: Intestinal transplantation

ĐẶT VẤN ĐỀ

Ghép tạng là một trong 12 phát minh

khoa học vĩ đại nhất của nhân loại trong

thế kỷ 20 Trên thế giới, ghép tạng đã

phát triển hết sức mạnh mẽ Đây được

coi là phương pháp điều trị cuối cùng cho

các cơ quan bị bệnh mà không thể điều

trị bằng thuốc Việt Nam cũng có nhiều

tiến bộ vượt bậc trong phát triển ghép tạng

Khoảng cách về trình độ ghép tạng của chúng ta so với thế giới đang được rút ngắn dần Hiện nay, Việt Nam đã tiến hành hàng trăm ca ghép thận, hàng chục

ca ghép gan, nhiều ca ghép tim và bắt đầu ghép đa tạng tụy, thận [1] Nhu cầu phát triển ghép tạng tại nước ta còn rất lớn với nhiều kỹ thuật khó và phức tạp như ghép phổi, ruột, chi thể

* Bệnh viện Quân y 103

Người phản hồi (Corresponding): Lê Thanh Sơn (ltson103@gmail.com)

Ngày nhận bài: 14/04 ; Ngày phản biện đánh giá bài báo: 28/06/2015

Ngày bài báo được đăng: 06/07/2015

Trang 2

Ghép ruột được thực hiện đầu tiên trên

thế giới vào năm 1964, tại Boston (Mỹ)

Miễn dịch thải ghép trong ghép ruột hết

sức phức tạp, cùng với nhiễm trùng sau

mổ là nguyên nhân chính khiến loại ghép

này còn ít phát triển

Hiện nay, nhờ tiến bộ trong lĩnh vực

miễn dịch, dược học điều trị miễn dịch

chống thải ghép đã trở thành chỗ dựa

quan trọng cho ghép tạng nói chung và

ghép ruột nói riêng phát triển

Báo cáo dưới đây xin điểm lại một số

vấn đề chính liên quan tới ghép ruột,

bao gồm:

- Lịch sử phát triển của ghép ruột

- Chỉ định và các mô hình kỹ thuật

ghép ruột

- Triển vọng của ghép ruột

ỊCH S PHÁT TRIỂN CỦ GH P RU T

Ý tưởng về ghép tạng của loài người

có từ rất sớm Từ thời cổ đại, tượng nhân

sư đã xuất hiện ở các kim tự tháp Ai Cập

cổ đại hay nhân mã có trong thần thoại

Hy Lạp

Cũng như các ghép tạng khác, nền

móng phát triển ghép ruột thực sự bắt

đầu với kỹ thuật khâu nối mạch máu của

Carrel Từ 1959, ghép ruột thực nghiệm

trên lợn được Lillehei và CS thực hiện tại

Bệnh viện §ại học Minnesota, Mỹ Đến 1964,

Deterling ở Boston thực hiện ca ghép ruột

đầu tiên, nhưng không có công bố Năm

1967, ca ghép ruột đầu tiên được Lillehei

công bố Cho tới trước 1970, toàn thế

giới mới chỉ có 8 ca ghép ruột non được

thông báo với thời gian sống thêm của

ruột ghép không quá 79 ngày, tất cả BN chết do tai biến kỹ thuật, biến chứng nhiễm trùng và thải ghép Ngay từ giai đoạn này, miễn dịch thải ghép và nhiễm khuẩn là những thách thức lớn nhất của ghép ruột

Năm 1988, Deltz tại Kiel, Đức mới thực hiện được ca ghép ruột thành công đầu tiên trên người khi thời gian sống và hoạt động chức năng của ruột ghép vượt quá 1 năm Ngay sau đó, một loạt thành công của Goulet (Pháp), Grant ( nh) được thông báo

Có thể nói, tiến bộ trong điều trị miễn dịch chống thải ghép là “bệ phóng” quan trọng cho phát triển ghép tạng nói chung, trong đó có ghép ruột Nhiều tài liệu khoa học đã căn cứ vào các thế hệ thuốc ức chế miễn dịch đã phân chia giai đoạn phát triển lịch sử ghép tạng Có 4 giai đoạn chính như sau:

- Thời kỳ khởi đầu (1970 - 1980): là thời

kỳ sử dụng azathioprine và prednisone Hiệu quả ức chế miễn dịch của azathioprine còn thấp nên người ta thường phải kết hợp với liều lượng lớn prednisone Tác dụng phụ của corticoid liều cao, kéo dài khiến biến chứng nhiễm trùng và xì rò các miệng nối rất phổ biến ở giai đoạn này, gây khó khăn lớn cho ghép tạng

- Thời kỳ thứ 2 (1980 - 1990): là thời

kỳ của cyclosporine Sự ra đời thuốc cyclosporine với tác dụng chống thải ghép tốt, giúp giảm liều prednisone kết hợp đã

mở ra cơ hội ứng dụng nhiều kỹ thuật ngoại khoa mới trong ghép tạng Chính trong thời kỳ này, ghép đa tạng đã bắt đầu

Trang 3

với ghép tim, phổi năm 1981 Ghép đa tạng

trong ghép ruột cũng được Grant thực hiện

(1988) với ghép gan, ruột Trong khoảng

1985 - 1990, có tổng số 15 ca ghép ruột

non đơn thuần được sử dụng cyclosporine

chống thải ghép mang lại kết quả rất khả

quan với thời gian sống của ruột ghép từ

10 ngày - 49 tháng

- Thời kỳ thứ 3 (1990 - 2000): thời kỳ

của tacrolimus Tacrolimus có nhiều ưu

điểm trong điều trị chống thải ghép, đặc

biệt giúp giảm liều phối hợp của corticoid

hơn so với cylosporine Việc sử dụng

tacrolimus còn có thể cắt giảm việc sử

dụng globulin kháng lympho (antilymphocyte

globulin - ALG) vốn là thuốc tiêu chuẩn

trong phác đồ chống thải ghép trước đây

Nguy cơ nhiễm trùng, xì rò miệng nối giảm

Từ đó, mở ra nhiều cơ hội cho nhiều kỹ

thuật ngoại khoa được ứng dụng Cũng ở

giai đoạn này, ghép ruột trong ghép đa

tạng và đa phủ tạng đã được thực hiện

- Giai đoạn hiện nay: nhiều thuốc ức

chế miễn dịch tốt được sử dụng đã góp

phần quan trọng trong phát triển ghép

tạng nói chung và ghép ruột nói riêng

Bên cạnh tacrolimus, cần kể tới antithymo-

cyte globulin (ATG), kháng thể đơn dòng

kháng lympho alemtuzumab Kỹ thuật

ngoại khoa trong ghép ruột đã đi sâu vào

xử lý, tạo hình mạch máu, ghép đa tạng,

ghép đa phủ tạng Cùng với đó, việc lấy,

bảo quản ruột ghép được mở rộng đối với

BN chết đã ngừng tim, nâng số lượng BN

được ghép ngày một nhiều

Trong quá trình phát triển điều trị chống

thải ghép, ghép ruột đã có nhiều bước tiến

mạnh mẽ về cả cả số lượng BN ghép,

chất lượng ghép và mô hình kỹ thuật Đặc biệt, trong khoảng 15 năm trở lại đây, các nhà ngoại khoa không chỉ dừng ở ghép ruột đơn thuần mà có thể tiến hành ghép ruột đồng thời với ghép gan, tụy trong ghép đa tạng hoặc đa phủ tạng (ghép

cả khối dạ dày, tá tràng, tụy, ruột non) nâng tổng số ca ghép ruột lên > 1.000 [3]

CH ĐỊNH CỦ GH P RU T VÀ CÁC M H NH THUẬT

Ghép ruột được chỉ định cho BN bị suy hoặc mất chức năng của ruột vĩnh viễn

mà có các biến chứng nặng liên quan tới nuôi dưỡng đường tĩnh mạch

- Suy/mất chức năng ruột được chia thành 2 nhóm:

+ Hội chứng ruột ngắn

+ Suy giảm và rối loạn chức năng ruột

- Nguyên nhân dẫn tới hội chứng ruột ngắn gắn liền với việc phải cắt bỏ đi quá nhiều ruột, gồm nhiều loại:

+ Tổn thương mạc treo gây hoại tử ruột: nhồi máu mạc treo, xoắn ruột, chấn thương, u mạc treo hoặc u sau phúc mạc xâm lấn mạch mạc treo

+ Các bệnh lý tại đường ruột: viêm ruột (Crohn ), hội chứng Gardner (đa polýp tuyến toàn bộ ruột kết hợp u nhiều cơ quan ngoài ruột)

- Nguyên nhân dẫn tới suy giảm hoặc rối loạn chức năng ruột:

+ Các bệnh lý bẩm sinh: teo đường ruột bẩm sinh, không hạch thần kinh ruột (aganglionosis), nghẹt ruột do khuyết hổng thành bụng bẩm sinh (gastroschisis)

Trang 4

+ Các bệnh viêm đường ruột: viêm ruột

hoại tử

+ Các rối loạn chức năng hấp thu của

ruột: bệnh giả tắc ruột, bệnh teo vi nhung

mao ruột

Các trường hợp suy/mất chức năng

ruột đều phải nuôi dưỡng đường tĩnh

mạch Quá trình này kéo dài sẽ dẫn tới

nguy cơ nhiều biến chứng liên quan tới

duy trì catheter mạch máu kéo dài, rối

loạn chuyển hóa, đặc biệt ở gan

- Các biến chứng nặng liên quan tới

nuôi dưỡng đường tĩnh mạch:

+ Các biến chứng liên quan tới đặt

catheter mạch máu: nhiễm khuẩn huyết,

viêm - tắc mạch

+ Các biến chứng liên quan tới chuyển

hóa: suy dinh dưỡng, rối loạn chuyển hóa

và suy gan

Thống kê chỉ định ghép ruột trên toàn

thế giới từ 1990 - 2003 cho thấy: 2/3 số

ca ghép ruột được thực hiện ở tr em với

chỉ định nhiều nhất cho gastrochsis (21%),

tiếp theo là xoắn ruột (17%), viêm ruột

hoại tử (12%), giả tắc ruột (9%) Ghép

ruột ở người lớn chủ yếu được chỉ định

cho hội chứng ruột ngắn có nguồn gốc

tổn thương từ mạc treo (23%), bệnh Crohn

(14%), chấn thương (10%) [7]

- Các mô hình kỹ thuật mổ ghép ruột:

+ Ghép ruột đơn thuần: là kiểu ghép

lấy một đoạn ruột non ghép cho người

nhận có chức năng gan còn bình thường,

chiếm 41% tổng số ghép ruột trên thế giới

theo thống kê năm 1997 Kỹ thuật này

thường áp dụng trong ghép lấy từ người

cho sống Đoạn ruột lấy từ người cho

thường là hồi tràng với động mạch là nhánh của động mạch mạc treo tràng trên cùng tĩnh mạch tương ứng [4, 8]

+ Ghép ruột và gan kết hợp: là ghép

đa tạng gồm gan và toàn bộ ruột non, chiếm 48% tổng số ca ghép ruột (1997) Được chỉ định cho các trường hợp mất chức năng ruột, đồng thời có kèm suy gan [5]

+ Ghép đa phủ tạng: là ghép cả khối gan, dạ dày, tá tràng, tụy và ruột non, chiếm 11% tổng số ca ghép ruột, được chỉ định cho những trường hợp mất chức năng ruột, đồng thời suy chức năng gan, tụy, hoặc những trường hợp có bệnh lý nhiều cơ quan như hội chứng Gardner,

đa polýp tuyến đường ruột, giả tắc ruột

có kèm theo suy gan [5]

+ Ghép đa phủ tạng cải biên: là ghép

đa phủ tạng, nhưng không kèm ghép gan hoặc dạ dày

TRIỂN VỌNG CỦ GH P RU T

Khó khăn lớn nhất trong ghép ruột không phải là kỹ thuật ngoại khoa, mà là miễn dịch thải ghép và nhiễm trùng Một

số yếu tố đặc thù ở ruột liên quan chặt chẽ với vấn đề này là:

+ Có sự hiện diện rất nhiều kháng nguyên

tổ chức ở thành ruột

+ Có rất nhiều nang lympho ở thành ruột + Nhiều vi khuẩn trong lòng ruột

- Nhiều báo cáo trên thế giới cho thấy các yếu tố sau góp phần thúc đẩy sự phát triển ghép ruột:

+ Tiến bộ trong điều trị chống thải ghép + Cải tiến kỹ thuật ngoại khoa

Trang 5

+ Tiến bộ trong điều trị chống nhiễm

khuẩn, nấm và virut với các kháng sinh ít

độc và có hiệu quả

+ Lựa chọn BN ghép và người cho

tốt hơn

+ Tiến bộ trong lấy và bảo quản tạng

ghép

+ Tiến bộ trong hồi sức BN sau ghép [3]

- Về số lượng: tới 2003, trên thế giới

có 61 trung tâm ghép ruột ở 19 quốc gia

Tổng số 923 ca ghép 3/4 số ca ghép

thực hiện ở Mỹ, 19,1% ở châu Âu, 1,4%

ở châu Á, 4,0% ở Canada và châu Mỹ [7]

Số lượng BN ghép tăng từ 11 ca năm

1990 lên trung bình 140 ca/năm gần đây,

nâng tổng số ca ghép ruột trên thế giới

hiện nay lên > 1.000 ca

- Về chất lượng: tỷ lệ sống thêm 1 năm

sau ghép: trước 1995, với ruột ghép 55 -

63%; với BN 63 - 69% Sau 1995 - nay:

trung bình 77% Chất lượng sống của BN

được cải thiện rõ rệt ở hoạt động chức

năng của ruột ghép và các biến chứng

sau mổ Trong một nghiên cứu theo dõi

2 - 18 năm sau ghép ruột ở 31 bệnh nhi

công bố 2008 cho thấy: 2/3 số tr sau

ghép có thể ăn uống tốt, 5/6 trong số này

đạt chiều cao trung bình của người lớn

khi đến tuổi trưởng thành Một trường

hợp ghép không cùng nhóm máu có thải

ghép mạn tính, 5 trường hợp mất tạng

ghép do thải ghép cấp hoặc mạn tính

trong khoảng các năm thứ 2 - 8 [9]

- Về kỹ thuật: số lượng ghép đa phủ

tạng ngày một tăng, giải quyết nhiều bệnh

lý bẩm sinh đường tiêu hóa mà trước đây

y học “bó tay” như hội chứng Martinez -

Frias Lấy tạng từ người cho sống có bước

phát triển vượt bậc Năm 2004, Bệnh viện

Đại học Illinois, Mỹ tiến hành ghép đồng thời ruột, gan lấy từ người cho sống Cùng với đó, ghép ruột lấy từ người cho chết tim cũng được thực hiện cho kết quả khả quan [6]

KHẢ N NG THỰC HI N GH P RU T Ở

VI T N M

Chúng ta đã thành công trong triển khai các kỹ thuật ghép thận, gan, tim, tụy-thận Những bài học nguyên nhân làm nên thành công trong triển khai ghép tạng

ở Việt Nam đã được đúc kết:

- Sự quyết tâm của Ngành Y tế: khát vọng của bác sỹ, tinh thần vượt khó, dám nghĩ, dám làm của đội ngũ thầy thuốc Đoàn kết hợp tác của các bệnh viện trong

cả nước (tập hợp nhân lực và vật lực)

- Hợp tác quốc tế (chuyển giao kỹ thuật)

- Đầu tư của nhà nước (các đề tài khoa học cấp nhà nước) [1, 2]

Nếu xét riêng trong Ngành Y tế, hiện nay chúng ta có các chuyên gia trong lĩnh vực ngoại khoa, hồi sức, miễn dịch Nhưng để thực hiện nhiệm vụ ghép tạng, cần tập hợp họ trong những trung tâm chuyên về ghép Muốn triển khai ghép ruột cần phải có kế hoạch phát triển lâu dài và đồng bộ nguồn nhân lực của nhiều lĩnh vực: ngoại khoa, hồi sức, miễn dịch, chống nhiễm trùng Nhưng trước tiên, cần có nghiên cứu đánh giá thực trạng và nhu cầu ghép ruột từ BN suy giảm chức năng ruột cần nuôi dưỡng thay thế bằng đường tĩnh mạch Song song với đó là xây dựng các trung tâm ghép tạng, để tập hợp đội ngũ thầy thuốc chuyên sâu trong lĩnh vực ghép tạng

Trang 6

ẾT UẬN

Ghép ruột là một thành tựu lớn của y

học thế giới và đang ngày càng phát triển

Chỉ định ghép ruột được đặt ra cho BN bị

suy/mất chức năng ruột vĩnh viễn, có các

biến chứng nặng liên quan tới nuôi dưỡng

đường tĩnh mạch Có 4 mô hình kỹ thuật

mổ ghép ruột với những lựa chọn chỉ định

tương ứng Thách thức lớn nhất trong

ghép ruột là chống thải ghép và chống

nhiễm trùng Để tiến tới triển khai ghép

ruột, cần có kế hoạch phát triển lâu dài và

đồng bộ nhiều chuyên khoa liên quan

TÀI I U TH M HẢO

1 Phạm Mạnh Hùng, Lê Thế Trung, Phạm

Gia Khánh, Nguyễn Tiến Bình, Hoàng Mạnh An,

Lê Trung Hải, Nguyễn Thanh Liêm Một số kết

quả ghép tạng ở Việt Nam Tạp chí Y Dược

học Quân sự 2012, 37, tr.11-15

2 Lê Thế Trung, Phạm Gia Khánh,

Nguyễn Tiến Bình, Hoàng Văn Lương, Hoàng

Mạnh An, Lê Trung Hải, Đỗ Quyết Thành tựu

20 năm ghép tạng tại Bệnh viện Qu©n y 103, Học viện Quân y Tạp chí Y Dược học Quân sự

2012, 37, tr.16-20

3 Christoph Troppmann C, Rainer WG Gruessner Intestinal transplantation Transplantation 2012, 68 (11), pp.1072-1075

4 Cicalese L Living-donor intestinal

transplantation: surgical technique In Living donor transplantation 2007, pp.281-297

5 Cleveland clinic Intestinal transplantation Cleveland clinic.org/transplant 2011

6 Cleveland clinic Intestinal/multivisceral transplantation Clevelandclinic.org/intestinaltx

2013

7 Grant D, Abu-Elmagd K 2003 report of

the intestine transplant registry: A new era has dawned Annals of Surgery 2005, 241 (4), pp.607-613

8 Gruessner Rainer WG, Sharp Harvey L

Living-related intestinal transplantaion: First report of a standardized surgical technique Transplantation 1997, 64 (11), pp.1605-1607

9 Lacaille F, Vass N, Sauvat F et al

Long-term outcome, growth and digestive function

in children 2 to 18 years after intestinal transplantation Epub 2008, 57 (4), pp.455-461

Ngày đăng: 20/01/2020, 00:22

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w