Bài viết phân tích đặc điểm lâm sàng của tật cận thị ở trẻ em tuổi học sinh và đánh giá những yếu tố liên quan đến tiến triển cận thị. Qua kết quả nghiên cứu, sự tăng độ cận thị có sự liên quan có ý nghĩa thống kê với thời gian mắc cận thị, độ cận thị cao, việc tái khám không theo định kỳ, đeo kính liên tục, học tập nhiều và sử dụng mắt cho nhìn gần kéo dài.
Trang 1for treatment of nystagmus Ophthalmology
98, 1302-1305
4 Hugonier R (1981) Le nystagmus et
son traitement Strabismus, Masson, Paris
499- 511
5 Quéré M, Pechereau A, Lavenant F
(1982) Le traitement chirurgical des nystagmus optiques J F Opht 1, 9 - 20
6 Von Noorden G.K, Wong S.Y (1986)
Surgical results in nystagmus blockage syn-drome Ophthalmology 93, 1028-1031
7 Vukov B, Jovicevic B (1974)
Conser-vative and surgical treatment of congenital nystagmus with eccentric blockage - The sec-ond congress of the international strabis-mological association, Marseil, May, 229-305
Summary SURGICAL TREATMENT OF CONGENITAL NYSTAGMUS
WITH ECCENTRIC BLOCKAGE
The study was carried out to evaluate the effectiveness of surgical treatment of congenital nystagmus with eccentric blockage and to draw experiences in surgical treatment of congenital nystagmus The results showed that visual acuity was improved in 39 of 42 eyes Nystagmus in primary position was eliminated in 15 patients and reduced in 6 patients Head turn disappeared
in 14 patients and reduced in 7 patients No complications noted during and after surgery In conclusion, surgical treatment of congenital nystagmus with eccentric blokage has a beneficial effect on vision, reduces or eliminates nystagmus and vicious head position Surgical indication should be specific to ensure good results
Keywords: congenital nystagmus, eccentric blockage
ĐẶC ĐIỂM CỦA CẬN THỊ Ở TRẺ EM
VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN SỰ TIẾN TRIỂN CẬN THỊ
Nguyễn Thị Mai Lý, Nguyễn Đức Anh
Trường Đại học Y Hà Nội
Sự gia tăng tỷ lệ cận thị cũng như tiến triển của cận thị ở trẻ em hiện nay đang là một vấn đề đáng lo ngại Nghiên cứu được thực hiện nhằm nhận xét đặc điểm lâm sàng của tật cận thị ở trẻ em tuổi học sinh và đánh giá những yếu tố liên quan đến tiến triển cận thị Kết quả cho thấy tỷ lệ xuất hiện cận thị cao nhất ở học sinh tiểu học (55,2%) Độ cận thị trung bình là: -2,8D ± 1,53 Độ cận thị tăng nhiều ở: 42,9% bệnh nhân cận thị trên 4 năm, 43,8% bệnh nhân cận thị nặng, 71,4% bệnh nhân đeo kính liên tục, 58,2% học sinh giỏi, 64,3% bệnh nhân sử dụng mắt nhìn gần nhiều Từ đó có thể kết luận, sự tăng độ cận thị có sự liên quan có
ý nghĩa thống kê với thời gian mắc cận thị, độ cận thị cao, việc tái khám không theo định kỳ, đeo kính liên tục, học tập nhiều và sử dụng mắt cho nhìn gần kéo dài
Từ khóa: cận thị, tiến triển cận thị
Trang 2I ĐẶT VẤN ĐỀ
Tật khúc xạ là một trong những nguyên
nhân chính gây giảm thị lực ở nhiều nước trên
thế giới Ở Việt Nam, đã có nhiều nghiên cứu
về tình hình tật khúc xạ cũng như cận thị ở trẻ
em [1, 2, 3, 4, 5, 6] Mặc dù các tỷ lệ được đưa
ra rất khác nhau nhưng nói chung đều cho thấy
số trẻ em cận thị ngày càng nhiều và tỷ lệ cận
thị tăng dần theo cấp học và khác nhau giữa
các khu vực thành phố hay nông thôn
Đã có nhiều nghiên cứu dịch tễ học về tật
khúc xạ nhưng chưa có nghiên cứu nào đánh
giá riêng biệt những yếu tố liên quan đến sự
tiến triển của cận thị Chúng tôi thực hiện
nghiên cứu này nhằm mục tiêu: nhận xét đặc
điểm lâm sàng của tật cận thị ở trẻ em tuổi
học sinh và đánh giá những yếu tố liên quan
đến sự tiến triển cận thị
II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
1 Đối tượng
Những bệnh nhân đến khám tại bệnh viện
Mắt Trung ương được chẩn đoán cận thị trước
thời điểm nghiên cứu trên 6 tháng, tuổi từ 5
đến 18 tuổi, có hoặc không có loạn thị kèm
theo Chúng tôi loại khỏi nghiên cứu những
bệnh nhân có bệnh ở mắt gây giảm thị lực và
những bệnh nhân không có số khám bệnh ghi
đủ chi tiết cần thiết của các lần khám trước
2 Phương pháp: mô tả và hồi cứu
Nghiên cứu mô tả dựa vào kết quả của lần
khám hiện tại, bao gồm các kết quả đo khúc
xạ khách quan, chủ quan, hỏi bệnh sử và các
yếu tố liên quan Đánh giá hồi cứu dựa vào
những chi tiết của các lần khám trước được
ghi ở sổ khám bệnh của các bệnh nhân Các
yếu tố được đánh giá và phân tích gồm: (1) độ
cận thị, (2) thời gian từ khi phát hiện cận thị,
(3) thời gian tái khám, (4) thời gian đeo kính,
(5) thành tích học tập, (6) thời
gian học tập, và (7) yếu tố gia đình
Các bệnh nhân nghiên cứu được chia ra 3 nhóm tuổi: 5 đến <12 tuổi, 12 đến <16 tuổi, từ
16 đến 18 tuổi Độ cận thị được phân ra các mức: nhẹ (≤ 3,00D), trung bình (3,00D tới -5,00D) và nặng ( ≥ 5,00D) Mức tăng độ cận thị được chia ra các mức: tăng ít (≤ -2,00 D), tăng trung bình (-2,00D tới -3,00D) và tăng nhiều ( ≥ -3,00D) Khám khúc xạ bao gồm: thị lực không kính và có kính, khúc xạ không liệt điều tiết và có liệt điều tiết
Số liệu được nhập và xử lý theo chương trình SPSS Sử dụng phương pháp thống kê
để tính tỷ lệ % Kiểm định c2 để so sánh 2 tỷ
lệ và sự liên quan giữa biến định tính và biến định lượng
II KẾT QUẢ
1 Đặc điểm lâm sàng
Nghiên cứu gồm 250 bệnh nhân, trong đó
124 nam (49,6%) và 126 nữ (50,4%) Lứa tuổi
5 đến < 12 có 98 bệnh nhân (39,2%), lứa tuổi
12 đến < 16 có 127 bệnh nhân (50,8%), lứa tuổi 16 - 18 có 25 bệnh nhân (10%) Tuổi trung bình là 12,13 ± 3,08 Sự khác biệt về tuổi và giới không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05)
Tuổi phát hiện cận thị: ở lứa tuổi 5 đến
< 12 có 138 bệnh nhân (55,2%), lứa tuổi 12 đến < 16 có 106 bệnh nhân (42,4%), lứa tuổi
16 -18 có 6 bệnh nhân (2,4%) Độ cận thị: độ nhẹ có 185 bệnh nhân (74%), độ cận thị trung bình có 33 bệnh nhân (13,2%), độ cận thị nặng có 32 bệnh nhân (12,8%) Độ cận thị trung bình là: -2,8D ± 1,53 Thời gian mắc cận thị: dưới 2 năm có 178 bệnh nhân (71,2%), từ
3 đến 4 năm có 51% (20,4%), trên 4 năm có
21 bệnh nhân (8,4%) Yếu tố gia đình: 85 bệnh nhân (34%) có bố mẹ hoặc anh chị em ruột bị cận thị, 165 (66%) bệnh nhân không có yếu tố gia đình Loạn thị kèm theo cận thị có ở
54 bệnh nhân (21,6%) Về yếu tố học đường:
có 95 bệnh nhân (38%) là học sinh trường
Trang 3chuyên lớp chọn, 155 bệnh nhân (62%) học trường lớp bình thường
2 Các yếu tố liên quan với tiến triển cận thị
2.1 Liên quan giữa mức tăng cận thị và thời gian mắc cận thị
Ở nhóm bệnh nhân có độ cận thị tăng ở mức độ nhiều, có tới 42,9% có thời gian mắc cận thị trên 4 năm, 35,7% có thời gian mắc cận thị từ 2 đến 4 năm và 21,4% có thời gian mắc cận thị dưới 2 năm Ngược lại, ở nhóm bệnh nhân độ cận thị tăng ít có tới 81,2% mắc cận thị dưới 2 năm, 13,8% có thời gian mắc cận thị từ 2 đến 4 năm và chỉ có 5,0% mắc cận thị trên 4 năm Mức tăng độ cận thị và
thời gian mắc cận thị có mối liên quan có ý nghĩa thống kê (p < 0,05)
2.2 Liên quan giữa mức tăng độ cận thị
và độ cận thị
Ở nhóm bệnh nhân cận nhẹ thì mức độ tăng cận thị ít chiếm tới 87% và tăng cận thị trung bình chỉ chiếm 13% và không có bệnh nhân nào có mức tăng cận thị nhiều Ngược lại, ở nhóm bệnh nhân cận thị mức độ nặng
số bệnh nhân có mức tăng ít chiếm 31,3%, những bệnh nhân có mức tăng cận thị trung bình chiếm 25%, còn những bệnh nhân có mức tăng cận thị nhiều chiếm tới 43,8% (bảng 1) Độ cận thị và mức tăng cận thị có mối liên quan có ý nghĩa thống kê (p < 0,05)
Bảng 1 Tiến triển cận thị và độ cận thị
Mức tăng độ cận thị
Độ cận thị
Tổng
Trung bình 24 (13,0) 23 (69,7) 8 (25,0) 55 (22,0)
2.3 Liên quan giữa mức tăng cận thị và thời gian tái khám
Kết quả bảng 2 cho thấy tỷ lệ tăng độ cận thị ở mức độ nhiều ở nhóm không tái khám thường xuyên là 9,5%, cao hơn so với nhóm tái khám thường xuyên (4,0%) Ngược lại, tỷ
lệ tăng cận thị mức độ ít ở nhóm tái khám thường xuyên (76,7%) cao hơn so với nhóm không tái khám thường xuyên Mối liên quan giữa mức tăng độ cận thị và việc tái khám có ý nghĩa thống kê (p < 0,05)
2.4 Liên quan giữa mức tăng cận thị và thời gian đeo kính
Bảng 3 cho thấy ở mức tăng độ cận thị ít, nhóm bệnh nhân có hoặc không đeo kính thường xuyên là tương đương nhau (50,8%
và 49,2%) nhưng ở mức tăng độ cận thị trung bình và nhiều thì tỷ lệ bệnh nhân có đeo kính thường xuyên (78,2% và 71,4%) cao hơn hẳn nhóm không đeo kính thường xuyên (21,8%
và 28,6%) Mối liên quan giữa tăng độ cận thị
và việc đeo kính thường xuyên có ý nghĩa thống kê (p < 0,05)
Trang 4Bảng 2 Mức độ tăng độ cận thị và thời gian tái khám
Mức tăng độ cận thị
Tái khám thường xuyên
Tổng
Bảng 3 Mức độ tăng độ cận thị và thời gian đeo kính
Đeo kính thường xuyên
Mức tăng độ cận thị
Tổng
2.6 Liên quan giữa mức tăng cận thị và thời gian học tập
Ở nhóm có mức tăng cận thị nhiều, tỷ lệ bệnh nhân có thời gian học trong ngày nhiều (64,3%)
Thời gian học trong ngày
Mức tăng độ cận thị
Tổng
2.5 Liên quan giữa mức tăng cận thị và thành tích học tập
Tỷ lệ bệnh nhân học giỏi và khá có mức độ tăng cận thị trung bình và nhiều (58,2% và 34,5%)
cao hơn nhóm có mức tăng cận thị ít (42,2%) Ngược lại tỷ lệ bệnh nhân có thành tích học trung
bình ở nhóm có mức tăng cận thị ít (11,6%) cao hơn ở nhóm có mức tăng cận thị trung bình
(7,3%) và nhiều (7,1%) Liên quan giữa mức tăng cận thị và thành tích học tập có ý nghĩa thống
kê (p < 0,05)
Bảng 4 Mức tăng cận thị và thời gian học
Trang 5cao hơn hẳn nhóm mức tăng cận thị ít (38,7%) (bảng 4) Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (p < 0,05)
2.7 Liên quan giữa mức tăng cận thị và yếu tố gia đình
Có 85/165 bệnh nhân cận thị có yếu tố gia đình Ở nhóm bệnh nhân không có yếu tố gia đình, tỷ lệ bệnh nhân có mức tăng cận thị ít là 75,8% cao hơn nhóm bệnh nhân có yếu tố gia đình (65,9%) Tỷ lệ bệnh nhân ở mức tăng cận thị trung bình và nhiều ở nhóm có yếu tố gia đình (25,9% và 8,2%) cao hơn nhóm không có yếu tố gia đình (20% và 4,2%) Tuy nhiên, mối liên quan giữa 2 yếu tố này không
có ý nghĩa thống kê (p > 0,05)
IV BÀN LUẬN
Kết quả nghiên cứu cho thấy tuổi được phát hiện cận thị phổ biến nhất là ở học sinh tiểu học, chiếm tỷ lệ 55,2% Tuổi mắc cận thị càng nhỏ thì mức tăng độ cận thị càng nhanh
và ngược lại, mối liên quan này có ý nghĩa thống kê (p < 0,05) Về liên quan của mức tăng độ cận thị với thời gian đeo kính, chúng tôi thấy tỷ lệ bệnh nhân có mức tăng cận thị trung bình và nhiều cao hơn rõ rệt ở nhóm đeo kính thường xuyên (78,2% và 71,4%) cao hơn rõ rệt so với nhóm đeo kính không thường xuyên (42%) Sự khác biệt này có thể
là do việc đeo kính thường xuyên (cả khi nhìn
xa và nhìn gần) khiến cho mắt phải điều tiết nhiều khi nhìn gần, do đó độ cận thị tăng nhanh hơn, vì thế chúng tôi cho rằng những trẻ cận thị chỉ nên đeo kính để nhìn xa được
rõ, khi nhìn gần có thể bỏ kính để giảm sự điều tiết của mắt Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ loạn thị nhiều hơn ở những bệnh nhân có cận thị nặng so với những bệnh nhân cận thị nhẹ, đây là đặc điểm khác biệt so với một số nghiên cứu khác [1, 2]
Về sự liên quan giữa độ cận thị và yếu tố học đường, một số nghiên cứu [1, 2, 4, 6] đã cho thấy tỷ lệ cận thị ở học sinh các trường chuyên lớp chọn cao hơn hẳn so với các trường bình thường Trong nghiên cứu này, chúng tôi chỉ xem xét mối liên quan giữa độ cận thị và yếu tố học đường của bệnh nhân Kết quả cho thấy tỷ lệ cận thị nhẹ không khác biệt giữa 2 nhóm trường học, nhưng tỷ lệ cận thị nặng của học sinh trường chuyên (20%) cao hơn có ý nghĩa thống kê (p < 0,05) so với học sinh trường bình thường (8,4%) Thời gian sử dụng mắt cho nhìn gần, chủ yếu là học tập, cũng có liên quan rõ rệt với
sự tăng độ cận thị Ở nhóm bệnh nhân có mức tăng độ cận thị trung bình và nhiều thì
tỷ lệ bệnh nhân sử dụng mắt nhìn gần trong thời gian dài cao hơn rõ rệt so với nhóm bệnh nhân sử dụng mắt nhìn gần ít (43,6%
và 35,7% so với 14,5% và 14,3%) Vì vậy,
để giảm sự phát triển của cận thị, chúng ta cần khuyên học sinh giảm thời gian sử dụng mắt nhìn gần bằng cách dành thời gian nghỉ hợp lý trong khi học và tăng cường các hoạt động ngoài trời cho mắt nhìn ra xa Mặc dù liên quan giữa mức tăng cận thị với yếu tố gia đình không có ý nghĩa thống kê, chúng tôi cho rằng có thể cần phải tiếp tục nghiên cứu với số lượng lớn hơn để khẳng định vấn đề này
V KẾT LUẬN
Cận thị thường được phát hiện nhiều nhất
ở lứa tuổi học sinh tiểu học (55,2%) với độ cận thị trung bình là -2,8D ± -1,53D Thời gian mắc cận thị của các bệnh nhân phần lớn dưới
2 năm (71,2%) Mức tăng độ cận thị có liên quan rõ rệt với thời gian mắc cận thị, độ cận thị, đeo kính liên tục trong ngày và sử dụng mắt nhiều cho nhìn gần, nhất là ở học sinh ở các trường chuyên lớp chọn
Trang 6TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Vi Văn Cầu (2006) Đánh giá tình hình
tật khúc xạ qua đợt khám sàng lọc tật khúc xạ
ở một số trường PT THCS của tỉnh Hà tây Kỷ
yếu Hội nghị nhãn khoa toàn quốc 2005-2006
113 – 114
2 Bùi Thị Kim Oanh (2004) Đánh giá tình
hình tật khúc xạ trong học sinh phổ thông
trung học cơ sở tại thành phố Việt trì, tỉnh Phú
thọ Kỷ yếu Hội nghị nhãn khoa toàn quốc
2002-2004 64 – 65
3 Hoàng Thị Lũy (1995) Điều tra tình
hình thị lực và tật khúc xạ trong học sinh Kỷ
yếu tóm tắt các công trình nghiên cứu khoa
học 44 - 47
4 Hà Huy Tài (2000) Tình hình tật khúc
xạ ở học sinh phổ thông Nội san nhãn khoa
số 3 90 – 93
5 Mai Quốc Tùng và cs (2011) Tật khúc
xạ ở học sinh phổ thông tỉnh Bắc Kạn năm
2007 Tạp chí Nghiên cứu Y học, 72 (1):
100-105
6 Trần Hải Yến và cộng sự (2006) Kết
quả khảo sát khúc xạ ở học sinh đầu cấp tại thành phố Hồ Chí Minh, Tạp chí Nhãn khoa, (7): 45-55
7 Maul E., BarrosoS., Munoz S R., et al (2000) Refractive error study in children:
Re-sults from Laflorida, Chile Am J Ophthalmol,
129 (4): 525- 527
Summary CHARACTERISTICS OF MYOPIA IN CHILDREN AND FACTORS
RELATED TO MYOPIA PROGRESSION
The increase in the rate of myopia and the progression of myopia is currently a matter of
concern in Vietnam The study was conducted to review the clinical characteristics of myopia in
school children, and (2) to evaluate factors associated with myopia progression The results
showed that the myopia detection has higher rate in primary school children (55.2%) The
average degree myopia is -2.8 ± 1.53 Myopia progression was more rapid in patients with myopia
over 4 years (42.9%), high amount of myopia (43.8%), full-time wearing of eyeglass (71.4%),
good learning results (58.2%), prolonged near work (64,3%) In conclusions, the progression of
myopia was significantly related to long-term myopia, high amount of myopia, regular follow-up,
full-time wearing of eyeglass, good learning results, and prolonged near work
Keywords: myopia, myopic progression
ĐẶC ĐIỂM TỔN THƯƠNG KHỚP CỔ CHÂN TRONG BỆNH GÚT TRÊN SIÊU ÂM
Phạm Hoài Thu, Nguyễn Thị Ngọc Lan
Bệnh viện Bạch Mai Nghiên cứu nhằm mô tả hình ảnh siêu âm khớp cổ chân trong bệnh gút và so sánh khả năng phát hiện
các tổn thương khớp cổ chân do bệnh gút giữa siêu âm, lâm sàng và X quang Kết quả cho thấy bằng
chứng của sự lắng đọng tinh thể urat tại khớp cổ chân được phát hiện là: (1) hình ảnh đường đôi: