1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Tác dụng hỗ trợ cải thiện chức năng vận động của bài thuốc Khương hoạt nhũ hương thang trong điều trị viêm khớp dạng thấp giai đoạn II

7 70 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 365,85 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kết quả cho thấy, nhóm nghiên cứu có tác dụng cải thiện chức năng vận động tốt hơn nhóm chứng: Sau điều trị, thời gian cứng khớp buổi sáng của nhóm nghiên cứu là 28,33 ± 15,22, thấp hơn ở nhóm chứng là 45,00 ± 29,21 (p < 0,05); chỉ số Lee của nhóm nghiên cứu là 4,83 ± 2,89, thấp hơn ở nhóm chứng là 10,53 ± 7,24 (p < 0,05),... Mời các bạn cùng tham khảo.

Trang 1

TÁC DỤNG HỖ TRỢ CẢI THIỆN CHỨC NĂNG VẬN ĐỘNG CỦA BÀI THUỐC KHƯƠNG HOẠT NHŨ HƯƠNG THANG TRONG ĐIỀU TRỊ VIÊM KHỚP DẠNG THẤP GIAI ĐOẠN II

Nguyễn Thị Thu Hà 1 , Nguyễn Thị Vân Anh 2 , Lưu Thị Hạnh 1

1 Trường Đại học Y Hà Nội; 2 Bệnh viện Y học Cổ truyền Trung ương Nghiên cứu nhằm đánh giá tác dụng cải thiện chức năng vận động của bài thuốc Khương hoạt nhũ hương thang trong điều trị viêm khớp dạng thấp giai đoạn II và tìm hiểu tác dụng không mong muốn trên lâm sàng Kết quả cho thấy, nhóm nghiên cứu có tác dụng cải thiện chức năng vận động tốt hơn nhóm chứng: Sau điều trị, thời gian cứng khớp buổi sáng của nhóm nghiên cứu là 28,33 ± 15,22, thấp hơn ở nhóm chứng

là 45,00 ± 29,21 (p < 0,05); chỉ số Lee của nhóm nghiên cứu là 4,83 ± 2,89, thấp hơn ở nhóm chứng là 10,53 ± 7,24 (p < 0,05) Trong quá trình nghiên cứu không thấy tác dụng phụ trên lâm sàng và cận lâm sàng

ở nhóm nghiên cứu Bài thuốc Khương hoạt nhũ hương thang có tác dụng hỗ trợ cải thiện chức năng vận động và an toàn trên bệnh nhân viêm khớp dạng thấp giai đoạn II

Từ khóa: Khương hoạt nhũ hương thang, viêm khớp dạng thấp, chức năng vận động  

Địa chỉ liên hệ: Nguyễn Thị Thu Hà, Khoa Y học Cổ truyền, Trường Đại học Y Hà Nội

Email: hachi005@yahoo.com Ngày nhận: 29/11/2012 Ngày được chấp thuận: 26/4/2013

I ĐẶT VẤN ĐỀ

Viêm khớp dạng thấp (Rheumatoid Arthri-tis) là một bệnh đặc trưng bởi viêm nhiều khớp có đối xứng, thường kèm theo cứng khớp buổi sáng và sự có mặt của yếu tố dạng thấp trong huyết thanh Viêm khớp dạng thấp

là một bệnh mang tính xã hội vì sự phổ biến

và chiếm tỷ lệ khá cao trong các bệnh nội khoa nói riêng và các bệnh về khớp nói chung Điều trị viêm khớp dạng thấp phải phối kết hợp nhiều phương pháp: nội khoa (y học hiện đại, y học cổ truyền), vật lý trị liệu, phục hồi chức năng, ngoại khoa [1] Bệnh tiến triển nhiều đợt làm ảnh hưởng đến chức năng vận động của bệnh nhân lâu ngày thành tàn phế

Trong y học cổ truyền, viêm khớp dạng thấp là thuộc chứng Tý [2] Ngoại tà gây bế tắc kinh lạc làm cân cơ không được nuôi dưỡng, lâu ngày sinh ra chân tay co quắp Y học cổ truyền đã dùng nhiều bài thuốc cổ phương để

điều trị như: Quế chi thược dược tri mẫu thang (Kim quỹ yếu lược), Quyên tý thang (Y học tâm ngộ), Độc hoạt ký sinh thang (Thiên kim phương) Bài thuốc Khương hoạt nhũ hương thang có nguồn gốc trong Y tông kim giám [3] gồm các vị thuốc trừ phong thấp, hành khí hoạt huyết, bổ can thận đã được dùng từ rất lâu đời và cho hiệu quả giảm sưng giảm đau, bổ thận, mạnh gân cốt rất tốt nhưng chưa có nghiên cứu đánh giá có hệ thống kết quả mà nó đem lại Vì vậy, chúng tôi tiến hành

đề tài này với mục tiêu:

1 Đánh giá tác dụng cải thiện chức năng vận động của bài thuốc “Khương hoạt nhũ hương thang” trong điều trị bệnh viêm khớp dạng thấp giai đoạn II (Thể nhiệt tý)

2 Theo dõi tác dụng không mong muốn của bài thuốc

II ĐỐI TƯỢNG, PHƯƠNG PHÁP

1 Chất liệu nghiên cứu

Các vị thuốc được bào chế theo tiêu chuẩn

cơ sở dựa vào dược điển Việt Nam IV tại khoa Dược của bệnh viện Y học Cổ truyền Trung ương

Trang 2

1.1 Bài thuốc Khương hoạt nhũ hương thang gồm

Thuốc được dùng dưới dạng thuốc sắc tại

khoa Dược, bệnh viện Y học Cổ truyền Trung

ương Thuốc được sắc theo quy trình bằng

thiết bị Kyung Seo Machine của Hàn Quốc

Thời gian sắc 1 lần cho 10 thang là 2 giờ,

được đổ 5,1 đến 5,3 lít nước, ở nhiệt độ

ngày, mỗi ngày 2 túi, chia 2 lần (sáng – chiều)

1.2 Mobic (Meloxicam)

Viên nén 7,5 mg của hãng sản xuất

Boehringer Ingelheim pharma GmbH & Co.,

KG – Đức Liều dùng: Mobic 7,5mg x 2 viên/

ngày, uống sáng 1 viên, chiều 1 viên, uống

lúc no

1.3 Barole (Rabeprazole)

Viên nang 20mg của nhà sản xuất Mega

Lifescienes (Australia) PTY LTD – Australia

Liều dùng: Barole 20mg x 1 viên/ngày,

uống lúc 20h

2 Đối tượng

Gồm 60 bệnh nhân được chẩn đoán xác

định viêm khớp dạng thấp giai đoạn II, thể

nhiệt tý tại khoa Nội, bệnh viên Y học Cổ

truyền Trung ương từ tháng 11/2011 đến

tháng 07/2012

2.1 Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân theo y

học hiện đại

- Bệnh nhân được chẩn đoán xác định

viêm khớp dạng thấp theo tiêu chuẩn ACR

1987 [4] và chẩn đoán giai đoạn II theo

Stein-broker

- Bệnh nhân tham gia đủ thời gian nghiên cứu và tuân thủ đúng liệu trình điều trị

2.2 Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân theo y học cổ truyền: Chứng Tý thể nhiệt tý [2]

3 Phương pháp

3.1 Thiết kế nghiên cứu: Thử nghiệm

lâm sàng, ghép cặp tương đồng (về tuổi, giới, mức độ hoạt động bệnh), so sánh trước và sau điều trị, có đối chứng

- Nhóm nghiên cứu: Dùng Mobic 7,5mg x 2 viên/ngày; Barole 20mg x 1 viên/ngày và bài thuốc Khương hoạt nhũ hương thang x 1 thang/ngày, trong 30 ngày

- Nhóm chứng: Chỉ dùng đơn thuần thuốc

y học hiện đại như trên

3.2 Chỉ tiêu theo dõi

- Thời gian cứng khớp buổi sáng

- Chỉ số Lee

- Các tác dụng không mong muốn trên lâm sàng: Đau đầu, chóng mặt, buồn nôn, sẩn ngứa, rối loạn tiêu hóa

- Các tác dụng không mong muốn trên cận lâm sáng: sự thay đổi các chỉ số huyết học, sinh hóa máu, sinh hóa nước tiểu

3.3 Tiêu chuẩn đánh giá kết quả điều trị

- Đánh giá hiệu quả cải thiện chức năng vận động thông qua sự giảm thời gian cứng khớp buổi sáng, sự giảm chỉ số Lee

- Đánh giá tác dụng không mong muốn của bài thuốc trên lâm sàng dựa trên sự xuất hiện

Trang 3

các triệu chứng: đau đầu, chóng mặt, buồn nôn, sẩn ngứa, rối loạn tiêu hóa Tác dụng không mong muốn trên cận lâm sàng dựa vào

dự thay đổi các chỉ số: số lượng hồng cầu, bạch cầu, tiểu cầu, urê, creatinin, AST, ALT,

protein niệu, tế bào niệu

3.4 Xử lý số liệu

Sử dụng chương trình xử lý số liệu theo phần mềm SPSS 16.0

III KẾT QUẢ

1 Hiệu quả cải thiện chức năng vận động

1.1 Hiệu quả cải thiện thời gian cứng khớp buổi sáng

Bảng 1 Thay đổi thời gian cứng khớp buổi sáng tại các thời điểm nghiên cứu

Thời điểm đánh giá

Thời gian cứng khớp buổi sang (phút)

 

p Nhóm nghiên cứu 

(n1 = 30) Nhóm chứng  (n2 = 30)

Tại thời điểm trước khi điều trị, thời gian cứng khớp buổi sáng trung bình giữa 2 nhóm là như nhau với p > 0,05 Sau điều trị đều có sự giảm thời gian cứng khớp buổi sáng ở cả 2 nhóm có ý nghĩa thống kê với p < 0,05 Tại các thời điểm T1, T2 và T3, thời gian cứng khớp buổi sáng trung bình của 2 nhóm là như nhau với p > 0,05 Tại thời điểm T4, thời gian cứng khớp buổi sáng trung bình của nhóm nghiên cứu nhỏ hơn ở nhóm chứng, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê

với p < 0,05

Tại thời điểm bắt đầu điều trị, chỉ số Lee trung bình giữa 2 nhóm là tương đương nhau với

p > 0,05 Sau khi điều trị, cả 2 nhóm đều cải thiện chức năng vận động, mức độ cải thiện chức năng vận động giữa các thời điểm theo dõi có ý nghĩa thống kê với p < 0,05 Tại các thời điểm nghiên cứu T1 và T2, chỉ số trung bình Lee của cả 2 nhóm không có sự khác biệt với p > 0,05 Tại thời điểm T3 và T4, chỉ số trung bình Lee của 2 nhóm có sự khác biệt, giảm nhiều ở nhóm nghiên cứu có ý nghĩa thống kê với p < 0,05 (bảng 2)

Trang 4

Bảng 2 Thay đổi chỉ số Lee tại các thời điểm nghiên cứu

Thời điểm đánh giá

Chỉ số Lee

 

p Nhóm nghiên cứu 

(n1 = 30)

Nhóm chứng  (n2 = 30)

2 Kết quả theo dõi tác dụng không mong muốn

2.1 Trên lâm sàng

Trong quá trình theo dõi, ở nhóm nghiên cứu không có trường hợp nào xuất hiện tác dụng

không mong muốn trên lâm sàng như đau đầu, chóng mặt, buồn nôn, sẩn ngứa, rối loạn tiêu hóa

Ở nhóm chứng thấy xuất hiện 01 trường hợp buồn nôn, chiếm 3,33%

2.2 Trên cận lâm sàng

Bảng 3 Sự thay đổi các chỉ số huyết học

Chỉ số

Nhóm nghiên cứu (n1 = 30)

Nhóm chứng (n2 = 30) p(NC-C)

1,99

6,15 ±

6,63 ± 1,46

6,61 ±

1,32

12,21 ±

12,26 ± 1,28

12,20 ±

155,02

364,43 ±

368,40 ± 77,74

379,20

Trang 5

Các chỉ số hồng cầu, bạch cầu, tiểu cầu và hemoglobin giữa 2 nhóm trước và sau điều trị không có sự khác biệt với p > 0,05

Bảng 4 Sự thay đổi các chỉ số sinh hoá máu

Chỉ số Nhóm nghiên cứu (n1 = 30) Nhóm chứng (n2 = 30) p(NC-C)

AST  (u/l -370)

19,07 ± 7,55

18,17 ±

21,27 ± 6,72

21,43 ±

ALT  (u/l -370)

23,13 ± 13,57

21,20 ±

24,53 ± 8,81

22,80 ±

1,34

4,52 ±

4,72 ± 1,07

4,73 ±

Creatinin (µmol/l)

72,50 ± 16,20

72,00 ±

71,86 ± 20,08

77,97 ±

Các chỉ số sinh hóa bao gồm urê, creatinin, AST, ALT của 2 nhóm không có sự khác biệt trước và sau điều trị với p > 0,05

Thành phần bất thường trong nước tiểu: không thấy có sự xuất hiện của protein và tế bào niệu trước và sau điều trị ở cả 2 nhóm

IV BÀN LUẬN

Hiệu quả cải thiện chức năng vận động

Cứng khớp buổi sáng là cảm giác khó cử động sau một khoảng thời gian không hoạt động Thời gian cứng khớp buổi sáng được tính từ khi bắt đầu ngủ dậy đến khi hết cảm giác khó vận động Cứng khớp buổi sáng trên

1 giờ là một trong những tiêu chuẩn để chẩn đoán bệnh viêm khớp dạng thấp theo ACR

1987

Kết quả của chúng tôi theo bảng 1 cho thấy tại thời điểm T0, trung bình thời gian cứng khớp buổi sáng của 2 nhóm là tương đương, trong đó nhóm nghiên cứu là 74,50 ± 29,20 (phút) và của nhóm chứng là 68,00 ± 28,88 (phút) Qua các thời điểm đánh giá nhận thấy, trung bình thời gian cứng khớp buổi sáng giảm dần có ý nghĩa thống kê với

p < 0,05 ở cả 2 nhóm Đến thời điểm T4, trung bình thời gian cứng khớp buổi sáng của nhóm nghiên cứu là 28,33 ± 15,22 (phút), nhóm chứng là 45,00 ± 29,21 (phút), sự khác biệt giữa thời gian cứng khớp của 2 nhóm có ý nghĩa thống kê với p < 0,05 Theo Nguyễn Thị Lan Trang (2004), nhóm nghiên cứu trước điều trị có thời gian cứng khớp buổi sáng

trung bình là 81,0 ± 11,2 (phút), sau dùng viên

nang thấp khớp trong 30 ngày thời gian cứng khớp buổi sáng trung bình còn 22,5 ± 10,5 (phút), giảm có ý nghĩa thống kê so với trước điều trị là 81,0 ± 11,2 (phút) [5]

Như vậy, nhóm nghiên cứu có dùng thêm bài thuốc Khương hoạt nhũ hương thang làm giảm thời gian cứng khớp buổi sáng hơn so với nhóm chứng chỉ dùng đơn thuần thuốc y học hiện đại

Trang 6

Tác dụng làm giảm thời gian cứng khớp

buổi sáng của bài thuốc giúp bệnh nhân hoạt

động tốt hơn, tránh được bất động khớp kéo

dài dẫn đến cứng khớp Tác dụng này còn có

ý nghĩa lớn đối với hoạt động của người bệnh

trong sinh hoạt hằng ngày của bệnh nhân

Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy

bài thuốc Khương hoạt nhũ hương thang có

vai trò quan trọng trong cải thiện chức năng

vận động của bệnh nhân viêm khớp dạng thấp

giai đoạn II Bảng 2 chỉ ra có sự giảm đáng kể

chỉ số trung bình Lee qua các thời điểm: Tại

thời điểm bắt đầu nghiên cứu, nhóm nghiên

cứu có chỉ số trung bình Lee là 17,50 ± 7,11

(điểm), nhóm chứng là 16,30 ± 7,43 (điểm), tại

thời điểm T3 và T4 trung bình chỉ số Lee của

2 nhóm đã có sự khác biệt có ý nghĩa thống

kê với p < 0,05, trong đó, nhóm nghiên cứu là

4,83 ± 3,21 (điểm) và nhóm chứng là 10,53 ±

7,24 (điểm), giảm nhiều hơn ở nhóm nghiên

cứu Theo Nguyễn Thị Lan Trang (2004), việc

sử dụng viên nang Thấp khớp với thành phần

gồm các vị thuốc khu phong trừ thấp, thông

kinh hoạt lạc cũng làm giảm chỉ số Lee trung

bình trước điều trị từ 13,30 ± 1,90 (điểm)

xuống còn 3,6 ± 1,7 (điểm) [5]

Bài thuốc Khương hoạt nhũ hương thang

có các vị thuốc Đương quy giúp bổ huyết, Tục

đoạn có tác dụng bổ can thận tăng cường bồi

bổ cho các khớp trong cơ thể; có các vị thuốc

hoạt huyết mạnh Nhũ hương, Đào nhân, Hồng

hoa, Xích thược, Xuyên khung, Đan bì để khứ

ứ tiêu sưng, Trần bì có tác dụng hành khí, khí

hành thì huyết hành, giúp khí huyết lưu thông

giảm đau Lại có Khương hoạt, Độc hoạt,

Phòng phong có tác dụng phát tán phong

thấp, giảm đau Do đó, bài thuốc Khương hoạt

nhũ hương thang có tác dụng cải thiện chức

năng vận động các khớp cho bệnh nhân [6]

Chỉ số Lee để đánh giá khả năng thực hiện

một số động tác trong sinh hoạt hằng ngày

qua bộ câu hỏi được xây dựng chung cho việc đánh giá chức năng vận động của bệnh nhân

Chức năng vận động của bệnh nhân bị ảnh hưởng bởi yếu tố đau và các tổn thương tại khớp và phần mềm quanh khớp Tác dụng giảm đau chống viêm của thuốc làm cải thiện chức năng vận động, khẳng định vai trò của bài thuốc Khương hoạt nhũ hương thang trong cải thiện chức năng vận động ở bệnh nhân viêm khớp dạng thấp

Về tác dụng không mong muốn của bài thuốc: Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho

thấy trong thời gian điều trị 1 tháng, ở nhóm nghiên cứu là nhóm sử dụng phác đồ điều trị

y học hiện đại và bài thuốc Khương hoạt nhũ hương thang không thấy xuất hiện trường hợp nào có biểu hiện tác dụng không mong muốn trên lâm sàng như đau đầu, chóng mặt, buồn nôn, sẩn ngứa, rối loạn tiêu hóa Do vậy bài thuốc Khương hoạt nhũ hương thang được kết luận là bài thuốc an toàn Theo nghiên cứu của chúng tôi, nhóm chứng xuất hiện 1 trường hợp (3,33%) có biểu hiện buồn nôn, đây có thể là tác dụng phụ của thuốc Mobic

Bảng 3 và 4 trong nghiên cứu của chúng tôi cho thấy, số lượng HC, BC, TC, Hb, AST, ALT, urê, creatinin máu của nhóm nghiên cứu sau điều trị so với trước điều trị và so với nhóm chứng không có sự khác biệt (p> 0,05)

và không thấy xuất hiện thành phần bất thường trong nước tiểu sau điều trị Mặt khác, khi xem xét sự thay đổi các chỉ số huyết học

và sinh hóa trên từng bệnh nhân cho thấy các trường hợp có sự biến đổi đều nằm trong giới hạn cho phép Bài thuốc Khương hoạt nhũ hương thang không làm ảnh hưởng đến các chỉ số này trên bệnh nhân viêm khớp dạng thấp giai đoạn II

Như vậy, bài thuốc Khương hoạt nhũ hương thang là bài thuốc có tính an toàn cao

Trang 7

V KẾT LUẬN

Bài thuốc Khương hoạt nhũ hương thang

có tác dụng cải thiện chức năng vận động tốt:

Thời gian cứng khớp buổi sáng và chỉ số Lee của nhóm nghiên cứu đều cải thiện hơn so với nhóm chứng có ý nghĩa thống kê với p < 0,05 sau 4 tuần điều trị

Bài thuốc Khương hoạt nhũ hương thang

là bài thuốc có tính an toàn cao, trong quá trình nghiên cứu không thấy tác dụng không mong muốn trên lâm sàng và cận lâm sàng

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Nguyễn Thị Ngọc Lan (2011) Viêm

khớp dạng thấp, Bệnh học cơ xương khớp nội

khoa, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam,

9 - 35

2 Trường đại học Y Hà Nội (2012) Bệnh

học nội khoa Y học cổ truyền, Nhà xuất bản Y học, 152 - 160

卷七十

4 Arnett FC, Edworthy SM, Bloch DA et

al (1988) The American Rheumatism

Asso-ciation 1987 revised criteria for the

classifica-tion of rheumatoid arthritis Arthritis Rheum;

31, 315 - 324

5 Nguyễn Thị Lan Trang (2004) Đánh

giá tác dụng điều trị của viên nang Thấp khớp trong bệnh viêm khớp dạng thấp, Luận văn tốt

nghiệp thạc sỹ y học

6 Trương Thụ Sinh, Vương Chí Lan

(dịch giả Dương Trọng Hiếu) (1992) Trung

dược lâm sàng, Nhà xuất bản Y học, 113 - 233

Summary THE EFFECTS OF “KHUONG HOAT NHU HUONG DECOCTION”

ON RECOVERING MOTOR FUNCTIONS IN RHEUMATOID

ARTHRITIS PATIENTS

The Objective of the study was to evaluate the effects of “Khuong hoat nhu huong decoction”

on motor functions and its side effects in treating type II rheumatoid arthritis patients Results: Patients treated with the “Khuong hoat nhu huong decoction” responded much better in term of reducing pain and inflammation than the control groups After treatment, morning stiffness time in treated patients (28.33 ± 15.22 second or minutes or hours?) was significantly (p < 0.05) lower than patients in the control group (45.00 ± 29.21- please put time here) Measurements of the Lee index was also significantly lower (p < 0.05) in the treated patient group (4.83 ± 2.89) than in control group (10.53 ± 7.24) The side effects were reported during and after treatment Conclu-sions: These data suggested that “Khuong hoat nhu huong decoction” treatment provided signifi-cant comfort to stage II for rheumatoid arthritis patients with little or no side effects

Keywords: Khuong hoat nhu huong decoction, rheumatoid arthritis, motor function

Ngày đăng: 19/01/2020, 23:34

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w