1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Vị trí của khớp nhân tạo với đường mổ bên ngoài trực tiếp trong thay khớp háng lần đầu

9 78 2

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 554,57 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu nghiên cứu của bài viết nhằm đánh giá vị trí của chuôi khớp, ổ cối nhân tạo ở các trường hợp được phẫu thuật với đường mổ bên ngoài trực tiếp và rút ra ưu nhược điểm của đường mổ này.

Trang 1

130

VỊ TRÍ CỦA KHỚP NHÂN TẠO VỚI ĐƯỜNG MỔ BÊN NGOÀI TRỰC TIẾP TRONG THAY KHỚP HÁNG LẦN ĐẦU

Vũ Nhất Định*

TÓM TẮT

Mục đích: đánh giá vị trí của chuôi khớp, ổ cối nhân tạo ở những trường hợp được phẫu

thuật với đường mổ bên ngoài trực tiếp và rút ra ưu nhược điểm của đường mổ này Phương

pháp: xác định góc nghiêng của ổ cối nhân tạo qua miệng ổ cối và đường nối 2 góc trước dưới

ổ cối Đánh giá góc nghiêng của ổ cối không đạt khi ≤ 30º hoặc ≥ 55º So sánh trục của chuôi khớp và trục của ống tủy đầu trên xương đùi Trục của chuôi khớp được coi là đúng trục khi góc giữa trục chuôi khớp và trục đầu trên xương đùi dưới 5º Đánh giá chuôi khớp nghiêng trong hoặc nghiêng ngoài khi trục của chuôi khớp tạo với trục ống tủy xương đùi góc trên 5º về phía trong hoặc phía ngoài so với trục của ống tủy xương đùi Nhận xét khó khăn, thuận lợi khi can thiệp vào ổ cối, đầu trên xương đùi và các tai biến, biến chứng sớm trong và sau mổ

Kết quả: từ 1 - 2013 đến 1 - 2015 có 75 bệnh nhân (BN) được phẫu thuật thay khớp háng với

đường mổ bên ngoài trực tiếp, trong đó 35 BN thay khớp bán phần và 40 BN thay khớp toàn phần Góc nghiêng trung bình của ổ cối nhân tạo 42,2 ± 1,53 (40 - 52º) 60/75 BN chuôi khớp thẳng trục, 10/75 BN chuôi nghiêng trong và 5/75 BN chuôi nghiêng ngoài Kết luận: đường mổ bên ngoài trực tiếp bộc lộ rõ ổ cối thuận lợi cho thì can thiệp và đặt ổ cối nhân tạo 60/75 BN chuôi khớp thẳng trục, 10/75 BN chuôi nghiêng trong và 5/75 BN chuôi nghiêng ngoài Đường

mổ bên ngoài trực tiếp có thể được sử dụng cho cả thay khớp háng bán phần và toàn phần

* Từ khóa: Thay khớp háng; Khớp nhân tạo; Đường mổ bên ngoài trực tiếp

Component Placement with Direct Lateral Approach in Primary Hip Arthroplasty

Summary

Purpose: Evaluation of component position after hip arthroplasty with direct lateral approach Advantage and disadvantaged of direct lateral approach Materials and methods: The anteroposterior radiographs were reviewed to assess acetabular inclination, femoral component alignment Acetabular inclination was referenced from the intertear drop line Stem alignment was determined by measuring the angle formed between the longitudinal axis of the femoral stem and the longitudinal axis of the femoral canal Femoral component alignment was considered to be neutral if fell within 5º of being collinear with the femur The alignment of the stem was classified as neutral, valgus (>5°of lateral deviation), or varus (> 5°of medial deviation)

* Bệnh viện Qu©n y 103

Người phản hồi (Corresponding): Vũ Nhất Định (vunhatdinhbv103@yahoo.com.vn)

Ngày nhận bài: 28/02/2015; Ngày phản biện đánh giá bài báo: 27/03/2015

Ngày bài báo được đăng: 31/03/2015

Trang 2

131

Cups with an abduction angle of ≤ 30° or ≥ 55° were considered as outliers of optimal cup position Results: Between 1 - 2013 and 1 - 2015, 75 primary hip arthroplasties were performed via a direct lateral approche in 75 patients at the 103 Hospital There were 35 bipolar hips and

40 total hips (35 cementless hips, and 5 hips a hybrid) The average cup abduction angle was 42,2 ± 1,53 (40 - 52º) The femoral component was placement in neutral in 60 patients, in varus

in 10 patients, and in valgus in 5 patients Conclusions: This approach was used for primary hip arthroplasty The optimal acetabular cup position was 40/40 (100%), 60/75 stems (80%) were in neutral position and 10 were in varus, 5 were in valgus

* Key words: Hip arthroplasty; Direct lateral approache; Component placement

ĐẶT VẤN ĐỀ

Vị trí của ổ cối và chuôi khớp nhân tạo

là yếu tố quan trọng quyết định đến kết

quả sớm và kết quả lâu dài của phẫu thuật

thay khớp háng Vị trí của ổ cối không

đúng sẽ dẫn tới va chạm với chuôi khớp,

sai khớp, tăng nhanh tốc độ mài mòn phần

lót của ổ cối, tiêu xương quanh ổ cối nhân

tạo, lỏng ổ cối và dịch chuyển ổ cối

Vị trí của chuôi và ổ cối nhân tạo bị

ảnh hưởng bởi khả năng bộc lộ của mỗi

đường mổ và kinh nghiệm của phẫu thuật

viên Mỗi đường vào khớp háng có

những ưu, nhược điểm riêng Phẫu thuật

viên thường vào khớp với đường mổ theo

kinh nghiệm của bản thân và kỹ thuật mà

họ tiếp nhận được

Theo thống kê của nhiều nghiên cứu,

có thể chia đường mổ thay khớp háng

làm 4 nhóm: đường mổ phía sau (54%),

đường mổ phía ngoài (37%), đường mổ

phía trước và trước ngoài (3%) và đường

mổ qua mấu chuyển lớn (1%) [4]

Đường vào bên ngoài trực tiếp thuộc nhóm đường mổ phía ngoài, được Kocher

mô tả lần đầu tiên năm 1903 và McFarland

và Osborne cải biên vào năm 1954, Hardinge cải biên năm 1982 [4] Đây là một trong các đường phẫu thuật thay khớp háng phổ biến nhất sau đường mổ phía sau

Ở Việt Nam, phẫu thuật thay khớp háng nhân tạo được thực hiện chủ yếu với đường mổ phía sau Nghiên cứu này nhằm: Đánh giá vị trí của chuôi khớp,

ổ cối nhân tạo ở các trường hợp được phẫu thuật với đường mổ bên ngoài trực tiếp và rút ra ưu nhược điểm của đường

mổ này

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU

1 Đối tượng nghiên cứu

Từ 1 - 2012 đến 1 - 2015, 75 BN được phẫu thuật thay khớp háng tại Bệnh viện Quân y 103 với đường mổ phía ngoài trực tiếp

Độ tuổi trung bình 52,4 ± 12,2 (35 -

90 tuổi, trong đó 25 nam, 50 nữ

Trang 3

132

30 BN bị gãy cổ xương đùi, 20 BN bị

tiêu chỏm vô khuẩn, 25 BN bị thoái hóa

khớp

Tất cả BN được mét kíp phẫu thuật

thực hiện

Không lựa chọn các trường hợp không

đủ X quang sau phẫu thuật

2 Phương pháp nghiên cứu

Đường vào khớp: BN nằm nghiêng về

bên đối diện Đường rạch da ở mặt ngoài

mấu chuyển lớn theo trục giữa của đầu

trên mặt ngoài xương đùi (hình 1) Rạch

cơ căng cân đùi theo đường rạch da Giải

phóng một phần cơ mông nhỡ (theo khe

2/3 trước và 1/3 sau) Mở bao khớp phía

trước bộc lộ vào khớp háng

Bộc lộ khớp háng với 1 đinh Steimann

ở bờ trên ổ cối và 2 Hohmann ở bờ trước

và bờ sau ổ cối Lấy bỏ chỏm xương đùi

bằng dụng cụ chuyên dụng hoặc làm trật

khớp (khép, gấp và xoay ngoài đùi), cắt bỏ

chỏm ở trên đỉnh mấu chuyển nhỏ 10 mm

Can thiệp vào ổ cối (đối với thay khớp

toàn phần): ®ưa chân trở lại bàn mổ, doa

lấy bỏ sụn và mỏ xương thoái hóa, lắp ổ

cối nhân tạo với góc nghiêng trước 15º và

nghiêng bên 45º

Can thiệp vào đầu trên xương đùi: thả

chân ra ngoài bàn, khép, gấp, xoay ngoài

đùi, bộc lộ đầu trên xương đùi (hình 1)

Ráp tạo khuôn cho chuôi khớp, lắp chuôi

khớp nhân tạo với góc nghiêng trước 5 - 10º

Hình 1: Đường rạch da và tư thế chi thể

khi làm trật khớp và can thiệp vào đầu

trên xương đùi

Nắn chỉnh lại khớp, khâu phục hồi lại bao khớp, điểm bám của cơ mông nhỡ, khâu cơ căng cân đùi, đóng vết mổ Sau phẫu thuật, cố định gối duỗi, đùi dạng, xoay trong Tập ngồi sau phẫu thuật 24 giờ và bắt đầu tập đứng và đi trong phòng sau phẫu thuật 3 ngày Chụp X quang tư thế thẳng đánh giá vị trí của khớp nhân tạo (ổ cối và chuôi khớp): góc nghiêng của ổ cối, trục của chuôi khớp so với trục của đầu trên

Trang 4

133

xương đùi (hình 2) Góc nghiêng của ổ

cối nhân tạo được xác định bởi miệng ổ

cối và đường nối 2 góc trước dưới ổ cối

Trục của chuôi khớp được coi là đúng

trục khi góc giữa trục chuôi khớp và trục

đầu trên xương đùi < 5º Đánh giá chuôi

khớp nghiêng trong hoặc nghiêng ngoài

khi trục của chuôi khớp tạo với trục ống

tủy xương đùi góc trên 5º về phía trong

hoặc phía ngoài so với trục của ống tủy

xương đùi Góc nghiêng của ổ cối được

coi là không đạt khi ≤ 30º hoặc ≥ 55º

Hình 2: Đánh giá trục của chuôi khớp và

góc nghiêng của ổ cối

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

35 BN thay khớp bán phần, 40 BN thay khớp toàn phần

Trong 40 BN được thay khớp toàn phần, 35 BN thay khớp không xi măng và

5 BN thay khớp Hybrid

Chiều dài đường rạch trung bình 9 cm (7 - 10 cm)

Không có BN nào bị nhiễm khuẩn sâu, không có trường hợp nào bị sai khớp sau phẫu thuật

Đánh giá góc nghiêng của ổ cối ở BN thay khớp toàn phần Góc nghiêng trung bình của ổ cối 42,2 ± 1,53 (40 - 52º) Đánh giá trục của chuôi khớp cho tất

cả BN thay khớp toàn phần và bán phần 60/75 BN trục của chuôi khớp tạo với trục của đầu trên xương đùi góc dưới 5º 10

BN chuôi khớp bị nghiêng trong lớn hơn 5º (lớn nhất 8º), 5 BN chuôi khớp bị nghiêng ngoài lớn hơn 5º (lớn nhất 7º) Trục của chuôi khớp không liên quan đến thay khớp toàn phần hay bán phần

BÀN LUẬN

1 Kết quả nghiên cứu

Nghiên cứu này tập trung vào đánh giá góc nghiêng của ổ cối và chuôi khớp nhân tạo khi phẫu thuật với đường mổ bên ngoài trực tiếp, đồng thời nhận xét những khó khăn thuận lợi khi thực hiện đường mổ này

Bên cạnh kinh nghiệm của phẫu thuật viên, khả năng bộc lộ của đường mổ cũng ảnh hưởng đến thao tác kỹ thuật, ảnh hưởng trực tiếp đến góc nghiêng của

ổ cối nhân tạo và chuôi khớp

Trang 5

134

Nghiên cứu của Mulliken B.D và CS

(1998) [3] đánh giá 770 BN được thay

khớp háng toàn phần với đường mổ bên

ngoài trực tiếp nhằm rút ra vị trí của ổ cối

và chuôi khớp có bị ảnh hưởng bởi

đường mổ Kết quả: góc nghiêng của ổ

cối nhân tạo trung bình 40,3º (20 - 65º),

chuôi khớp thẳng trục có 90% trường hợp,

3% chuôi khớp bị nghiêng trong và 7%

chuôi khớp bị nghiêng ngoài

Yutaka I và CS (2011) [7] so sánh kết

quả thay khớp háng với đường mổ nhỏ

phía trước (50 BN) và đường mổ nhỏ trực

tiếp phía ngoài (52 BN) Kết quả: chiều

dài đường mổ trung bình ở nhóm đường

mổ phía trước dài trung bình 8,6 ± 1,3 cm;

ở nhóm đường mổ phía ngoài 7,7 ± 1,2 cm

Góc nghiêng của ổ cối ở nhóm đường mổ

phía trước 43,7 ± 5,2º; ở nhóm đường phía

ngoài 43,5 ± 4,9º

Nghiên cứu của Huyng M.J và CS

(2012) so sánh vị trí của khớp nhân tạo

được mổ với đường phía sau (99 khớp)

và đường phía ngoài (97 khớp) Góc nghiêng

của ổ cối nhân tạo ở nhóm đường mổ

phía sau 37,8 ± 5,8º, góc nghiêng ổ cối

không đạt 10 BN; ở nhóm đường mổ phía

ngoài góc nghiêng của ổ cối 37,7 ± 4,2º,

3 BN góc nghiêng của ổ cối không đạt

yêu cầu Trong khi đó trục của chuôi khớp

không đạt yêu cầu ở nhóm đường mổ

phía sau là 2 BN, nhóm đường mổ phía

ngoài 8 BN 97 BN (98%) chuôi khớp

đúng trục ở nhóm đường mổ phía sau, 89

BN (92%) chuôi khớp đúng trục ở nhóm

đường mổ phía ngoài Nghiên cứu cho

thấy đối với đường mổ phía ngoài khó

can thiệp vào đầu trên xương đùi hơn là đường mổ phía sau

Nghiên cứu của William P.B và CS (2013) [5] so sánh ảnh hưởng của đường

mổ phía sau và đường mổ phía trước ảnh hưởng đến vị trí của khớp nhân tạo Đường mổ phía trước thực hiện ở 43 BN

và đường mổ phía sau thực hiện cho 44

BN Kết quả cho thấy: ở nhóm đường mổ phía trước, góc nghiêng của ổ cối trung bình 47,1 ± 6,1º; chuôi khớp thẳng trục 98%, không có trường hợp nào chuôi bị nghiêng ngoài và 2% BN chuôi bị nghiêng trong, chiều dài đường mổ trung bình 13,7 ± 0,9 cm Kết quả ở nhóm được phẫu thuuật với đường mổ phía sau: góc nghiêng ổ cối trung bình 42,4 ± 7,6º; chuôi khớp thẳng trục 74%, không có trường hợp nào chuôi bị nghiêng ngoài, 26% BN chuôi bị nghiêng trong, chiều dài đường mổ trung bình 12,7 ± 1,3 cm

Để làm tăng độ chính xác về vị trí của

ổ cối và chuôi khớp, nhiều phẫu thuật viên tiến hành chụp X quang trong mổ Navigation được ứng dụng để cải thiện

độ chính xác vị trí của khớp nhân tạo David W và CS (2012) [2] đánh giá vị trí của ổ cối nhân tạo sau thay khớp háng nhân tạo toàn phần có sự hỗ trợ của navigation Nghiên cứu thực hiện ở 80 khớp háng nhân tạo Kết quả: góc nghiêng của ổ cối nhân tạo thay đổi trong khoảng 44,6 ± 4,3º (32,9 - 56,6º) đối với khớp háng bên phải và 44,4 ± 4,1º (34,3 - 55,9º) đối với khớp háng bên trái Nghiên cứu cũng thấy không thấy có mối liên quan giữa tuổi, giới và cân nặng của người bệnh đến vị trí của ổ cối nhân tạo sau phẫu thuật

Trang 6

135

Woolson S.T và CS (2004) so sánh

ảnh hưởng của đường mổ chuẩn và

đường mổ nhỏ thấy: tỷ lệ chuôi khớp và ổ

cối nhân tạo có vị trí không đúng ở nhóm

BN được phẫu thuật với đường mổ nhỏ

cao hơn nhóm BN được phẫu thuật với

đường mổ chuẩn [6]

Nghiên cứu này đánh giá góc nghiêng

của ổ cối và chuôi khớp ở BN đã được

phẫu thuật thay khớp với đường mổ trực

tiếp bên ngoài Góc nghiêng trung bình

của ổ cối 42,2 ± 1,530 (40 - 52º) Qua thực

tiễn phẫu thuật, chúng tôi thấy với đường

mổ bên ngoài trực tiếp, ổ cối bộc lộ rõ

ràng, thuận lợi cho can thiệp vào ổ cối,

với trường hợp cơ căng cân đùi bị căng,

cũng dễ dàng giải phóng và nới dài

Tuy nhiên, chúng tôi thấy với đường

mổ này, khó khăn trong thì bộc lộ vào đầu

trên xương đùi làm ảnh hưởng đến các

can thiệp vào xương đùi (ráp và đóng

chuôi) 15/75 BN chuôi khớp bị nghiêng

trong hoặc nghiêng ngoài lớn hơn 5º

Ở trường hợp ngắn chi, căng cơ căng cân

đùi, việc nâng đầu trên xương đùi để can

thiệp rất căng, càng khó khăn hơn đối với

trường hợp gãy liên mấu chuyển xương đùi

Ở những trường hợp này, chúng tôi chủ

động cắt cơ căng cân đùi, thậm chí cả cơ

khép nếu như đùi bị khép nhiều

2 Tai biến và biến chứng

Sai khớp là biến chứng hàng đầu sau

thay khớp háng nhân tạo Tỷ lệ này chiếm

từ 1 - 11% tùy theo phẫu thuật thay khớp

bán phần hay toàn phần Trong nhiều yếu

tố liên quan đến sai khớp háng trong và

sau mổ, hướng của ổ cối nhân tạo, chuôi

khớp và đường mổ là những yếu tố liên

quan trực tiếp đến kỹ thuật

Mặc dù kích thước của chỏm nhân tạo, cân bằng chiều dài chi có vai trò trong sai khớp, nhưng hướng của ổ cối được cho

là có liên quan đến phần lớn sai khớp sau

mổ Theo Lewinnek và nhiều nghiên cứu

đã chỉ ra vùng an toàn cho góc dạng của

ổ cối nhân tạo nằm trong khoảng 45 ± 10º Giới hạn cao của góc này vượt quá 60º

sẽ xảy ra sai khớp lên trên Trái lại, khi góc này thấp hơn 35º, sẽ xảy ra sai khớp

ra sau

Hiện nay, phần lớn phẫu thuật thay khớp háng được thực hiện qua đường

mổ phía sau hoặc phía ngoài Các nghiên cứu cũng chỉ ra tỷ lệ sai khớp sau mổ gặp nhiều hơn ở các trường hợp được phẫu thuật với đường mổ phía sau so với đường mổ phía ngoài

Nghiên cứu của Mulliken B.D và CS (1998) [3] trên 770 BN thay khớp háng toàn phần với đường mổ bên ngoài trực tiếp, 0,4% bị sai khớp háng sau mổ Trong khi đó các báo cáo thay khớp háng với đường mổ phía sau có tỷ lệ sai khớp 3%, đường mổ phía trước 0 - 3,3% [3] Trong nghiên cứu này, chúng tôi chưa đánh giá được góc nghiêng trước của ổ cối nhân tạo và chuôi khớp Sự sai lệch này cũng là nguyên nhân dẫn đến sai khớp trong và sau mổ

Bộc lộ đầu trên xương đùi không thỏa đáng cũng liên quan đến đường mổ, cưỡng bức trong quá trình mổ có thể dẫn tới gãy xương Nghiên cứu của Huyng M.J và CS (2012) so sánh đường mổ phía ngoài và đường mổ phía sau 1 BN

bị gãy xương ở đỉnh của chuôi khớp xảy

ra ở thời điểm đóng chuôi khớp vào ống tủy Trường hợp này ở nhóm đường mổ phía ngoài

Trang 7

136

Theo chúng tôi, đường mổ càng về

phía trước, càng khó bộc lộ đầu trên

xương đùi, nên sẽ có nguy cơ gãy vỡ

xương khi ráp tạo khuôn cho chuôi khớp

hoặc khi đóng chuôi khớp vào ống tủy

xương đùi Yutaka I và CS (2011) [7] chỉ

gặp 1/50 BN bị nứt vỡ xương đùi trong mổ

ở nhóm đường mổ phía trước Đường mổ

phía ngoài không gặp tai biến này

Tổn thương thần kinh mông trên đã

được thông báo khi mổ với đường phía

ngoài Theo Tahir K và CS (2007) [4],

nhánh dưới của thần kinh mông trên (chi

phối cho cơ dạng) có thể bị tổn thương

khi vào khớp háng theo đường trực tiếp

bên ngoài Các tác giả nghiên cứu trên

xác tươi về vị trí giải phẫu của nhánh này

và xác định xem nguy cơ bị tổn thương

khi vào khớp háng với đường trực tiếp

bân ngoài Nghiên cứu kết luận: 3/44

(6,8%) trường hợp nhánh dưới của thần

kinh mông trên có thể bị tổn thương với

đường vào trực tiếp bên ngoài Nghiên

cứu cũng chỉ ra khoảng cách từ thần kinh

mông trên đến đỉnh mấu chuyển lớn trung

bình 4,8 cm (2 - 9 cm)

Trong nghiên cứu này, không có

trường hợp nào bị sai khớp, gãy xương

hoặc tổn thương thần kinh Trong thì bộc

lộ qua cơ mông nhỡ, chúng tôi không

vượt quá 5 cm trên đỉnh mấu chuyển lớn,

chú ý nhận dạng và không làm tổn

thương nhánh dưới của thần kinh mông

trên đi giữa cơ mông nhỡ và cơ mông

nhỏ Một chú ý nữa khi sử dụng đường

mổ trực tiếp bên ngoài là hai vị trí có nguy

cơ bị chảy máu đó là nhánh xuống của

động mạch mũ giữa ở phía sau mấu

chuyển và nhánh ngang của động mạch

mũ ngoài ở cơ rộng ngoài Chúng tôi không gặp trường hợp nào như vậy

3 Ưu nhược điểm của đường mổ bên ngoài trực tiếp

Mỗi đường mổ trong phẫu thuật thay khớp háng có ưu nhược điểm nhất định Đường mổ phía trước hạn chế bộc lộ khớp háng, đòi hỏi phải giải phóng cơ dạng và là nguyên nhân hình thành cốt hóa lạc chỗ Đường mổ qua mấu chuyển lớn có thể có dáng đi khập khiễng, đau và sai khớp nếu mấu chuyển lớn không liền Đường mổ phía sau có tỷ lệ cao nhất mất vững khớp háng sau phẫu thuật Đường

mổ bên ngoài có tỷ lệ cao bị đi khập khiễng, cốt hóa lạc chỗ và chảy máu [1] Nghiên cứu của William P.B và CS (2013) [5], đường mổ phía trước bị chảy máu nhiều hơn đường mổ phía sau do bị hạn chế quan sát bao khớp và phần mềm phía sau khớp háng Đường mổ phía trước kiểm soát tốt ổ cối, góp phần làm tăng tính chính xác vị trí của ổ cối nhân tạo Đường mổ này cũng có nguy cơ tổn thương nhánh thần kinh mông trên và tổn thương cơ mông nhỡ, do vậy làm tăng nguy cơ dáng đi Trenderlenburg sau mổ

do tổn thương nhóm cơ dạng

Đường mổ phía sau được đánh giá dễ thực hiện, thời gian mổ nhanh, chảy máu

ít, nhóm cơ dạng không bị tổn thương nên thường không có dáng đi bất thường sau mổ Nhưng khó quan sát ổ cối, làm ảnh hưởng đến tính chính xác vị trí của ổ cối nhân tạo, tăng nguy cơ sai khớp và nguy cơ tổn thương thần kinh hông

KẾT LUẬN

Trang 8

137

Đường mổ bên ngoài trực tiếp có thể

được sử dụng cho cả thay khớp háng

bán phần và toàn phần BN nằm nghiêng

nên thuận lợi cho cả người mổ chính và

phụ mổ quan sát hình dung các mốc

giải phẫu Đường mổ này chỉ giải phóng

một phần cơ mông nhỡ ở mặt trước

khớp háng nên ít làm thay đổi độ vững

khớp Đường mổ này bộc lộ và quan sát

tốt khi can thiệp vào ổ cối, tuy nhiên

ít thuận lợi khi can thiệp vào đầu trên

xương đùi

Góc nghiêng của ổ cối nhân tạo nằm

trong giới hạn an toàn (40 - 52º), tuy

nhiên 15/75 BN chuôi khớp bị nghiêng

quá 5º về phía trong hoặc phía ngoài,

thậm chí nghiêng tới 8º về bên trong và 7º

về bên ngoài

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Andrew GS, Henry WJ, Martyn LP,

Hardinge K Surgical approaches for total hip

arthroplasty Orthopeadics and trauma Elsevier

Ltd 2010, pp.455-462

2 David W, Florian R, Hansrudi N,

Thomas M Cup positioning in total hip

arthoplasty: spatial alignment of the acetabular

entry plane Arch Orthop Trauma Surg 2012,

132, pp.1-7

3 Mulliken BD, Rorabeck CH, Bourne

RB, Nayak N A modified direct lateral

approach in total hip arthroplasty The Journal

of Arthroplasty 1998, Vol 13, No 7,

pp.737-747

4 Tahir K, David K Damage to the

Superior Gluteal Nerve During the direct lateral approach to the hip The Journal

of Arthroplasty 2007, Vol 22, No 8,

pp.1198-1200

5 William PB, Shelly ET, John PL Prospective

randomized study of direct anterior vs postero lateral approach for total hip arthroplasty The Journal of Arthroplasty 2013, 28,

pp.1634-1638

6 Woolson ST, Mow CS, Syquia JF

Comparison of primary total hip replacements performed with a standard incision or a mini incision J Bone Joint Surg Am 2004, 86, pp.1353-1358

7 Yutaka I, Naomi K, Yohei Y, Takashi I, Naoyuki I, Tomoyuki S Little clinical

advantage of modified Watson Jones approach over modified mini incision direct lateral approach in primary total hip

arthroplasty The Journal of Arthroplasty

2011, Vol 26, No 7, pp.1117-1121.

Trang 9

138

Ngày đăng: 19/01/2020, 21:46

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w