1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Đặc điểm hình ảnh siêu âm Tripplex và kết quả điều trị can thiệp nút mạch trong giãn tĩnh mạch tinh

7 58 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 436,7 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết Đặc điểm hình ảnh siêu âm Tripplex và kết quả điều trị can thiệp nút mạch trong giãn tĩnh mạch tinh trình bày kết quả cho thấy từ tháng 11/2010 đến tháng 06/2011, 21 bệnh nhân giãn tĩnh mạch tinh được chỉ định can thiệp nội mạch khi hình ảnh siêu âm của tĩnh mạch tinh có đường kính lớn nhất trước khi làm nghiệm pháp Valsalva dao động từ 2 - 2,5mm, sau khi làm nghiệm pháp dao động từ 3,4 - 5mm, tương ứng với giãn độ II là 28,57%, độ III là 71,43%,... Mời các bạn cùng tham khảo.

Trang 1

ĐẶ C Đ I Ể M HÌNH Ả NH SIÊU ÂM TRIPPLEX VÀ K Ế T QU Ả Đ I Ề U TR Ị

CAN THI Ệ P NÚT M Ạ CH TRONG GIÃN T Ĩ NH M Ạ CH TINH

Nguyễn Duy Hùng 1 , Trần Công Hoan 1 , Trịnh Văn Tuấn 2

1 Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức; 2 Trường Đại học Y Hà Nội

thậm chí vô sinh nếu không được chẩn đoán và điều trị Cho tới nay, việc chẩn đoán bệnh chủ yếu dựa vào

các triệu chứng lâm sàng và siêu âm Doppler màu Mục tiêu của đề tài nhằm mô tả đặc điểm hình ảnh siêu

âm Tripplex và đánh giá kết quả điều trị can thiệp nút mạch trong giãn tĩnh mạch tinh Kết quả cho thấy từ

tháng 11/2010 đến tháng 06/2011, 21 bệnh nhân giãn tĩnh mạch tinh được chỉ định can thiệp nội mạch khi

hình ảnh siêu âm của tĩnh mạch tinh có đường kính lớn nhất trước khi làm nghiệm pháp Valsalva dao động

từ 2 - 2,5mm, sau khi làm nghiệm pháp dao động từ 3,4 - 5mm, tương ứng với giãn độ II là 28,57%, độ III là

71,43% Tỷ lệ can thiệp nút mạch thành công cao, đạt 92,4 - 96% Thời gian nằm viện và hồi phục sau điều

trị ngắn, trung bình 1,1 ± 0,3 ngày Biến chứng trong quá trình can thiệp là rách thành mạch (4,76%) và trôi

hóa chất gây xơ (9,52%) Theo dõi sau điều trị 3 tháng thấy thể tích tinh hoàn giảm nhiều nhất là 1,6cm³ so

với trước khi điều trị, đường kính tĩnh mạch tinh giảm trung bình -1,32 ± 0,08mm, tốc độ dòng chảy giảm

trung bình -0,39 ± 0,21mm sau khi làm nghiệm pháp Valsalva với p < 0,05

T ừ khóa: giãn t ĩ nh m ạ ch tinh, siêu âm Doppler màu

I ĐẶ T V Ấ N ĐỀ

Giãn tĩnh mạch tinh là một bệnh thường

gặp ở nam giới, chiếm khoảng 8 - 23 % nam

giới khỏe mạnh và khoảng 40% trường hợp

bệnh nhân đến khám vì hiếm muộn Việc chẩn

đoán xác định hiện nay chủ yếu dựa vào triệu

chứng lâm sàng và siêu âm Doppler màu [1]

Điều trị giãn tĩnh mạch tinh có nhiều

phương pháp như phẫu thuật thắt tĩnh mạch

tinh qua nội soi ổ bụng, mổ mở hoặc điện

quang can thiệp nút mạch Tuy nhiên, các

phương pháp này vẫn có tỷ lệ tái phát và biến

chứng như tràn dịch màng tinh hoàn, teo tinh

hoàn, tổn thương mạch Với sự tiến bộ của

điện quang can thiệp, phương pháp điều trị

giãn tĩnh mạch tinh bằng can thiệp nút mạch

ngày càng được áp dụng rộng rãi và được coi

như một phương pháp ít xâm hại nhưng rất

hiệu quả vì tỷ lệ thành công cao, tỷ lệ tái phát

và biến chứng thấp [2]

Tại Việt Nam, chẩn đoán và điều trị giãn

tĩnh mạch tinh bằng phương pháp điện quang can thiệp đã dần được áp dụng ở các bệnh

viện lớn như bệnh viện Việt Đức và bệnh viện

Bạch Mai Mặc dù vậy, các đặc điểm hình ảnh

của giãn tĩnh mạch tinh trên siêu âm Doppler màu cũng như kết quả điều trị của phương pháp điện quang can thiệp vẫn chưa được nghiên cứu đầy đủ và có hệ thống Vì vậy đề

tài được tiến hành với m ục tiêu: Mô tả đặc

điểm hình ảnh siêu âm Tripplex và đánh giá

kết quảđiều trị can thiệp nội mạch trong giãn

tĩnh mạch tinh

II ĐỐ I T ƯỢ NG VÀ PH ƯƠ NG PHÁP

1 Đối tượng

Bệnh nhân giãn tĩnh mạch tinh đến khám

và điều trị tại bệnh viện Việt Đức và bệnh viện

Bạch Mai từ tháng 11 năm 2010 đến tháng 06

năm 2011

Đị a ch ỉ liên h ệ : Tr ị nh v ă n Tu ấ n, b ộ môn Ngo ạ i, tr ườ ng

Đạ i h ọ c Y Hà N ộ i

Email: tuan_thuy@yahoo.com

Ngày nh ậ n: 26/03/2013

Ngày đượ c ch ấ p thu ậ n: 20/6/2013

Trang 2

Tiêu chuẩn lựa chọn:

- Bệnh nhân nam, không phân biệt lứa tuổi

- Giãn tĩnh mạch tinh phát hiện được trên

lâm sàng

- Chẩn đoán xác định giãn tĩnh mạch tinh

trên siêu âm Doppler màu

- Chỉ định điều trị bằng phương pháp can

thiệp nội mạch

Tiêu chuẩn loại trừ:

- Nghi ngờ giãn tĩnh mạch tinh trên lâm

sàng nhưng không có dấu hiệu giãn trên siêu

âm Tripplex

- Không được điều trị bằng phương pháp

can thiệp nội mạch

- Bệnh nhân không tái khám, không theo

dõi được trong thời gian tối thiểu 3 tháng

2 Phương pháp: mô tả tiến cứu

Kỹ thuật thực hiện Nghiên cứu thực hiện trên máy siêu âm Logig P5 của hãng GE (Mỹ), có siêu âm Doppler màu, đầu dò cong lồi 3,5 MHz và đầu

dò phẳng 7MHz

Các chỉ tiêu nghiên cứu

- Tuổi, triệu chứng lâm sàng

- Đánh giá mức độ và phân độ giãn tĩnh

mạch tinh trên lâm sàng theo phân độ của Tổ

chức Y tế Thế giới [3]

- Đánh giá mức độ và phân độ giãn tĩnh

mạch tinh trên siêu Doppler theo phân độ của Cornud [4] (bảng 1)

Bảng 1 Phân độ giãn tĩnh mạch tinh trên lâm sàng và siêu âm Doppler màu

Phân độ Giãn tĩnh mạch tinh

trên lâm sàng [3]

Giãn tinh mạch tĩnh trên siêu âm

Doppler màu [4]

I Sờ thấy búi tĩnh mạch giãn khi làm

nghiệm pháp Valsalva

Dòng trào ngược tồn tại dưới 1 giây và

được coi như dòng trào ngược sinh lý

II Sờ thấy bùi tĩnh mạch giãn khi nghỉ

ngơi nhưng không nhìn thấy

Dòng trào ngược tồn tại dưới 2 giây, giảm

dần trong khi làm nghiệm pháp Valsalva và

biến mất trước khi kết thúc nghiệm pháp

III Búi tĩnh mạch giãn có thể sờ và nhìn

thấy khi nghỉ ngơi

Dòng trào ngược tồn tại trên 2 giây, có hình cao nguyên trong suốt thời gian làm nghiệm pháp Valsalva

- Đánh giá kết quả của thủ thuật và hiệu

quảđiều trị:

+ Trong và ngay sau khi làm thủ thuật:

phân loại giải phẫu tĩnh mạch tinh, số lượng

Coil sử dụng, số nhánh bên cần nút, kết quả

điều trị: tắc hoàn toàn hoặc không hoàn toàn;

biến chứng: trôi Coil, tổn thương thành mạch,

huyết khối tĩnh mạch

+ Sau thời gian 3 tháng: dựa trên các kết

quả siêu âm, xét nghiệm tinh dịch đồ, nội tiết

tố nam đồng thời theo dõi các biến chứng

muộn như tràn dịch màng tinh hoàn, teo tinh

3 Đạo đức nghiên cứu

Nghiên cứu thực hiện trực tiếp trên bệnh nhân nên các thông tin riêng về bệnh tật trong

hồ sơ bệnh án được gắn mã số đểđảm bảo tính chính xác, hoàn toàn được bảo mật và chỉ được sử dụng cho mục đích nghiên cứu

III K Ế T QU Ả

Từ 11/2010 đến 06/2011, sử dụng siêu âm Doppler màu, chúng tôi đã chẩn đoán giãn

tĩnh mạch tinh cho 21 trường hợp với độ tuổi trung bình 23,7 ± 5,07 (dao động 12 - 34 tuổi),

Trang 3

trong đó thường gặp nhất từ 21 - 28 tuổi

Triệu chứng lâm sàng gặp nhiều nhất là đau

tức vùng bìu 14/21 (66,7%), tự sờ thấy búi

giãn tĩnh mạch 7/21 (33,3%), chậm con 4/21

(19,1%), tăng bài tiết mồ hôi vùng bìu 4/21

(19,1%) và tái phát sau điều trị can thiệp

mạch 3/21 (14,3%)

Chỉ định siêu âm Doppler màu để chẩn

đoán bệnh lý giãn tĩnh mạch tinh Hình ảnh búi giãn thay đổi trên siêu âm trước và sau khi làm nghiệm pháp Valsalva được ghi nhận (bảng 2)

Bảng 2 Đặc điểm hình ảnh của giãn tĩnh mạch tinh trên siêu âm Doppler màu

Thời điểm làm siêu âm

Doppler màu

Đường kính búi tĩnh

Trước khi làm nghiệm pháp

Valsalva

Sau khi làm nghiệm pháp

Valsalva

Đánh giá mức độ giãn tĩnh mạch tinh trên lâm sàng dựa vào sờ hoặc quan sát thấy búi giãn

tĩnh mạch theo tiêu chuẩn của Tổ chức Y tế Thế giới [3] và dòng máu trào ngược theo thời gian

trước và sau khi làm nghiệm pháp valsava trên siêu âm Doppler màu theo tiêu chuẩn của Cornud

[4], kết quả trong bảng 3

Bảng 3 phân độ giãn tĩnh mạch tinh trên lâm sàng và siêu âm

Chỉ định can thiệp mạch đểđiều trị búi giãn

tĩnh mạch bằng vật liệu coils kim loại hoặc dung

dịch keo sinh học để gây xơ tắc mạch Kết quả

tất cả 21 bệnh nhân đều được nút tắc hoàn toàn

tĩnh mạch tinh giãn Biến chứng trong quá trình

can thiệp gồm tổn thương thành mạch 1/21

(4,76%) và trôi hóa chất nút mạch 2/21 (9,52%)

Thời gian nằm viện trung bình là 1,1 ± 0,3 ngày (dao động từ 1 - 2 ngày)

Theo dõi sau 3 tháng thấy đường kính trung bình của tĩnh mạch tinh sau làm nghiệm pháp Valsalva giảm trung bình là -1,32 ± 0,08mm (dao động từ -1,5 - 0,5mm), tốc độ

dòng chảy giảm sau khi làm nghiệm pháp là

Trang 4

- 0,39 ± 0,21mm (dao động từ -0,6 - 0,8mm)

Thể tích tinh hoàn không có sự thay đổi trước

và sau điều trị với p < 0,05 Có 2 trường hợp

(9,52%) vẫn còn dòng trào ngược độ II sau

điều trị và 3 trường hợp (14,28%) có tràn dịch

màng tinh hoàn Không có tỷ lệ tái phát trong

toàn bộ nghiên cứu

IV BÀN LU Ậ N

Về tuổi: trong 21 bệnh nhân được nghiên

cứu, tuổi trung bình là 23,7 ± 5,07 (dao động

từ 12 - 31 tuổi nhưng nhóm tuổi hay gặp nhất

là từ 21 - 28 chiếm tỷ lệ 61,9% (13/21 bệnh

nhân) Tỷ lệ này phù hợp với các nghiên cứu

của Meachman và Kursh với 22% nam giới

khỏe mạnh có giãn tĩnh mạch tinh, trong đó

68% là nam giới trẻ tuổi [5; 6] Nguyên nhân

giãn tĩnh mạch tinh hay gặp ở lứa tuổi này là

do sự phát triển nhanh về kích thước của tĩnh

mạch tinh và các hoạt động thể lực mạnh, đặc

biệt ở những người chơi thể thao

Lâm sàng: đau tức vùng bìu là triệu chứng

phổ biến nhất khiến bệnh nhân đến khám

(66,7%) Có thể sờ thấy búi tĩnh mạch giãn đi

kèm với đau tức vùng bìu bẹn Đối với những

trường hợp đến khám vì chậm con và búi giãn

tĩnh mạch tái phát sau điều trị can thiệp mạch

thì tỷ lệ bệnh lần lượt là 19,1% và 14,3%

Theo Kocvara, tỷ lệ giãn tĩnh mạch tinh trong

các bệnh nhân chậm con là 40% còn theo

Yavetz, tỷ lệ tái phát giãn tĩnh mạch tinh sau

can thiệp mạch là 37% [7; 8] Sự chênh lệch

tương đối lớn giữa kết quả nghiên cứu của

chúng tôi với các tác giả trên có thể là do cách

lựa chọn bệnh nhân nghiên cứu

Đối với hình ảnh của giãn tĩnh mạch tinh

trên siêu âm Doppler màu (hình 1), chúng tôi

thấy đường kính lớn nhất của búi tĩnh mạch

tinh vùng bìu trước khi làm nghiệm pháp

Valsalva hay gặp là từ 2 - 2,5mm (42,86%), sau khi làm nghiệm pháp thường giãn từ 3,4 -5mm (61,9%) Độ nhạy của siêu âm trong

chẩn đoán tĩnh mạch tinh đã được khẳng định qua nhiều nghiên cứu Theo Petros, tỷ lệ giãn

tĩnh mạch tinh trên lâm sàng là 71% và trên siêu âm 93 % [9] Theo Hoekstra thấy chỉ khi

tĩnh mạch tinh giãn từ 3 - 3,5 mm thì mới có

thể sờ thấy trên lâm sàng [10]

Đối với chỉ định điều trị nút mạch: tỷ lệ gặp dòng trào ngược mức độ III trên siêu âm là 15

bệnh nhân (71,43%), phù hợp với lâm sàng khi mà các bệnh nhân giãn tĩnh mạch độ III

cũng hay gặp nhất (66,7%) Việc đánh giá dòng trào ngược tĩnh mạch giúp làm tăng độ

nhạy, độ đặc hiệu của siêu âm trong chẩn

đoán giãn tĩnh mạch tinh Nghiên cứu của Cornud [4] trên 403 bệnh nhân được siêu âm,

chụp tĩnh mạch trước nút mạch cho thấy dòng trào ngược độ III luôn cho kết quả dương tính trên chụp tĩnh mạch Đối với dòng trào ngược

độ II thì tỷ lệ này chiếm tới 80% Tác giả cho

rằng với những bệnh nhân không có triệu

chứng lâm sàng thì dòng trào ngược mức độ

III mới cần điều trị (hình 2)

Hình 1 Giãn tĩnh mạch tinh trái sau khi làm

nghiệm pháp Valsalva

Trang 5

Hình 2 Dòng trào ngược độ III

Với những trường hợp có chỉ định điều trị

nút giãn tĩnh mạch tinh độ III trên lâm sàng

(66,7%) thì có 7 bệnh nhân giãn độ II trên siêu

âm Doppler màu (33,3%), không có trường

hợp nào giãn độ I Nghiên cứu của Chiou [11]

trên 127 trường hợp giãn tĩnh mạch tinh cho

thấy có 59 bệnh nhân giãn độ III (46,5%), 57

bệnh nhân giãn độ II (44,9%) và 11 bệnh nhân

giãn độ I (8,7%) với độ nhậy trên siêu âm

Doppler lần lượt là 100% với giãn độ II và III

và 32% với giãn độ I Việc phần lớn các

trường hợp được nút tĩnh mạch tinh đều giãn

ở mức độ III phù hợp với các triệu chứng lâm

sàng khi mà đau và tự sờ thấy các búi tĩnh

mạch giãn ở vùng bìu là các triệu chứng chính

khiến bệnh nhân đến khám bệnh

Kết quả điều trị cho thấy 100% bệnh nhân

gây tắc được hoàn toàn tĩnh mạch tinh bằng

phương pháp can thiệp nút mạch Tỷ lệ thành

công của phương pháp đạt tới 92,4 - 96%,

tương đương với kết quả của các tác giả

nước ngoài [4, 8] Biến chứng trong quá trình

can thiệp là rách thành mạch (4,76%) và trôi

hóa chất gây xơ (9,52%) tương đương với

nghiên cứu của Cornud là từ 5 - 11% [4]

Thời gian nằm viện trong nghiên cứu trung

bình là 1,1 ± 0,3 ngày, tương đương nghiên

cứu của các tác giả nước ngoài [4; 6; 8] Thời

gian nằm viện ngắn và người bệnh hồi phục nhanh sau can thiệp là một ưu điểm lớn so với các phương pháp điều trị khác vì thế người ta

thường chọn phương pháp can thiệp nút

mạch hơn là chọn phương pháp điều trị bằng

phẫu thuật

Theo dõi sau 3 tháng điều trị chúng tôi thấy

hầu như thể tích tinh hoàn hai bên không bị

ảnh hưởng, không có biến chứng teo tinh hoàn Thể tích tinh hoàn giảm nhiều nhất sau

điều trị là 1,6 cm³ (giảm dưới 20% so với thể

tích trước khi điều trị) Theo Cornud, khác với các phương pháp điều trị phẫu thuật, biến

chứng teo tinh hoàn rất ít gặp trong quá trình can thiệp nút mạch do không làm tổn thương

hệ bạch huyết [4]

Sau điều trị can thiệp mạch, đường kính trung bình và tốc độ dòng chảy của tĩnh mạch tinh khi làm nghiệm pháp Valsalva giảm đi rõ

rệt (p < 0,05) Nhiều nghiên cứu cũng cho

thấy, tốc độ dòng chảy và đường kính tĩnh

mạch tinh sau can thiệp giảm về giá trị bình

thường [1; 2; 7]

Nghiên cứu của chúng tôi có 2 trường hợp (9,52%) vẫn còn dòng trào ngược độ II sau

điều trị Theo một số tác giả [7; 10; 11], trong

trường hợp dòng trào ngược tồn tại sau điều

trị xuất phát từ tĩnh mạch tinh ngoài thì cần

Trang 6

phối hợp đánh giá cả đường kính tĩnh mạch

để theo dõi tái phát sau điều trị: Cornud cho

rằng, nhiều trường hợp dòng trào ngược độ III

(70%) sau điều trị có thể chuyển sang độ II

(20%) Đối với độ II, dòng trào ngược chỉ hết

trong 50% số trường hợp [4]

V K Ế T LU Ậ N

Siêu âm Doppler màu để chỉđịnh nút giãn

tĩnh mạch tinh khi đường kính lớn nhất của

búi tĩnh mạch tinh vùng bìu trước khi làm

nghiệm pháp Valsalva từ 2 - 2,5mm (42,86%),

sau khi làm nghiệm pháp từ 3,4 - 5mm (61,9%)

Điều trị bằng can thiệp nút giãn tĩnh mạch

tinh cho tỷ lệ thành công đạt tới 92,4 - 96%

Biến chứng trong quá trình can thiệp điều trị là

rách thành mạch (4,76%) và trôi hóa chất gây

xơ (9,52%) Thời gian nằm viện và hồi phục

sau điều trị ngắn, trung bình là 1,1 ± 0,3 ngày

Theo dõi sau điều trị 3 tháng thể tích tinh hoàn

giảm không đáng kể so với trước khi điều trị

(< 20%), đường kính trung bình và tốc độ

dòng chảy của tĩnh mạch tinh khi làm nghiệm

pháp Valsalva đều giảm đi rõ rệt (p < 0,05)

L ờ i c ả m ơ n

Nhóm nghiên cứu xin chân thành cảm ơn

khoa Chẩn đoán Hình ảnh, bệnh viện Việt

Đức và bệnh viện Bạch Mai đã giúp đỡ trong

quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài

TÀI LI Ệ U THAM KH Ả O

1 Kocvara R et al (2005) Lymphatic

sparing laparoscopic varicocelectomy: a

mi-crosurgical repair J Urol, 173(5), 1751 - 1754

2 Lord DJ, Burrows PE (2003) Pediatric

varicocele embolization, Tech Vasc Interv

Ra-diol 6(4), 169 - 175

3 WHO (2000) WHO Manual for the Stan

dardized Investigation, Diagnosis and Man-agement of the Infertile Male: Cambridge, Cambridge University Press

4 Cornud et al (1992) Traitement non

chirurgical des varicocèle par embolisation des veines spermatiques et intérêt du Dop-pler couleur dans le bilan pré et post-

embo-lisation Contraception, fertilité, sexualité, 20

(11), 1048 - 1053

5 Meacham RB et al (1994) The

inci-dence of varicoceles in the general population when evaluated by physical examination, gray scale sonography and color Doppler

sono-graphy J Urol, 151(6), 1535 - 1538

6 Kursh ED (1987) What is the incidence

of varicocele in a fertile population?, Fertil

Steril 48(3), 510 - 511

7 Kocvara R et al (2005) Lymphatic

spar-ing laparoscopic varicocelectomy: a

microsur-gical repair J Urol, 173(5), 1751 - 1754

8 Yavetz H et al (1992) Efficacy of

varico-cele embolization versus ligation of the left internal spermatic vein for improvement of sperm quality, International Journal of

Androl-ogy 15(4), 338 - 344

9 Petros JA et al (1991) Correlation of

testicular color Doppler ultrasonography, phy-sical examination and venography in the de-tection of left varicoceles in men with infertility

J Urol, 145 (4), 785 - 788

10 Hoekstra, Todd, Michael AW (1995)

The Correlation of Internal Spermatic Vein Palpability With Ultrasonographic Diameter and Reversal of Venous Flow, The Journal of

Urology 153(1), 82 - 84

11 Chiou RK et al (1997) Color Doppler

ultrasound criteria to diagnose varicoceles: correlation of a new scoring system with physical

examination Urology, 50(6), 953 - 956.

Trang 7

Summary IMAGE CHARACTERISTICS OF TRIPPLEX ULTRASOUND AND

RE-SULTS OF INTRAVASCULAR INTERVENTION IN VARICOCELE

Varicocele disease is common in healthy male which cause difficulty to have children, even

infertility if the condition was not diagnosed and treated Today the diagnosis is mainly based on

clinical symptoms and Tripplex ultrasound The purpose of this study is to describe the

character-istics of Tripplex ultrasound and to assess the result of vascular button intervention in varicocele

Results: 21 patients were diagnosed with varicocele by Tripplex ultrasound and underwent

intravascular intervention when the intravenous ultrasound images were largest in diameter

ranged from 2 to 2.5mm before doing the Valsalva test and from 3.4 to 5mm after doing the

Valsalva test, corresponding to grade II at 28.57% and grade III at 71.43% The rate of vascular

intervention was highly successful, reaching 92.4 - 96% The duration of the hospitalization and

recovering time after treatment averaged 1.1 ± 0.3 days The side effect of vascular rupture was

4.76% during surgery and drifting chemicals which cause cirrhosis (9.52%) After 3 months of

treatment the semen volume was r reduced to at most 1.6cm³ compared to before treatment, the

vein diameter was reduced to an average of -1.32 ± 0.08mm, and the flow rate was decreased on

the average to - 0.39 ± 0.21mm after doing the Valsalva test with p < 0.05

Keywords: varicocele, Tripplex ultrasound

Ngày đăng: 19/01/2020, 22:30

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w