1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Kiến thức về chế độ ăn của bệnh nhân đái tháo đường type 2 tại Việt Nam

7 180 6

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 370,31 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu của nghiên cứu này là khảo sát mối liên quan giữa kiến thức về chế độ ăn và đặc điểm dân số học của bệnh nhân đái tháo đường điều trị tại bệnh viện đa khoa quận 11. Mời các bạn cùng tham khảo bài viết để nắm rõ nội dung chi tiết của đề tài nghiên cứu này.

Trang 1

KIẾN THỨC VỀ CHẾ ĐỘ ĂN   CỦA BỆNH NHÂN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TYPE 2 TẠI VIỆT NAM 

Nguyễn Thị Ngọc Cần*, Chiung – Man Wu**, Nguyễn Duy Hùng*, Nguyễn Ngọc Duy*** 

TÓM TẮT 

Đặt vấn đề: Kiểm soát chế độ ăn là một thành phần không thể thiếu trong kiểm soát và chăm sóc đái tháo 

đường (ĐTĐ) và ngày nay càng được quan tâm trong bối cảnh tại Việt Nam. Tuy nhiên một số nghiên cứu cho  thấy kiến thức của bệnh nhân về ĐTĐ trong đó có kiến thức về chế độ ăn tương đối kém. Thực trạng này cũng  xảy ra đối với bệnh nhân mắc ĐTĐ tại bệnh viện đa khoa quận 11. Tuy nhiên cho đến thời điểm thực hiện đề tài  này chưa có một nghiên cứu nào khảo sát kiến thức về dinh dưỡng và kiểm soát chế độ ăn của bệnh nhân ĐTĐ  tại bệnh viện quận 11. Xuất phát từ thực tế đó, việc tiến hành một nghiên cứu khảo sát kiến thức về kiểm soát chế 

độ ăn của bệnh nhân ĐTĐ tại bệnh viện đa khoa quận 11 là điều cần thiết. 

Mục tiêu: Mục tiêu của nghiên cứu này là khảo sát mối liên quan giữa kiến thức về chế độ ăn và đặc điểm 

dân số học của bệnh nhân ĐTĐ điều trị tại bệnh viện đa khoa quận 11. 

Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang thực hiện tại bệnh viện đa khoa quận 11 từ tháng 1/3 đến 

15/3/2014. Tổng cộng 385 bệnh nhân được đưa vào nghiên cứu và phỏng vấn với bộ câu hỏi cấu trúc liên quan  đến 5 khía cạnh của kiến thức chế độ ăn bao gồm kiến thức về thành phần dinh dưỡng chính, kiến thức về vai trò  của nhóm thực phẩm, kiến thức về lập chế độ ăn, kiến thức về quy tắc nấu thức ăn và kiến thức về đọc nhãn dinh  dưỡng. Mối liên quan giữa các biến số được kiểm bằng các phép kiểm t‐test, ANOVA một chiều với mức ý nghĩa  thống kê p=0,05. Các phép kiểm được thực hiện bằng phần mềm SPSS v.16.  

Kết quả: Trong số 385 bệnh nhân tham gia nghiên cứu có 269 (69,87%) bệnh nhân là nữ. Tuổi trung bình 

của bệnh nhân là 61,69 ± 9,94, và 77,14% đã lập gia đình. Kinh là dân tộc chiếm tỷ lệ chủ yếu (71,95%), và  48,6% là nội trợ. 87,79% bệnh nhân có trình độ học vấn từ tiểu học đến trung học cơ sở. Hầu như tất cả bệnh  nhân  (90.39%)  có  thu  nhập  gia đình <3  triệu đồng. Điểm  kiến  thức  chế  độ  ăn chung  trung bình  của  các đối  tượng là 30.94 ± 13.82 (0‐73). Giới có mối tương quan mạnh với kiến thức chế độ ăn trong đó nam bệnh nhân có  kiến thức cao hơn so với nữ bệnh nhân (p = 0.02). Ngoài ra bệnh nhân có độ tuổi từ 45 ‐ 54 có điểm kiến thức cao  nhất, trong khi bệnh nhân tuổi từ 35 ‐ 44 có điểm kiến thức thấp nhất. Bệnh nhân có trình độ học vấn cao hơn có  nhiều khả năng có kiến thức chế độ ăn cao hơn so với những bệnh nhân có trình độ học vấn thấp (p< 0.001). Bệnh  nhân có thu nhập cao có nhiều khả năng có kiến thức cao hơn so với những bệnh nhân có thu nhập thấp hơn (p<  0.001). Thời gian mắc ĐTĐ có tác động đến kiến thức của bệnh nhân trong đó bệnh nhân càng có thời gian mắc  ĐTĐ càng lâu sẽ có kiến thức càng cao (p = 0.003). Bệnh nhân có anh/chị/em mắc ĐTĐ cũng có kiến thức cao  nhất (p < 0.001). Bệnh nhân điều trị ĐTĐ >5 năm cũng có kiến thức cao hơn so với các nhóm khác và sự khác  biệt này cũng có ý nghĩa thống kê (p=0.003). 

Kết  luận: Có thể thấy rằng kiến thức về chế độ ăn của bệnh nhân ĐTĐ không cao. Từ các phát hiện của 

nghiên cứu này chúng tôi khuyến cáo cần thành lập một nhóm tư vấn dinh dưỡng tại bệnh viện với mục đích đào  tạo và tư vấn kiến thức về chế độ ăn cho bệnh nhân ĐTĐ. 

Từ khóa: kiến thức về đái tháo đường, đái tháo đường 

* Bệnh viện đa khoa quận 11  **: Đại học Meiho, Đài Loan 

***: Viện Y tế Công cộng thành phố Hồ Chí Minh 

Tác giả liên lạc: Ths. Nguyễn Thị Ngọc Cần    ĐT: 0903389529  Email: cantrang69@gmail.com 

Trang 2

ABSTRACT 

DIETARY KNOWLEDGE OF PATIENTS WITH TYPE 2 DIABETES IN VIETNAM 

Nguyen Thi Ngoc Can, Chiung – Man Wu, Nguyen Duy Hung, Nguyen Ngoc Duy 

* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 18 ‐ Supplement of No 6‐ 2014: 486 – 492 

Background: Dietary management is an integral part of diabetes care and management and it is currently 

received  more  concerns  in  health  care  services  among  regions  around  Vietnam.  However,  studies  have  been  showed that knowledge of patients with diabetes, including dietary knowledge, was relatively poor. The situation 

in General Hospital District 11 was the same. Nevertheless until the time of doing the present study there are not  any  surveys  on  assessment  of  knowledge  of  nutrition  and  diet  control  of  diabetes  patients  conducted  in  the  General Hospital District 11. From that point of view, it is necessary to conduct a study to investigate knowledge 

on dietary management of diabetic patients in General Hospital District 11.  

Objectives:  To  explore  the  relationships  between  dietary  knowledge  and  demographic  characteristics  of 

diabetic patients who were treated at General Hospital District 11.  

Methods: A cross‐sectional study was carriedout at General Hospital District 11 from March 1 to April 15, 

2014.  In  total,  a  random  sample  of  385  patients  wasinterviewed  with  a  structured  questionnaire  designed  to  assess five aspects of dietary knowledge, including knowledge about key nutrients, the role of food groups, meal  planning, cooking rules and nutritional label reading. The significance of the results was assessed by t‐test or one  way ANOVAat p‐value of 0.05 using SPSS version 16.  

Result:  Among  385  participants,  269  (69.87%)  patients  were  female.  The  mean  age  of  participants  was 

61.69 ± 9.94, and 77.14% were married. Kinh constituted the majority of the population (71.95%), and 48.6%  were housewives. Regarding to level of education, 87.79% patients had finished education from primary school to  high  school.  Nearly  all  of  patients  (90.39%)  had  family  income  under  3  million  dong.  The  mean  total  dietary  knowledge score among patients was 30.94 ± 13.82 (0‐73). Gender had strong association with dietary knowledge 

in which male patients had higher knowledge than female patients (p=0.02). Furthermore, patients aged from 45 

to 54 years old had the highest score of knowledge, meanwhile patients aged from 35 to 44 years old had lowest  score. Patients who had higher education were likely to have higher dietary knowledge than patients with lower  education  (p  <0.001).  Patients  with  higher  income  had  higher  knowledge  than  low  income  patients  as  well  (p 

<0.001). Duration of diabetes had an impact on dietary knowledge in which patients had longer duration would  have higher knowledge (p=0.003). Patients who had siblings with diabetes had the highest score of knowledge (p 

<0.001).  Patients  who  had  treatments  more  than  five  years  had  higher  knowledge  score  than  other  groups  of  patients, and these differences had a statistically significance (p=0.003). 

Conclusion: It could be concluded that the dietary knowledge among participants was not high. From the 

findings,  establishing  a  nutritional  team  within  the  hospital  to  hold  training  course  and  consult  dietary  knowledge toward patients with diabetes was necessary.  

Keywords: dietary knowledge, diabetes. 

ĐẶT VẤN ĐỀ 

ĐTĐ  hiện nay  là  vấn  đề  y  tế  công  cộng nổi 

cộm trên thế giới. Năm 2011, số người mắc ĐTĐ 

trên thế giới là 366 và ước tính con số này sẽ lên 

đến  552  triệu  người  vào  năm  2030(4).  Tại  Việt 

Nam Vào năm 2012, số hiện mắc ĐTĐ chiếm 4% 

tổng  dân  số  còn  số  mắc  tiền  ĐTĐ  lên  đến  10%  dân  số  chung.  Ước  tính  rằng  đến  năm  2025,  số  hiện mắc ĐTĐ trên toàn quốc sẽ là 3 triệu người.  Kiểm soát chế độ ăn là một phần không thể  thiếu trong chăm sóc và kiểm soát ĐTĐ. Chế độ 

ăn hợp lý đã từ lâu được chứng minh là có khả 

Trang 3

năng  cải  thiện  lượng  đường  huyết  trong  cơ  thể 

thông  qua  việc  làm  giảm  lượng  glycated 

hemoglobin (A1C) từ 1,0% đến 2,0%. Tuy nhiên, 

nhiều  nghiên  cứu  cho  thấy  rằng  bệnh  nhân 

thường  thực  hành  không  đầy  đủ  về  kiểm  soát 

chế độ ăn và điều này thường là do bệnh nhân 

có  kiến  thức  kém  về  kiểm  soát  chế  độ  ăn  dành 

cho người ĐTĐ(1,2,3).  

Tại  bệnh  viện  đa  khoa  quận  11,  có  khoảng 

26,292  bệnh  nhân  đến  khám  và  điều  trị  ĐTĐ 

trong  năm  2012,  trong  đó  có  26.203  bệnh  nhân 

ngoại trú và 89 bệnh nhân nội trú. Những thông 

tin  bệnh  nhân  nhận  được  chủ  yếu  là  các  lời 

khuyên căn bản về dinh dưỡng từ bác sĩ và điều 

dưỡng  trong  suốt  quá  trình  điều  trị  tại  bệnh 

viện.  Tuy  nhiên  cho  đến  thời  điểm  khảo  sát 

nghiên cứu này chưa có bất kỳ cuộc khảo sát hay 

nghiên  cứu  nào  đánh  giá  kiến  thức  về  dinh 

dưỡng cũng như kiểm soát chế độ ăn của bệnh 

nhân ĐTĐ tiến hành tại bệnh viện đa khoa quận 

11. Từ quan điểm đó, việc tiến hành một nghiên 

cứu  khảo  sát  kiến  thức  về  kiểm  soát  chế  độ  ăn 

của bệnh nhân ĐTĐ tại bệnh viện đa khoa quận 

11 là điều hết sức cần thiết. kết quả của nghiên 

cứu  sẽ được  sử  dụng  làm  cơ  sở  dữ liệu  để  ban 

lãnh  đạo  bệnh  viện  xây  dựng  một  đội  ngũ 

chuyên viên tư vấn về các vấn đề dinh dưỡng và 

chế độ ăn cho bệnh nhân ĐTĐ. 

Mục tiêu nghiên cứu 

Xác  định  kiến  thức  về  chế  độ  ăn  của  bệnh 

nhân  ĐTĐ  và  mối  liên  quan  giữa  kiến  thức  và 

các  đặc  điểm  dân  số  học,  tiền  sử  bệnh  lý  của 

bệnh nhân. 

ĐỐI  TƯỢNG – PHƯ ƠNG PHÁP NGHIÊN  CỨU 

Thiết  kế  cắt  ngang  mô  tả  tại  bệnh  viện  đa 

khoa  quận  11  từ  1/3‐15/4/2014.  Đối  tượng 

nghiên  cứu  là  385  bệnh  nhân  ĐTĐ  >18  tuổi 

điều  trị  tại  bệnh  viện  trong  khoảng  thời  gian 

nghiên  cứu.  Những  bệnh  nhân  bị  loại  ra  khỏi 

nghiên  cứu  khi  có  các  rối  loạn  về  tâm  thần 

hoặc  tâm  lý  hoặc  các  bệnh  ngăn  trở  họ  thực 

hiện  cuộc  phỏng  vấn.  Ngoài  ra,  những  bệnh 

nhân không thể thực hiện phỏng vấn vì có các 

khuyết  tật  thể  chất  như  mù,  câm,  điếc  cũng  được loại ra khỏi nghiên cứu. 

Kỹ  thuật  lấy  mẫu  ngẫu  nhiên  đơn  được  áp  dụng trong nghiên cứu này để thu thập mẫu. Có  tổng  cộng  1765  bệnh  nhân  ĐTĐ  đến  khám  tại  bệnh viện từ 1/3‐1/4 năm 2014. Mỗi bệnh nhân sẽ  được  đánh  mã  số  thứ  tự  (số  ID).  Chúng  tôi  sử  dụng  bảng  số  ngẫu  nhiên  để  chọn  ra  385  bệnh  nhân từ 1765 bệnh nhân. Mỗi số chọn ra từ bảng  ngẫu  nhiên  sẽ  tượng  trưng  cho  một  bệnh  nhân 

có số ID trùng khớp. Nếu số được chọn từ bảng 

số  vượt  quá  1765  thì  sẽ  bỏ  và  chọn  lại  số  khác.  Quá trình chọn số sẽ kết thúc khi lấy đủ 385 số.  Phương  pháp  phỏng  vấn  mặt  đối  mặt  sẽ  được 

sử dụng để thu thập thông tin từ bệnh nhân. Đối  với những bệnh nhân ngoại trú, nếu họ đến tái  khám  tại  bệnh  viện  trong  thời  gian  nghiên  cứu 

sẽ  được  phỏng  vấn  tại  chỗ  tái  khám.  Nếu  họ  không đến tái khám sẽ được nhân viên đến tận  nhà  phỏng  vấn.  Đối  với  những  bệnh  nhân  nội  trú, cuộc phỏng.  

Bộ  câu  hỏi  phỏng  vấn  được  xây  dựng  dựa  trên  các  đề  tài  nghiên  cứu  trước  đó,  các  hướng  dẫn quốc tế về chế độ ăn cho bệnh nhân ĐTĐ và 

ý  kiến  của  các  chuyên  gia  dinh  dưỡng.  Bộ  câu  hỏi bao gồm 51 chia làm 3 phần: 12 câu hỏi liên  quan  đến  các  đặc  điểm  dân  số  xã  hội  học  của  bệnh  nhân:  Tuổi,  tình  trạng  hôn  nhân,  trình  độ  học vấn, thu nhập hàng tháng, giới tính, dân tộc,  tham  dự  lớp  tập  huấn/hội  thảo  về  kiểm  soát  ĐTĐ),  các  chỉ  số  nhân  trắc  học,  4  câu  hỏi  bao  gồm loại ĐTĐ, thời gian ĐTĐ, tiền sử gia đình,  loại điều trị, gồm 35 câu hỏi liên quan đến 5 khía  cạnh về kiến thức chế độ ăn bao gồm dưỡng chất  chính và nhóm thực phẩm (12 câu), vai trò nhóm  thực phẩm trong kiểm soát ĐTĐ (2 câu), lập chế 

độ ăn (12 câu), phương pháp nấu ăn (4 câu), và  đọc nhãn dinh dưỡng (5 câu).  

Nghiên cứu sử dụng phần mềm SPSS v16 để  nhập liệu và phân tích số liệu. Đối với thống kê 

mô  tả,  dùng  bảng  phân  phối  tần  suất  đối  với  biến định tính và trung bình, độ lệch chuẩn với  biến  định  lượng.  Đối  với  thống  kê  phân  tích, 

Trang 4

dùng  kiểm  định  t‐test/ANOVA  để  kiểm  định 

mối  liên  quan  giữa  các  kiến  thức  chế  độ  ăn  và 

đặc điểm bệnh nhân. P <0,05 được chọn làm mức 

có ý nghĩa thống kê. 

KẾT QUẢ 

Đặc điểm của mẫu nghiên cứu 

Bảng 1: Các đặc điểm của mẫu nghiên cứu (n=385) 

Tuổi [TB ± ĐLC (khoảng)] tuổi 61,69 ± 9,94 (35-88)

Tình trạng hôn

nhân

Lập gia đình 297 77,14

Góa bụa 57 14,81

Nghề nghiệp

Nhân viên văn

Lao động phổ

Nội trợ 187 48,57 Thất nghiệp 54 14,03

Trình độ học

vấn

Thất học 29 7,53 Tiểu học 140 36,36

Trung học phổ

Đại học 17 4,42 Sau đại học 1 0,26 Thu nhập gia

đình

<1 triệu đồng 89 23,12

Dự lớp tập huấn về chế độ ăn

Cơ quan y tế

tổ chức lớp

tập huấn

(n=38)

Bệnh viện quận

Trạm y tế 7 18,42

Thời gian mắc

ĐTĐ

<1 năm 49 12,73 1-5 năm 246 63,90

>5 năm 90 23,38

Tiền sử gia đình mắc ĐTĐ

Cha/mẹ 67 17,4

Anh/chị/em 76 19,74

Loại điều trị

Insulin 10 2,60 Thuốc đường

Insulin & thuốc

Thời gian điều trị

<1 năm 50 12,99 1-5 năm 249 64,68

>5 năm 86 22,34

Có  tổng  cộng  385  bệnh  nhân  tham  gia  nghiên  cứu.  Trong  số  này  269  (69.87%)  bệnh  nhân là nữ. Tuổi trung bình của các đối tượng là  61.69 ± 9.94. Có 77.14% bệnh nhân lập gia đình,  trong  khi  tỷ  lệ  góa  bụa  chiếm  14,81%.  Dân  tộc  Kinh chiếm tỷ lệ lớn nhất trong nghiên cứu này  (71,95%).  Nội  trợ,  thất  nghiệp  và  kinh  doanh  là 

ba  ngành  nghề  chiếm  tỷ  lệ  cao  nhất  (48,57%,  14,03%,  và  11,95%).  Đối  với  trình  độ  học  vấn  87,79%  bệnh  nhân  đã  tốt  nghiệp  tiểu  học  và  trung học. Hầu như tất cả bệnh nhân (90,39%) có  thu  nhập  gia  đình  <3  triệu  đồng,  trong  đó  có  67,27%  có  thu  nhập  từ  1‐3  triệu  đồng.  Chỉ  có  38/385  bệnh  nhân  (9,97%)  đã  từng  tham  dự  các  lớp tập huấn/hội thảo liên quan đến kiến thức về  chế độ ăn dành cho bệnh nhân ĐTĐ. Cơ sở y tế 

tổ chức các buổi tập huấn, hội thảo này là bệnh  viện  đa  khoa  quận  11  (57,89%)  và  trạm  y  (18,42%);  các  cơ  quan  khác  bao  gồm  trung  tâm  dinh dưỡng thành phố Hồ Chí Minh, bệnh Chợ  Rẫy, bệnh viện Hùng Vương.  

Chỉ  số  BMI  trung  bình  của  bệnh  nhân  là  23,63 ± 3,39. Phân lớn bệnh nhân đã mắc ĐTĐ > 

1 năm trong đó có 63,90% mắc ĐTĐ từ 1‐5 năm. 

Cha mẹ (17,4%) và anh/chị/em (19,74%) là những  người thân bệnh nhân có tiền sử mắc ĐTĐ nhiều  nhất.  Thuốc  điều  trị  ĐTĐ  đường  uống  là  phương  pháp  điều  trị  ĐTĐ  phổ  biến  nhất  của  các bệnh nhân (89,35%) và > 85% bệnh nhân đã  điều trị ĐTĐ > 1 năm. 

Trang 5

Kiến thức về chế độ ăn của bệnh nhân đái 

tháo đường  

Bảng 2: Các kiến thức khía cạnh và kiến thức chung 

về chế độ ăn của bệnh nhân (n=385) 

Kiến thức TB ± ĐLC (KGT)

Kiến thức về dưỡng chất chính và

nhóm thực phẩm

8,44 ± 6,96 (0-31) Kiến thức về vai trò nhóm thực phẩm 6,21 ± 4,15 (0-15)

Kiến thức về phương pháp lập chế

độ ăn

11,94 ± 4,00 (0-19) Kiến thức về phương pháp nấu thức

ăn

4,04 ± 1,95 (0-7) Kiến thức về đọc nhãn dinh dưỡng 0,31 ± 1,61 (0-10)

Kiến thức chung về chế độ ăn 30,94 ± 13,82 (0-73)

Kết  quả  cho  thấy  bệnh  nhân  có  điểm  kiến 

thức về phương pháp nấu thức ăn tương đối cao 

11,94 ± 4,00 (0‐19). Bệnh nhân chỉ có điểm thấp ở 

các khía cạnh còn lại của kiến thức về chế độ ăn. 

Kết  quả  là  kiến  thức  chung  về  chế  độ  ăn  của 

bệnh nhân là 30,94 ± 13,82 (0‐73). 

Mối liên quan giữa kiến thức chung về chế 

độ ăn và các đặc điểm của bệnh nhân  

Bảng 3: Mối liên quan giữa kiến thức chung về chế 

độ ăn và đặc điểm dân số học của bệnh nhân (n=385) 

Đặc điểm dân số học TB ± ĐLC p

Tuổi

0,01

Tình trạng

hôn nhân

Lập gia đình 30,80 ± 14,02

0,33

Ly dị/ly thân 32,33 ± 10,13

Nghề

nghiệp

Nhân viên văn phòng 33,12 ± 13,52

0,23

Lao động phổ thông 30,97 ± 13,98

Đặc điểm dân số học TB ± ĐLC p

Trình độ học vấn

<0,001

Trung học cơ sở 31,32 ± 13,16 Trung học phổ thông 34,32 ± 14,31

Thu nhập gia đình

<1 triệu đồng 25,08 ± 13,09

<0,001 1-3 triệu đồng 32,34 ± 13,46

>3 triệu đồng 35,3 ± 14,16

Dự lớp tập huấn về chế độ ăn cho người ĐTĐ

Kết quả cho thấy nam có kiến thức cao hơn 

nữ (33,41 ± 14,10 so với 29,88 ± 13,58), và sự khác  biệt này có ý nghĩa thống kê (p=0,02). Bệnh nhân 

có độ tuổi từ 45‐54 có kiến thức cao nhất (33,46 ±  14,83),  trong  khi  bệnh  nhân  có  tuổi  từ  35‐44  có  kiến thức thấp nhất (24,91 ± 13,71). Dữ liệu cũng  cho thấy bệnh nhân có trình độ học vấn cao cũng 

sẽ có kiến thức cao hơn (p <0,001). Ngoài ra bệnh  nhân có thu nhập cao sẽ có điểm kiến thức cao  hơn  so  với  bệnh  nhân  có  thu  nhập  thấp  (p 

<0,001). 

Bảng 4: Mối liên quan giữa kiến thức chung về chế 

độ ăn và tiền sử bệnh lý của bệnh nhân (n=385) 

Đặc điểm TB ± ĐLC p

Tình trạng dinh dưỡng

0,06

Bình thường 30,00 ± 14,52 Tiền béo phì 32,50 ± 12,18

Thời gian mắc ĐTĐ

0,003

Tiền sử gia đình mắc ĐTĐ

<0,001

Loại điều trị

0,1 Thuốc đường uống 30,91 ± 13,51 Insulin & thuốc

Thời gian điều trị

0,003

Trang 6

Kết quả cũng cho thấy những bệnh nhân có 

thời gian mắc ĐTĐ dài hơn sẽ có điểm kiến thức 

cao hơn so với bệnh nhân có thời gian mắc ĐTĐ 

ngắn hơn (p=0,003). Ngoài ra bệnh nhân có anh 

chị  em  mắc  ĐTĐ  có  điểm  kiến  thức  cao  nhất 

trong  khi  bệnh  nhân  có  người  thân  khác  mắc 

ĐTĐ  có  kiến  thức  thấp  nhất  (p  <0,001).  Cuối 

cùng  bệnh  nhân  có  thời  gian  điều  trị  dài  sẽ  có 

điểm kiến thức cao hơn so với người có thời gian 

điều trị ngắn (p=0,003). 

BÀN LUẬN 

Có  5  khía  cạnh  kiến  thức  được  khảo  sát 

trong nghiên cứu này. Chúng bao gồm kiến thức 

về dưỡng chất chính và nhóm thực phẩm, vai trò 

của  nhóm  thực  phẩm  đối  với  kiểm  soát  đường 

huyết, kiến thức về lập chế độ ăn, kiến thức về 

phương pháp chế biến thực phẩm và kiến thức 

về đọc nhãn dinh dưỡng. Mỗi loại kiến thức cấu 

thành nên kiến thức chung về chế độ ăn và được 

đánh giá qua các câu hỏi trong bảng câu hỏi cấu 

trúc soạn sẵn. 

Kiến  thức  về  dưỡng  chất  và  nhóm  thực 

phẩm  bao  gồm  6  kiến  thức  thành  phần  về 

carbonhydrate,  protein,  chất  béo  bão  hòa,  chất 

béo  trans,  chất  béo  không  bão  hòa  đa,  chất  béo 

không  bão  hòa  đơn.  Trong  số  các  dưỡng  chất 

này,  thì  bệnh  nhân  có  kiến  thức  tương  đối  về 

carbonhydrate và protein trong khi có kiến thức 

thấp  về  4  loại  chất  béo.  Kết  quả  là  điểm  trung 

bình  kiến  thức  về  dưỡng  chất  chính  và  nhóm 

thực phẩm chỉ đạt 8,44 ± 6,96 (0‐31). 

Để đánh giá kiến thức về vai trò nhóm thực 

phẩm đối với kiểm soát đường huyết, chúng tôi 

tập  trung  khảo  sát  kiến  thức  của  bệnh  nhân  về 

các loại thực phẩm làm tăng nhanh đường huyết 

(thực phẩm có chỉ số đường huyết cao) và thực 

phẩm  làm  tăng  chậm  đường huyết (thực  phẩm 

có  chỉ  số  đường  huyết  thấp).  Nhìn  chung  bệnh 

nhân có kiến thức cao hơn về các thực phẩm có 

chỉ  số  đường  huyết  cao  nhưng  lại  có  kiến  thức 

thấp về thực phẩm có chỉ số đường huyết thấp 

bởi  vì  một  số  thực  phẩm  trong  nhóm  đường 

huyết thấp không được nhận biết bởi bệnh nhân. 

Do đó, kiến thức chung của bệnh nhân về vai trò  nhóm thực phẩm chỉ đạt mức trung bình là 6,21 

± 4,15 (0‐15). 

Kiến  thức  về  lập  chế  độ  ăn  bao  gồm  nhiều  thành  phần.  Có  các  câu  hỏi  dùng  để  kiểm  tra  kiến  thức  của  bệnh  nhân  về  khẩu  phần  các  dưỡng  chất  trong  bữa  ăn  hằng  ngày  (carbonhydrate,  chất  xơ,  trái  cây,  sản  phẩm  từ  sữa và protein). Ngoài ra số bữa ăn, ăn đúng giờ 

và  uống  rượu  bia  cũng  được  đánh  giá  để  kiểm  tra  kiến  thức  về  lập  chế  độ  ăn  của  bệnh  nhân.  Hai  thành  phần  khác  là  thực  phẩm  không  nên 

ăn và thực phẩm nên ăn cũng rất quan trọng đối  với  bệnh  nhân  ĐTĐ  trong  kiểm  soát  chế  độ  ăn  hàng ngày. Kết quả cho thấy rằng hầu hết bệnh  nhân  đều  nhận  biết  khẩu  phần  carbonhydrate,  chất  xơ  và  trái  cây,  trong  khi  sữa  và  protein  không  được  nhận  biết  nhiều.  Các  thành  phần  kiến  thức  khác  cũng  có  điểm  kiến  thức  cao,  ngoại trừ kiến thức về số bữa ăn và uống rượu  bia.  Kiến  thức  về  lập  chế  độ  ăn  vì  vậy  chỉ  đạt  11,94 ± 4,00 (0‐19). 

Kiến  thức  về  phương  pháp  chế  biến  thực  phẩm được đánh giá dựa trên các phương pháp  nấu  thức  ăn  và  cách  nấu  mà  bệnh  nhân  nên  tránh khi chế biến thực phẩm. Nhìn chung trên  một nửa số bệnh nhân biết các kiến thức thành  phần và điều này có thể giải thích là do đa số đối  tượng là phụ nữ. Kiến thức về phương pháp chế  biến  thực  phẩm  đạt  điểm  tương  đối  cao  với  điểm trung bình là 4,04 ± 1,95 (0‐7). 

Có thể nói rằng đọc nhãn dinh dưỡng có tỷ 

lệ bệnh nhân có kiến thức thấp nhất vì một thực 

tế  là  sự  hiểu  biết  tiếng  Anh  của  bệnh  nhân  có  giới hạn và bệnh nhân đa số chưa được đào tạo 

về cách đọc nhãn thực phẩm. Thực vậy, có < 4%  bệnh  nhân  biết  về  tất  cả  các  thành  phần  trong  nhãn  thực  phẩm  (serving  size,  serving  per  container,  calories,  %  daily  value,  total  fat,  sodium, dietary fiber) và cách chọn lựa loại thức 

ăn  phù  hợp  theo  calori,  chất  xơ  và  đường  cho  chế độ ăn của mình. Kết quả là điểm trung bình 

Trang 7

kiến thức  về  đọc nhãn  dinh  dưỡng  rất thấp  chỉ 

có 0,31 ± 1,61 (0‐10).  

Tổng điểm kiến thức chung về chế độ ăn sẽ 

là  tổng  trung  bình  cộng  của  5  khía  cạnh  kiến 

thức nêu trên. Trung bình điểm kiến thức chế độ 

ăn của bệnh nhân là 30,94 ± 13,82 (0‐73). Điều đó 

cho  thấy  kiến  thức  chung  về  chế  độ  ăn  của  các 

bệnh nhân quá thấp và kết quả này phù hợp với 

một số ít nghiên cứu về kiến thức chế độ ăn của 

bệnh nhân ĐTĐ.  

Trong nghiên cứu này chúng tôi cũng khảo 

sát mối liên quan giữa kiến thức chế độ ăn và 

đặc  điểm  của  bệnh  nhân.  Kết  quả  cho  thấy 

nam  bệnh  nhân  có  kiến  thức  cao  hơn  so  với 

bệnh  nhân  nữ.  Tuổi  là  một  yếu  tố  có  mối 

tương  quan  thuận  với  kiến  thức  chế  độ  ăn 

trong đó bệnh nhân càng lớn tuổi càng có kiến 

thức hơn so với người nhỏ tuổi, ngoại trừ bệnh 

nhân  có  độ  tuổi  >64.  Hơn  nữa  bệnh  nhân  có 

trình  độ  học  vấn  cao  cũng  có  kiến  thức  cao 

hơn.  Bệnh  nhân  có  điều  kiện  kinh  tế  cao  hơn 

có nhiều khả năng có kiến thức tốt hơn so với 

người  có  điều  kiện  kinh  tế  thấp.  Thời  gian 

ĐTĐ  cũng  có  mối  tương  quan  có  ý  nghĩa 

thống  kê  với  kiến  thức  về  chế  độ  ăn  trong  đó 

bệnh nhân có thời gian mắc bệnh dài sẽ có kiến 

thức cao hơn. Tương tự như vậy bệnh nhân có 

tiền  sử  gia  đình  có  người  mắc  bệnh  cũng  có 

mối tương quan với kiến thức về chế độ ăn. 

KẾT LUẬN‐KIẾN NGHỊ 

Có tổng cộng 385 bệnh nhân ĐTĐ tham gia 

nghiên  cứu  và  hầu  hết  bệnh  nhân  là  nữ.  Phần 

lớn bệnh nhân là người cao tuổi (tuổi trung bình 

là 61,69 ± 9,94) và đã lập gia đình (77,14%). Các 

dữ liệu dân số khác cho thấy bệnh nhân chủ yếu 

có  trình  độ  học  vấn  thấp  và  điều  kiện  kinh  tế 

cũng  thấp.  Một  điểu  lưu  ý  là  tỷ  lệ  bệnh  nhân  tham gia lớp tập huấn, đào tạo về kiến thức chế 

độ ăn cho người ĐTĐ rất thấp. 

Có thể kết luận rằng kiến thức về chế độ ăn  của bệnh nhân thấp. Ngoại trừ kiến thức về lập  chế độ ăn và phương pháp chế biến thực phẩm,  các  kiến  thức  khác  đều  có  tỷ  lệ  nhận  biết  rất  thấp. Phân tích mối liên quan giữa kiến thức chế 

độ  ăn  và  đặc  điểm  bệnh  nhân  cho  thấy  một  số  phân  nhóm  bệnh  nhân  cần  phải  nhận  được  sự  quan tâm hơn bao gồm bệnh nhân nữ, người lớn  tuổi,  bệnh  nhân  có  trình  độ  học  vấn  thấp,  điều  kiện kinh tế thấp, có tiền sử gia đình mắc ĐTĐ 

và  bệnh  nhân  có  thời  gian  điều  trị  và  thời  gian  mắc  ĐTĐ  ngắn.  Từ  các  phát  hiện  trên,  tác  giả  nghiên cứu khuyến cáo bệnh viện đa khoa quận 

11  thành  lập  đơn  vị  tư  vấn,  đào  tạo  về  dinh  dưỡng và chế độ ăn cho bệnh nhân ĐTĐ. 

TÀI LIỆU THAM KHẢO 

1 Ali ZH (2011). Health and Knowledge Progress among Diabetic  Patients after Implementation of a Nursing Care Program Based 

on Their Profile. Journal of Diabetes & Metabolism, 2(121), 245‐256. 

2 Moodley LM, Rambiritch V. (2007). An assessment of the level 

of  knowledge  about  diabetes  mellitus  among  diabetic  patients 

in a primary healthcare setting. South African Academy of Family 

Practice, 49(10), 16b. 

3 NDEP  (2006)  Helping  the  student  with  diabetes  succeed:  a 

guide  for  school  personnel.  Archives  of  Pediatrics  &  Adolescent 

Medicine, 160(1), 45 

4 Wild  S,  Roglic  G,  Green  A,  Sicree  R,  King  H  (2004)  Global  Prevalence  of  Diabetes.  Estimates  for  the  year  2000  and 

projections for 2030. Diabetes Care, 27, 1047–1053. 

  Ngày nhận bài báo:       14/5/2014  Ngày phản biện nhận xét bài báo:   20/6/2014 

Ngày bài báo được đăng:     14/11/2014 

 

 

Ngày đăng: 19/01/2020, 22:12

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w