1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Mức độ hài lòng trong công việc của nhân viên trung tâm truyền thông giáo dục sức khỏe và các yếu tố liên quan các tỉnh khu vực phía Nam năm 2012

8 105 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 365,75 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề tài này được tiến hành với mục tiêu nhằm xác định tỷ lệ hài lòng trong công việc và một số yếu tố liên quan đến sự hài lòng của nhân viên Trung tâm trung tâm truyền thông giáo dục sức khỏe các tỉnh khu vực phía Nam năm 2012. Mời các bạn cùng tham khảo bài viết để nắm rõ nội dung chi tiết của đề tài nghiên cứu này.

Trang 1

TRUNG TÂM TRUYỀN THÔNG GIÁO DỤC SỨC KHỎE VÀ CÁC YẾU TỐ  

LIÊN QUAN CÁC TỈNH KHU VỰC PHÍA NAM NĂM 2012 

Lê Thị Thảo Vi* 

TÓM TẮT 

Đặt vấn đề: Sự thiếu hụt nguồn nhân lực y tế những năm gần đây trở thành thực trạng nóng bỏng đối với 

cơ sở y tế công lập, nhất là hệ y tế dự phòng, trong đó bao gồm cả hệ truyền thông. Có nhiều nguyên nhân ảnh  hưởng đến sự thiếu hụt này và sự hài lòng trong công việc của nhân viên có thể là một trong những nguyên  nhân đó.  

Mục tiêu: Xác định tỷ lệ hài lòng trong công việc và một số yếu tố liên quan đến sự hài lòng của nhân viên 

Trung tâm TTGDSK các tỉnh khu vực phía Nam năm 2012. 

Phương pháp: Nghiên cứu cắt ngang mô tả. Thời gian thực hiện từ 2/2012‐8/2012. Nghiên cứu tiến hành 

bằng cách phát bộ câu hỏi tự điền khuyết danh cho nhân viên Trung tâm TTGDSK để tìm hiểu sự hài lòng của họ 

về công việc hiện tại. 

Kết quả: Tỷ lệ nhân viên hài lòng chung với công việc hiện tại là 48%. Tỷ lệ hài lòng của nhân viên đối với 7 

yếu tố công việc: thu nhập (27,8%), phúc lợi cơ quan (35,3%), đặc điểm công việc (43,6%), điều kiện làm việc  (52,7%), đào tạo và cơ hội thăng tiến (55,6%), mối quan hệ với cấp trên (67,6%), mối quan hệ với đồng nghiệp  (71,4%). Có mối liên quan giữa sự hài lòng chung trong công việc của nhân viên với độ tuổi, trình độ học vấn và 

vị trí công việc (p<0,05). Có mối liên quan giữa sự hài lòng chung trong công việc của nhân viên với 7 yếu tố  công việc (p<0,001). 

Kết luận: Tỷ lệ hài lòng chung trong công việc của nhân viên là 48%. Sự hài lòng chung trong công việc 

của nhân viên không phải chỉ phụ thuộc yếu tố về lương và phúc lợi cơ quan, mà đó là sự kết hợp của nhiều yếu 

tố. 

Từ khóa: mức độ hài lòng, nhân viên trung tâm truyền thông giáo dục sức khỏe, khu vực phía Nam. 

ABSTRACT 

JOB SATISFACTION AND RELATED FACTORS OF EMPLOYEES WORKING AT CENTERS OF   COMMUNICATION AND HEALTH EDUCATION IN SOUTHERN PROVINCES 2012 

Le Thi Thao Vi * Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 18 ‐ Supplement of No 6‐ 2014: 341 – 348 

Background:  Recently,  the  lack  of  health  personnel  emerges  as  an  issue  in  preventive  health  system, 

particularly in health communication system. Many factors related to this shortage including job satisfaction of  employees.  

Objectives: Determining the percentage of job satisfaction and several factors related to job satisfaction of 

employees working at centers of communication and health education in Southern provinces in 2012. 

Methods: A cross‐sectional survey was carried out from February 2012 to October 2012. Self‐administered 

questionnaire without personal identification was employed to measure job satisfaction of employees working at  the centers of communication and health education. 

Results:  The general percentage of job satisfaction of employees was 48%. The proportions of satisfaction 

with 7 job elements including income, welfare, job characteristics, working conditions, training and promotion 

* Viện Y tế công cộng TP. Hồ Chí Minh 

Trang 2

opportunities,  relationships  with  superiors,  relationships  with  colleagues  were  27.8%,  35.3%,  43,6%,  52.7%,  55.6%, 67.6%, 71.4%, respectively. The general job satisfaction of employees was significantly associated with  age group, level of education, job position (p<0,05) and 7 elements of job satisfaction (p<0,001). 

Conclusion:  The  general  percentage  of  job  satisfaction  of  employees  was  48%.  General  job  satisfaction  of 

employees  was  not  only  attributable  to  a  single  factor  like  salary  or  welfare  but  a  combination  of  many  other  factors as well. 

Key  words:  job  satisfaction,  employees  working  at  the  center  of  communication  and  health  education,  Southern region. 

ĐẶT VẤN ĐỀ 

Sự thiếu hụt nguồn nhân lực y tế những năm 

gần  đây  (chủ  yếu  bác  sĩ  và  dược  sĩ)  trở  thành 

thực trạng nóng bỏng đối với cơ sở y tế công lập, 

nhất  là  hệ  y  tế  dự  phòng(10).  Trong  đó,  đội  ngũ 

cán bộ có trình độ chuyên môn y dược làm công 

tác  TTGDSK  tuyến  tỉnh  có  xu  hướng  giảm  hơn 

so với 2 năm trước, đặc biệt là bác sĩ và cán bộ có 

trình độ đại học(11). Nguyên nhân có thể do chính 

sách  thu  hút  cán  bộ  của  hệ  truyền  thông  còn 

nhiều  bất  cập,  trong  đó  sự  hài  lòng  trong  công 

việc  của  nhân  viên  cũng  có  thể  là  yếu  tố  ảnh 

hưởng đến sự thiếu hụt này. 

Sự  hài  lòng  trong  công  việc  hạn  chế  sự 

thuyên chuyển công tác của nhân viên, đảm bảo 

duy trì đủ nguồn nhân lực, tạo niềm tin và tinh 

thần đoàn kết trong nội bộ cơ quan. Từ đó, nhân 

viên  xem  cơ  quan  là  nơi  lý  tưởng  để  phát  huy 

năng lực của mình cũng như gắn bó lâu dài. Sự 

ổn định này sẽ huy động được hết năng lực của 

nhân  viên,  nâng  cao  chất  lượng  công  việc  và 

giúp cơ quan hoạt động hiệu quả hơn. 

Sức khỏe nhân dân nói chung và công tác y tế  nói riêng(1,12).  

Vì vậy, việc khảo sát mức độ hài lòng trong  công việc của nhân viên hệ truyền thông nhằm  đưa ra giải pháp góp phần nâng cao sự hài lòng  trong  công  việc  của  nhân  viên  và  hạn  chế  sự  thuyên chuyển của nhân viên đến các cơ sở y tế  khác là điều cần thiết. 

Mục tiêu nghiên cứu 

Mục tiêu tổng quát 

Xác  định  tỷ  lệ  hài  lòng  trong  công  việc  và  một  số  yếu  tố  liên  quan  đến  sự  hài  lòng  của  nhân viên Trung tâm TTGDSK các tỉnh khu vực  phía Nam năm 2012. 

Mục tiêu cụ thể 

Xác  định  tỷ  lệ  hài  lòng  đối  với  từng  yếu  tố  công việc và tỷ lệ hài lòng chung trong công việc  của nhân viên Trung tâm TTGDSK các tỉnh khu  vực phía Nam năm 2012. 

Xác  định  mối  liên  quan  giữa  sự  hài  lòng  chung trong công việc của nhân viên Trung tâm 

Trang 3

Đối tượng nghiên cứu 

Toàn  bộ  nhân  viên  đang  làm  việc  tại  21 

Trung tâm TTGDSK khu vực phía Nam. 

Phương pháp nghiên cứu 

Thiết  kế nghiên  cứu:  Nghiên  cứu  cắt  ngang 

mô tả. 

Cỡ mẫu và cách chọn mẫu 

Được tính theo công thức: 

  95

,

0

Z  = 1,96; α = 0,05; d = 0,05 

Do  chưa  có  nghiên  cứu  nào  cùng  chủ  đề 

được  thực  hiện  tại  21  tỉnh/thành  phố  khu  vực 

phía Nam trước đây, do đó chọn P=0,5 để có cỡ 

mẫu lớn nhất. 

Cỡ  mẫu  làm  tròn  n=384.  Theo  số  liệu  Khoa 

GD&NCSK, tính đến tháng 4/2012, tổng số nhân 

viên đang làm việc tại 21 Trung tâm TTGDSK là 

310 nhân viên. Vì bộ câu hỏi nghiên cứu tự điền 

khuyết  danh  nên  đối  tượng  nghiên  cứu  có  thể 

không điền đầy đủ hoặc không nộp lại bảng hỏi. 

Đối  với  các  tỉnh  không  trực  tiếp  đi  thu  thập  số 

liệu mà chỉ gửi bộ câu hỏi qua đường bưu điện 

thì khả năng thất lạc bảng hỏi cũng có thể xảy ra. 

Như vậy, nghiên cứu sẽ tiến hành khảo sát trên 

toàn  bộ  nhân  viên  đang  làm  việc  tại  21  Trung 

tâm  TTGDSK.  Kỹ  thuật  chọn  mẫu  là  lấy  mẫu  toàn bộ. 

Công cụ thu thập dữ kiện 

Bộ câu hỏi tự điền khuyết danh. 

Biến số nghiên cứu 

Ngoài các biến số về đặc điểm dân số xã hội,  nghiên  cứu  sử  dụng  bộ  công  cụ  gồm  44  chỉ  số  thuộc 7 yếu tố: đặc điểm công việc (8 chỉ số); thu  nhập (5 chỉ số); phúc lợi cơ quan (6 chỉ số); điều  kiện làm việc (6 chỉ số); cơ hội đào tạo và thăng  tiến  (6  chỉ  số);  mối  quan  hệ  đồng  nghiệp  (5  chỉ  số); mối quan hệ cấp trên (8 chỉ số) và yếu tố về 

sự hài lòng chung trong công việc. 

Bộ chỉ số đánh giá các yếu tố về sự hài lòng  trong  công  việc  được  xây  dựng  theo  thang  đo  Likert 5 mức độ với các giá trị: rất hài lòng, hài  lòng, bình thường, không hài lòng, rất không hài  lòng với điểm số theo thứ tự từ 5 đến 1. 

Phân tích số liệu 

Yếu tố “sự hài lòng chung trong công việc”  được xem là yếu tố kết quả về sự hài lòng trong  công  việc  của  nhân  viên  Trung  tâm  TTGDSK.  Biến này được sử dụng để tìm hiểu các mối liên  quan  về  sự  hài  lòng  trong  công  việc  của  nhân  viên Trung tâm TTGDSK với các biến số về đặc  điểm dân số xã hội và các yếu tố công việc. 

Số liệu được nhập và xử lý bằng phần mềm  phân tích thống kê Epidata 3.1 và Stata 10.0. 

Trang 4

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN 

Sự hài lòng đối với công việc của nhân viên Trung tâm TTGDSK 

 

Biểu đồ 1: Tỷ lệ hài lòng đối với từng yếu tố công việc và tỷ lệ hài lòng chung trong công việc của nhân viên  Trung tâm TTGDSK 

Tỷ  lệ  hài  lòng  chung  trong  công  việc  của 

nhân viên hệ truyền thông là 48,1%, thấp hơn 

so  với  nghiên  cứu  của  Lê  Thanh  Nhuận 

(71,1%)  và  cũng  thấp  hơn  so  với  nghiên  cứu 

của  Phạm  Trí  Dũng  (63,5%)(5,7).  Nhân  viên 

chưa  hài  lòng  với  cả  7 yếu  tố  công  việc.  Tỷ  lệ 

hài  lòng  của  nhân  viên  đối  với  từng  yếu  tố  là 

không cao: thu nhập (27,8%), phúc lợi cơ quan 

(35,3%), đặc điểm công việc (43,6%), điều kiện 

làm việc (52,7%), đào tạo và cơ hội  thăng tiến  (55,6%),  mối  quan  hệ  với  cấp  trên  (67,6%)  và  mối quan hệ với đồng nghiệp (71,4%). Nghiên  cứu  của  các  tác  giả  khác  thực  hiện  trong  lĩnh  vực  y  tế  cũng  có  kết  quả  tương  tự,  nhân  viên  chưa hài lòng với các yếu tố: mối quan hệ với  lãnh đạo; mối quan hệ với đồng nghiệp; lương 

và phúc lợi; học tập, phát triển và khẳng định; 

cơ sở vật chất (5,7). 

Các yếu tố liên quan đến sự hài lòng trong công việc của nhân viên Trung tâm TTGDSK 

Bảng 2: Mối liên quan giữa hài lòng chung với các đặc tính của mẫu (n=241) 

Đặc tính mẫu Hài lòng chung value p- KTC 95% PR

Hài lòng Không hài lòng

0,068 1,28 (0,98 – 1,66)

Trang 5

Đặc tính mẫu Hài lòng chung value p- KTC 95% PR

Hài lòng Không hài lòng

Cử nhân/Dược sĩ/Bác sĩ/CK1/CK2 20 (38,5) 32 (61,5) 0,146 1,36 (0,90 – 2,07)

Người có thu nhập

chính Không Có 57 (42,9) 59 (54,6) 76 (57,1) 49 (45,4) 0,069 0,78 (0,60 – 1,02)

> 2.268.000đ - ≤ 4.983.000đ 57 (46,3) 66 (54,7) 0,820 0,97 (0,71 – 1,31)

0,055 1,39 (0,97 – 1,98)

0,014 0,68 (0,49 – 0,94)

0,112 1,30 (0,92 – 1,83)

0,647 0,93 (0,68 – 1,26)

Có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về sự hài 

lòng chung trong công việc của nhân viên với độ 

tuổi, trình độ học vấn, vị trí công việc (p<0,05). 

Nhân  viên  nhóm  tuổi  >30  ‐  ≤40  có  tỷ  lệ  hài 

lòng  chung  thấp  hơn  nhóm  tuổi  ≤30  là  0,57  lần 

(p=0,002). Đây cũng là nhóm tuổi có sự hài lòng 

chung trong công việc thấp nhất so với các nhóm 

tuổi khác. Có thể nhân viên nhóm tuổi >30 ‐ ≤40 

là  những  người  đã  lập  gia  đình  và  có  con  nhỏ, 

họ  có  nhiều  lo  toan  về  tài  chính  và  cuộc  sống 

hơn  so  với  nhóm  tuổi  ≤30  nên  ít  hài  lòng  với 

công việc hơn. Nghiên cứu của Lê Thanh Nhuận 

cũng cho thấy sự hài lòng về công việc của nhân 

viên y tế tuyến cơ sở có mối liên quan với nhóm 

tuổi(5).  Điều  này  cũng  tương  tự  với  nghiên  cứu 

của Trần Quỵ với đối tượng là điều dưỡng(9). 

Nhân viên trình độ đại học có tỷ lệ hài lòng 

chung thấp hơn nhân viên trình độ trung học trở 

xuống  0,7  lần  (p=0,009).  Mức  lương  làm  việc 

hiện nay và lĩnh vực làm việc là truyền thông ít 

liên  quan  đến  chuyên  ngành  đã  học  có  thể  là 

những  lý  do  ảnh  hưởng  đến  sự  hài  lòng  của 

nhóm nhân viên này. Nhân viên trình độ sau đại 

học có tỷ lệ hài lòng chung thấp hơn nhân viên  trình độ trung học trở xuống 0,48 lần (p=0,027). 

Có  thể  mức  lương  chưa  tương  xứng  với  công  sức và thời gian họ bỏ ra cho việc học. Cũng có  thể công việc hiện tại chưa tạo được điều kiện để 

họ phát huy được hết năng lực của bản thân.  Người có vị trí công việc là nhân viên có tỷ lệ  hài lòng chung thấp hơn nhóm có vị trí công việc 

là  Phó  Giám  đốc  và  Trưởng  Phó  khoa  phòng  0,68  lần  (p=0,014).  Có  thể  Phó  Giám  đốc  và  Trưởng  Phó  khoa  phòng  là  những  người  làm  công tác quản lý và nắm giữ các vị trí quan trọng  trong  cơ  quan,  bên  cạnh  đó  họ  được  hưởng  nhiều  chính  sách  ưu  đãi  hơn  nên  sự  hài  lòng  chung  trong  công  việc  ở  nhóm  này  cao  hơn  so  với nhóm còn lại. 

Sự hài lòng chung trong công việc của nhân  viên có mối liên quan có ý nghĩa thống kê với cả 

7 yếu tố công việc (p<0,001).  

Nhân viên hài lòng với yếu tố đặc điểm công  việc  có  tỷ  lệ  hài  lòng  chung  cao  hơn  2,45  lần  nhân  viên  không  hài  lòng  về  yếu  tố  này  (p<0,001). 

Trang 6

Bảng 3: Mối liên quan giữa hài lòng chung với 7 yếu tố công việc (n=241) 

Hài lòng Không hài lòng

<0,001 2,46 (1,85 – 3,27)

Thu nhập

<0,001 2,69 (2,13 – 3,38)

Phúc lợi

<0,001 2,60 (2,01 – 3,37)

Điều kiện làm việc

<0,001 3,11 (2,18 – 4,43)

Đào tạo và cơ hội thăng tiến

<0,001 3,41 (2,31 – 5,03)

Mối quan hệ đồng nghiệp

<0,001 4,25 (2,37 – 7,63)

Mối quan hệ cấp trên

<0,001 5,07 (2,81 – 9,15)

Nhân viên hài lòng với yếu tố thu nhập có tỷ 

lệ hài lòng chung cao hơn 2,69 lần nhóm còn lại 

(p<0,001).  Nghiên  cứu  của  Lê  Thanh  Nhuận  và 

Phạm  Trí  Dũng(5,  7)  cũng  cho  kết  quả  tương  tự. 

Theo tác giả Lyn N. Henderson, những khuyến 

khích về mặt tài chính là yếu tố động viên quan 

trọng trong sự hài lòng chung của nhân viên đối 

với công việc, đặc biệt trong những quốc gia mà 

tiền lương không đủ đáp ứng đầy đủ nhu cầu cơ 

bản cho nhân viên y tế và gia đình của họ(3).  

Nhân  viên  hài  lòng  với  yếu  tố  phúc  lợi  cơ 

so  với  nhóm  còn  lại  (p<0,001).  Môi  trường  làm  việc là các yếu tố liên quan tới sự thuận tiện cá  nhân  song  đồng  thời  nó  cũng  là  nhân  tố  giúp  nhân viên hoàn thành tốt công việc.  

Nhân viên hài lòng với yếu tố đào tạo và cơ  hội  thăng  tiến  có  tỷ  lệ  hài  lòng  chung  cao  hơn  3,41  lần  nhóm  còn  lại  (p<0,001).  Kết  quả  này  tương  tự  với  nghiên  cứu  của  Lê  Thanh  Nhuận 

và Phạm Trí Dũng(5, 7). Theo Inke Mathauer, học  tập  và  phát  triển  nghề  nghiệp  là  yếu  tố  động  viên  quan  trọng,  vì  những  khía  cạnh  này  giúp 

Trang 7

Lê  Thanh  Nhuận,  Phạm  Trí  Dũng  cũng  có  mối 

liên quan giữa yếu tố mối quan hệ đồng nghiệp 

với sự hài lòng chung(5, 7). Mối quan hệ với đồng 

nghiệp  sẽ  giúp  đỡ  nhân  viên  rất  nhiều  trong 

công việc cũng như trong cuộc sống. Nếu quan 

hệ  với  đồng  nghiệp  tốt  đẹp,  nhân  viên  y  tế  sẽ 

toàn  tâm,  toàn  ý,  giúp  đỡ  nhau  để  cùng  hoàn 

thành nhiệm vụ chung(5).  

Nhân viên hài lòng với yếu tố mối quan hệ 

với cấp trên có tỷ lệ hài lòng chung cao gấp 5,07 

lần nhóm còn lại (p<0,001). Kết quả nghiên cứu 

của  Lê  Thanh  Nhuận,  Phạm  Trí  Dũng  cũng  có 

kết quả tương tự(5, 7).  

KẾT LUẬN 

Tỷ  lệ  hài  lòng  chung  trong  công  việc  của 

nhân viên là 48%. Sự hài lòng chung có liên quan 

đến các yếu tố về độ tuổi, trình độ học vấn và vị 

trí công việc. Sự hài lòng của nhân viên đối với 

các yếu tố công việc bao gồm: thu nhập, phúc lợi 

cơ quan, đặc điểm công việc, điều kiện làm việc, 

đào  tạo  và  cơ  hội  thăng  tiến,  mối  quan  hệ  với 

cấp  trên,  mối  quan  hệ  với  đồng  nghiệp  sẽ  làm 

tăng sự hài lòng chung trong công việc của nhân 

viên.  

Sự hài lòng chung trong công việc của nhân 

viên không phải chỉ phụ thuộc yếu tố về lương 

và  phúc  lợi  cơ  quan,  mà  đó  là  sự  kết  hợp  của 

nhiều  yếu  tố.  Vì  vậy  để  làm  tăng  sự  hài  lòng 

trong  công  việc  của  nhân  viên,  người  quản  lý 

cần phải quan tâm đến nhiều yếu tố về hài lòng 

trong chính sách quản lý của cơ quan mình. 

KIẾN NGHỊ 

Các  nhà  quản  lý  cần  quan  tâm  đến  sự  hài 

lòng của nhân viên đối với nhiều yếu tố vì sự hài 

lòng chung trong công việc của nhân viên là sự 

kết  hợp  của  nhiều  yếu  tố.  Để  tăng  sự  hài  lòng 

của  nhân  viên  đối  với  công  việc  cần  phải  làm  cho nhân viên hiểu rõ về đặc điểm công việc họ  đang làm, nâng cao điều kiện làm việc cho nhân  viên,  cải  thiện  mối  quan  hệ  giữa  cấp  trên  và  nhân viên, cải thiện mối quan hệ các nhân viên  trong cùng cơ quan, tăng tiền lương và phúc lợi,  tạo  cơ  hội  cho  nhân  viên  học  tập,  phát  triển  và  khẳng định. 

Các nhà quản lý phải làm cho nhân viên hiểu 

rõ bản chất công việc họ đang làm. Sắp xếp công  việc phù hợp với năng lực, sở trường của nhân  viên.  Xây  dựng  bản  mô  tả  công  việc  hàng  năm 

để  nhân  viên  nắm  được  nhiệm  vụ  và  trách  nhiệm  của  họ.  Trao  quyền  cho  nhân  viên  tự  quyết định những công việc nằm trong khả năng  của mình. 

Tạo ra sự công bằng trong phân phối lương  bằng việc xây dựng bản mô tả công việc để nhân  viên hiểu nhiệm vụ và trách nhiệm của bản thân 

và của các nhân viên khác.  

Nâng  cao  hiệu  quả  hoạt  động  Công  Đoàn  bảo vệ quyền lợi cho nhân viên. 

TÀI LIỆU THAM KHẢO 

1 Bộ Y tế. (2006). Chăm sóc sức khỏe ban đầu ở Việt Nam trong  tình hình mới. Nhà xuất bản Y học. Hà Nội. Tr. 33‐34. 

2 Châu Văn Toàn (2009)   Các nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng  công  việc  của  nhân  viên  khối  văn  phòng  ở  TP.  Hồ  Chí  Minh.  Luận văn thạc sĩ. Đại học Y dược Tp.HCM. Tr. 56‐58. 

3 Henderson  LN,  Tulloch  J  (2008).  Incentives  for  retaining  and  motivating  health  workers  in  Pacific  and  Asian  countries.  Human Resources for Health. 6:18.  

4 Lê Thanh Nhuận, Lê Cự Linh (2009). Phát triển bộ công cụ đo  lường sự hài lòng đối với công việc của nhân viên y tế tuyến cơ 

sở. Tạp chí Y tế Công cộng. 11(11), pp. 18‐24. 

5 Lê Thanh Nhuận, Lê Cự Linh (2009). Sự hài lòng đối với công  việc  của  nhân  viên  y  tế  tuyến  cơ  sở.  Tạp  chí  Y  tế  Công  cộng.  11(3)78‐89. 

6 Mathauer I, Imhoff I (2006). Health worker motivation in Africa:  the  role  of  non‐financial  incentives  and  human  resource  management tools. Human Resources for Health 2006, 4:24.  

7 Phan Trí Dũng, Đặng Thị Như Hằng, Nguyễn Trí và cs (2010).  Thực trạng nguồn nhân lực và sự hài lòng đối với công việc của  nhân  viên  y  tế  tại  các  Trung  tâm  Y  tế  dự  phòng  tuyến  huyện  tỉnh Bình Thuận. Tạp chí Y tế Công cộng. 16(16).  4‐9.  

Trang 8

8 Trần  Kim  Dung  (2006).  Giáo  trình  Quản  trị  nguồn  nhân  lực. 

Nhà xuất bản Thống Kê. Hà Nội. Tr. 48‐89. 

9 Trần Quỵ,Vi Nguyệt Hồ, Phạm Đức Mục, Ngô Thị Ngoãn, Ngô 

Đức Thọ, Đào Thành & cs (2005). Sự hài lòng nghề nghiệp của 

điều dưỡng bệnh viện và các yếu tố liên quan. 2005. Kỷ yếu đề 

tài nghiên cứu khoa học điều dưỡng toàn quốc lần thứ II. Nhà 

xuất bản GTVT. Hà Nội. Tr. 33‐42. 

10 Triệu Nguyên Trung (2009). Thực trạng thiếu hụt nguồn nhân 

lực y tế và đào tạo nguồn nhân lực y tế dự phòng cần đi đôi với 

chính  sách  đãi  ngộ  thích  đáng.  http://www.impe‐

qn.org.vn/impe‐

qn/vn/portal/InfoDetail.jsp?area=58&cat=944&ID=3197.  Truy 

cập ngày 16/8/2012. 

11 Trung  tâm  TTGDSK  TW  (2012).  Báo  cáo  tổng  kết  công  tác  truyền thông GDSK năm 2011 và triển khai nhiệm vụ công tác  năm 2012. Hà Nội. Tr. 67‐78.  

12 WHO  –  Unicef  (1978).  Alma‐Ata  1978  –  Primary  Health  Care.  Health for All. Series No1. Pp 12‐67. 

  Ngày nhận bài báo:       20/5/2014  Ngày phản biện nhận xét bài báo:   13/6/2014  Ngày bài báo được đăng:     14/11/2014  

 

Ngày đăng: 19/01/2020, 23:55

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w