1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Tình trạng thai sản trên bệnh nhân lupus ban đỏ hệ thống

8 110 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 175,47 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết nghiên cứu khảo sát một số đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của bệnh nhân Lupus ban đỏ hệ thống mang thai. Đồng thời, bài viết tìm hiểu đặc điểm thai sản trên bệnh nhân Lupus ban đỏ hệ thống và sự tăng trưởng của trẻ được sinh ra bởi các bà mẹ Lupus trong năm đầu.

Trang 1

Địa chỉ liên hệ: Nguyễn Văn Đoàn, Bộ môn Dị ứng,

Trường Đại học Y Hà Nội

Email: mr.doan1956@yahoo.com.vn

Ngày nhận: 13/8/2015

Ngày được chấp thuận: 25/12/2015

TÌNH TRẠNG THAI SẢN TRÊN BỆNH NHÂN LUPUS BAN ĐỎ HỆ THỐNG

Trần Hoài Linh, Nguyễn Văn Đoàn

Trường Đại học Y Hà Nội Lupus ban đỏ hệ thống là một bệnh tự miễn có biểu hiện lâm sàng đa dạng và thường gặp ở phụ nữ chủ yếu trong độ tuổi sinh đẻ Vấn đề thai sản trong bệnh Lupus ban đỏ hệ thống có thể dẫn đến nhiều biến chứng cho cả mẹ và con Nghiên cứu được thực hiện nhằm khảo sát một số đặc điểm lâm sàng - cận lâm sàng của bệnh nhân Lupus ban đỏ hệ thống mang thai, tìm hiểu đặc điểm thai sản trên bệnh nhân Lupus ban đỏ hệ thống và sự tăng trưởng của trẻ sinh ra bởi các bà mẹ Lupus trong năm đầu Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 88 bệnh nhân Lupus mang thai điều trị tại Trung tâm Dị ứng – Miễn Dịch lâm sàng từ 2011 –

2015 Kết quả cho thấy, tuổi trung bình 26,84 ± 4,33 (năm) Tỷ lệ tăng huyết áp và thiếu máu khi vào viện lần lượt là 25% và 60,2%, đẻ non 50%, sinh đủ tháng 15,91%, thai lưu 18,18%, tuổi thai trung bình khi chuyển dạ 35,72 ± 2,96 (tuần), 48,3% thai chậm phát triển trong tử cung, tử vong trong năm đầu 5%, tỷ lệ thấp cân tại 6 tháng và 12 tháng lần lượt là 20% và 15,8%, bệnh Lupus ban đỏ hệ thống và quá trình thai sản có tác động qua lại lẫn nhau dẫn đến nhiều hậu quả nặng nề cho cả mẹ và con.

Từ khóa: Lupus ban đỏ hệ thống, thai sản, mang thai

I ĐẶT VẤN ĐỀ

Lupus ban đỏ hệ thống (Systemic Lupus

Erythematosus) là bệnh tự miễn, có biểu hiện

lâm sàng rất đa dạng từ các biểu hiện ngoài

da tới các tổn thương nội tạng [1] Bệnh gặp

chủ yếu ở phụ nữ (90%), đa phần ở độ tuổi

sinh đẻ (20 - 40 tuổi)

Bệnh Lupus và quá trình thai sản có sự tác

động qua lại lẫn nhau Theo nhiều nghiên

cứu, quá trình thai sản là một trong những

yếu tố gây khởi phát đợt cấp của bệnh

Lupus Các cơ quan bị ảnh hưởng nhiều nhất

trong đợt cấp là da, thận, máu và khớp, trong

đó tổn thương thận nặng nhất với các biểu

hiện của viêm cầu thận, hội chứng thận hư,

suy thận, đây cũng là một trong những yếu tố

tiên lượng xấu, có thể dẫn đến tử vong mẹ

trong thai kỳ [2]

Ngược lại, bệnh Lupus có thể gây ra những ảnh hưởng nặng nề đến quá trình thai sản của bệnh nhân, dẫn đến nhiều nguy cơ cho cả mẹ và thai nhi [3] Tỷ lệ sảy thai và thai lưu ở bệnh nhân Lupus mang thai cao hơn rất nhiều so với tỷ lệ trong cộng đồng Tỷ lệ sảy thai dao động từ 25 - 52% trong giai đoạn bệnh hoạt động so sánh với 8 - 12% trong giai đoạn bệnh không hoạt động [4] Trước những năm 80, tỷ lệ đẻ non của bệnh nhân Lupus dưới 60% và trong một số nghiên cứu gần đây thì tỷ lệ này đạt trên 80% [5] Tình trạng thai chậm phát triển trong tử cung gặp ở khoảng 14,8% các bệnh nhân Lupus mang thai [5] Bên cạnh đó, không thể không kể đến Lupus sơ sinh – hội chứng có liên quan đến việc vận chuyển tự động các tự kháng thể của mẹ qua hàng rào nhau thai, chủ yếu là các kháng thể anti - SSA và anti - SSB với biểu hiện nặng nề nhất là bloc nhĩ thất bẩm sinh [6; 7]

Trang 2

Nhiều thập kỷ trước phụ nữ mắc bệnh

Lupus rất ít có cơ hội được làm mẹ do chậm

được điều trị, khoa học chưa phát triển và do

bị tác động bởi nhiều quan niệm sai lầm Cùng

với sự phát triển của xã hội và nền y học hiện

đại, bệnh Lupus được kiểm soát hiệu quả hơn

và ước mong được sinh đẻ của những phụ nữ

mắc bệnh này cũng được quan tâm hơn Tuy

nhiên, quá trình mang thai ở bệnh nhân Lupus

vẫn được coi là “thai nghén nguy cơ cao” [1]

Mặc dù đã có nhiều nghiên cứu về bệnh

Lupus ban đỏ hệ thống và thai nghén, quá

trình thai sản trên bệnh nhân Lupus còn ít

được quan tâm nghiên cứu Ở Việt Nam,

chưa có nghiên cứu nào theo dõi sự phát triển

của trẻ em được sinh ra bởi những bà mẹ

Lupus trong năm đầu sau sinh Do đó, chúng

tôi tiến hành nghiên cứu đề tài với mục tiêu:

1 Khảo sát một số đặc điểm lâm sàng và

cận lâm sàng của bệnh nhân Lupus ban đỏ hệ

thống mang thai

2 Tìm hiểu đặc điểm thai sản trên bệnh

nhân Lupus ban đỏ hệ thống và sự tăng

trưởng của trẻ được sinh ra bởi các bà mẹ

Lupus trong năm đầu

II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

1 Đối tượng: 64 bệnh nhân Lupus mang

thai từ năm 2011 – 2014 và 24 bệnh nhân

điều trị tại Trung tâm Dị ứng – Miễn dịch lâm

sàng từ 2/2014 đến 2/2015

Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân: Bệnh nhân

được chọn vào nghiên cứu khi có đủ 2 tiêu

chuẩn sau:

- Có thai tại thời điểm vào viện

- Đã được chẩn đoán xác định Lupus trong

tiền sử hoặc bệnh nhân mới có đủ ≥ 4/11 tiêu

chuẩn chẩn đoán theo tiêu chuẩn ACR 1997

Tiêu chuẩn loại trừ: Những bệnh nhân

không có đủ 2 tiêu chuẩn nêu trên

2 Phương pháp

Thiết kế nghiên cứu: mô tả cắt ngang.

- Công cụ thu thập số liệu: mẫu bệnh án và

bộ câu hỏi phỏng vấn qua điện thoại

- Các biến số và chỉ số nghiên cứu: Lâm sàng: tuổi, thời gian mắc bệnh, liều corticoid dùng hàng ngày, lý do vào viện, bệnh sử, thăm khám khi vào viện…Cận lâm sàng: công thức máu, hóa sinh máu, tổng phân tích nước tiểu, định lượng protein niệu 24h… Sản khoa: tiền sử sản khoa, kết quả quá trình mang thai

Sự phát triển của trẻ trong năm đầu: tỷ lệ tử

vong trong năm đầu, cân nặng tại thời điểm 6 tháng và 12 tháng

3 Xử lý số liệu

Số liệu được xử lý bằng chương trình thống kê y học SPSS 20.0

4 Đạo đức nghiên cứu

Tất cả hoạt động tiến hành trong nghiên cứu này đều tuân thủ quy định và nguyên tắc chuẩn mực về đạo đức nghiên cứu y sinh học của Việt Nam và quốc tế Tất cả các đối tượng nghiên cứu tự nguyện tham gia vào nghiên cứu sau khi được tư vấn và cung cấp đầy đủ Các số liệu y học mang tính cá nhân trong nghiên cứu được bảo mật

III KẾT QUẢ

1 Lâm sàng, cận lâm sàng bệnh nhân Lupus ban đỏ hệ thống mang thai

Tuổi mắc bệnh trung bình là 26,84 ± 4,33 năm, chủ yếu ở độ tuổi 20 - 30 chiếm 77,3% tổng số bệnh nhân (68/88) Số năm mắc bệnh trung bình là 3,89 ± 3,89 năm, lâu nhất là 15 năm Tỷ lệ phát hiện bệnh trong đợt thai này

đạt 10,2% 100% thuốc sử dụng đều là

Medrol Liều trung bình là 10,87 ± 7,57mg/ ngày Tỷ lệ bỏ thuốc khi có thai là 10,2% (9/88 người)

Trang 3

Bảng 1 Các biểu hiện lâm sàng trong tiêu chuẩn chẩn đoán

Viêm màng tim hoặc màng phổi 3 3,4

Tổn thương thần kinh – tâm thần 0 0

Ban cánh bướm gặp nhiều nhất chiếm tỷ lệ 50% (44/88) Sau đó là nhạy cảm ánh sáng chiếm 20/88 bệnh nhân (22,7%) và viêm đa khớp chiếm 16/88 bệnh nhân (18,2%) Ít gặp là viêm màng tim/màng phổi và loét miệng (3,4%) Không gặp tổn thương thần kinh – tâm thần

Bảng 2 Huyết áp khi vào viện

Tăng huyết áp

Huyết áp bình thường Tổng

3 tháng đầu 3 tháng giữa 3 tháng cuối Tổng

Có 22/88 bệnh nhân tăng huyết áp khi vào viện, chiếm tỷ lệ 25% Tăng huyết áp gặp nhiều nhất vào 3 tháng cuối với 14/22 bệnh nhân, chiếm 63,6%

Bảng 3 Liên quan giữa thiếu máu và tuổi thai

3 tháng đầu 3 tháng giữa 3 tháng cuối Tổng (%)

Thiếu máu

(Hb < 110g/l) 10 22 21 53 60,23

Nồng độ Hb trung

bình (g/dl) 103,76 ± 24,65 96,40 ± 24,24 109,12 ± 15,83

Trang 4

Tỷ lệ thiếu máu chiếm 60,23% (53/88) Thiếu máu gặp nhiều nhất ở quý 2 của thai kỳ với 22/88 bệnh nhân Quý đầu và quý ba của thai kỳ có tỷ lệ thiếu máu tương ứng là 10/88 và 21/88 Nồng độ Hb trung bình đều thấp hơn 110g/l

Tỷ lệ hồng cầu niệu và bạch cầu niệu dương tính lần lượt là 84,2% (64/76) và 76,3% (58/76) Tất cả 26 bệnh nhân được định lượng protein niệu 24 giờ đều có protein niệu lớn hơn 0,5g/24 giờ, trung bình là 7,75g/24 giờ, dao động trong khoảng từ 0,65g/24h đến 23,49g/24h

2 Đặc điểm thai sản của bệnh nhân Lupus mang thai

Bảng 4 Tiền sử sản khoa

Cao nhất là sảy thai, chiếm tỷ lệ 36,78% (32/87) Sau đó là tỷ lệ nạo hút thai, chiếm 23% (23/87) Tỷ lệ sinh đủ tháng và thai lưu xấp xỉ nhau, lần lượt chiếm 18,39% (15/87) và 17,24% (16/87) Tỷ lệ đẻ non thấp nhất, chiếm 4,6%

Bảng 5 Kết quả quá trình mang thai

3 Thai lưu – Sảy thai 16 18,18

4 Đình chỉ thai điều trị bệnh 10 11,36

Cao nhất là đẻ non, chiếm tỷ lệ 50% (44/88) Sinh đủ tháng chiếm 15,91% (14/88) Thai lưu và xin đình chỉ thai điều trị bệnh chiếm lần lượt 18,18% (16/88) và 11,36% (10/88) Tử vong con gặp

ở 1/88 trường hợp Tử vong mẹ gặp ở 3/88 trường hợp Tỷ lệ mổ đẻ đạt 83,9% (47/56)

Trang 5

Tỷ lệ thai chậm phát triển trong tử cung và thai phát triển bình thường xấp xỉ nhau lần lượt chiếm 48,3% (28/58) và 51,7% (30/58) Có 44/58 trẻ sơ sinh thiếu tháng, chiếm 75,9% Tuổi thai trung bình khi chuyển dạ là 35,72 ± 2,96 (tuần)

3 Tình trạng trẻ trong năm đầu

Tỷ lệ tử vong của trẻ trong năm đầu là 5% (2/40 trẻ)

Bảng 6 Đánh giá tình trạng dinh dưỡng của trẻ theo chỉ số Z – Score

1 - 3SD < Z – Score < -2SD 9 20 6 15,8

2 - 2SD < Z – Score < +2SD 36 80 32 84,2

Tỷ lệ thấp cân tại thời điểm 6 tháng và 12 tháng lần lượt là 20% và 15,8%

IV BÀN LUẬN

Kết quả thu được cho thấy các bệnh nhân

trong nhóm nghiên cứu phần lớn đều ở độ

tuổi hoạt động sinh sản mạnh nhất từ 20 đến

30 tuổi (chiếm 77,3% - 68/88) Số liệu này phù

hợp với nghiên cứu của Nguyễn Văn Đoàn,

Nguyễn Phúc Hoàn năm 2008 [1] Số năm

mắc bệnh trung bình là 3,89 năm, lâu nhất là

15 năm (1/88) Số bà mẹ lần đầu được chẩn

đoán xác định Lupus trong lần thai này là 9/88

người (10,2%) So với các nghiên cứu khác,

tỷ lệ xuất hiện Lupus ở phụ nữ mang thai

được ghi nhận rất ít, khoảng 6% [8] Có thể

trong 9 bệnh nhân trên, hầu hết đã từng có

những biểu hiện lâm sàng xuất hiện đơn lẻ,

không đủ tiêu chuẩn chẩn đoán xác định

Toàn bộ thuốc sử dụng trước khi vào viện

là Medrol Glucocorticoid được khuyến cáo

nên dùng cho bệnh nhân Lupus có thai vì

thuốc không hoặc rất ít đi qua hàng rào rau

thai nên ít ảnh hưởng tới thai nhi Tỷ lệ tự ý bỏ

thuốc của nhóm nghiên cứu khi có thai là

10,2% (9/88) – thấp hơn nhiều lần so với

nghiên cứu trước đây của tác giả Nguyễn Văn Đoàn, Nguyễn Phúc Hoàn (48,3%) [1] Các biểu hiện lâm sàng trong tiêu chuẩn chẩn đoán hay gặp là: ban cánh bướm (50% -44/88), nhạy cảm ánh sáng (22,7% - 20/88), viêm đa khớp (18,2% -16/88), viêm màng tim/ màng phổi và loét miệng (3,4% - 3/88), không gặp tổn thương thần kinh – tâm thần (bảng 1) Kết quả nghiên cứu của chúng tôi không có

sự khác biệt nhiều về các tỷ lệ ban cánh bướm, nhạy cảm ánh sáng, loét miệng so với các nghiên cứu khác Theo bảng 2, tỷ lệ bệnh nhân có tăng huyết áp khi vào viện chiếm 25% tổng số bệnh nhân (22/88), đều là tăng huyết

áp cả hai thì và ở độ 1 theo phân loại của Hội Tim mạch học Việt Nam Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của Park năm 2014 với tỷ lệ tăng huyết áp ở bệnh nhân Lupus mang thai

là 20% [2]

Chúng tôi nhận thấy trong nhóm nghiên cứu có 60,2% (53/88) bệnh nhân thiếu máu ở thời điểm vào viện Thiếu máu kết hợp với diễn biến phức tạp của bệnh Lupus gây ảnh

Trang 6

hưởng xấu đến chất lượng máu đến thai và

làm tăng tỷ lệ sảy thai, thai lưu

Tỷ lệ hồng cầu niệu và bạch cầu niệu

dương tính tương ứng là 84,2% (64/76) và

76,3% (58/76) Đồng thời, trên 26 bệnh nhân

được định lượng protein niệu 24 giờ thì 100%

kết quả > 0,5g/24h Kết quả này cao hơn rất

nhiều so với nghiên cứu của Cortes 2002 với

protein niệu > 0,5g/24 h là 20 - 40% [9] Sở dĩ

có sự khác biệt như vậy có thể do hầu hết các

bệnh nhân của nhóm nghiên cứu vào viện

trong đợt cấp của bệnh nên tổn thương thận

là khó tránh khỏi

Trên tổng số 87 lần mang thai trong tiền sử

của nhóm nghiên cứu, tỷ lệ sảy thai cao nhất

là 36,78% (32/87), sinh đủ tháng chiếm

17,24% (16/87), thai lưu chiếm 18,39%

(15/87) (bảng 4) Trong đó, nổi bật là tỉ lệ đẻ

non tương đối thấp, chỉ chiếm 4,6% Theo

nhiều nghiên cứu, tỷ lệ đẻ non dao động từ 4

– 62% [5] Có lẽ do thời gian phát hiện bệnh

của nhóm nghiên cứu cao hơn kết hợp với

điều trị lâu dài corticoid cũng có thể dẫn đến tỷ

lệ thai nghén thành công (sinh đủ tháng – đẻ

non) giảm đi nhiều so với các nghiên cứu

trước đó

Theo bảng 5, chúng tôi nhận thấy tỷ lệ thai

nghén thành công khá cao đạt 66% (58/88),

trong đó đẻ non chiếm 50% (44/88) và sinh đủ

tháng chiếm 15,91% (14/88) Tỷ lệ đẻ non đã

thấp hơn nhiều so với các nghiên cứu trước

đây nhưng vẫn còn ở mức cao so với tỷ lệ đẻ

non trong cộng đồng (5-15%) [1; 5] Tỷ lệ thai

nghén không thành công (thai lưu – sảy thai)

chiếm 18,18% (16/88) phù hợp với kết quả

của các nghiên cứu khác Đình chỉ thai điều trị

bệnh chiếm 11,36% (10/88), hầu hết gặp ở

tuổi thai nhỏ trong quý đầu của thai kỳ, liên

quan đến các nguyên nhân như có thai khi

đang điều trị thuốc ức chế miễn dịch, đợt cấp

nặng… Bên cạnh đó, có 3 trường hợp tử

vong mẹ trong quý 3 của thai kỳ liên quan đến diễn biến nặng lên bệnh

Tỷ lệ mổ đẻ của nhóm nghiên cứu đạt 83,9% (47/56) cao hơn gần 4 lần so với tỷ lệ

mổ đẻ trong cộng đồng năm 2011 là 20% [10]

Tỷ lệ mổ đẻ cao liên quan đến tình trạng bệnh

lý phức tạp của mẹ, nếu đẻ đường dưới có thể có nguy cơ cao cho cả mẹ và con, chưa

kể đến tình trạng suy dinh dưỡng bào thai cũng là một yếu tố góp phần không nhỏ làm gia tăng tỷ lệ mổ đẻ

Đánh giá trên 58 trẻ sinh ra, chúng tôi ghi nhận được tỷ lệ thai chậm phát triển trong tử cung là 48,3% (28/58) – cao hơn nhiều so với

tỷ lệ suy dinh dưỡng bào thai nói chung ở Việt Nam là 6,8% và tổng kết từ nhiều nghiên cứu

là khoảng 15% [5] Thai chậm phát triển trong

tử cung thường là hậu quả của tình trạng thiếu dinh dưỡng và thiếu oxy kéo dài của thai

do giảm chất lượng của lượng máu mẹ đến thai nhi, làm hạn chế trao đổi chất giữa mẹ và con Bên cạnh đó, tỷ lệ sơ sinh non tháng (sinh ra trước 37 tuần) là 75,9% (44/58) và tuổi thai trung bình khi chuyển dạ là 35,72 tuần So với nghiên cứu của Madazli và cộng

sự 2014, tuổi thai trung bình của họ cao hơn (36,6 tuần) và tỷ lệ sinh thiếu tháng thấp hơn (27,6%) [11]

Trong số 40 trẻ được theo dõi trong năm đầu sau khi sinh, chúng tôi nhận thấy có 2 trường hợp tử vong (5%) – cao hơn tỷ lệ tử vong trong năm đầu của trẻ trong cộng đồng (1,4%) [10] Trong 2 trường hợp nói trên có 1 trường hợp tử vong do dị tật tim bẩm sinh phát hiện trước sinh; trường hợp còn lại tử vong ngay sau sinh do suy hô hấp sơ sinh

Để có một cái nhìn tổng quát hơn về tình trạng dinh dưỡng của trẻ trong năm đầu, chúng tôi tiến hành đánh giá cân nặng của trẻ theo chỉ số Z-Score Tại thời điểm 6 tháng và

12 tháng, tình trạng suy dinh dưỡng thể thấp

Trang 7

cân (Z - Score từ -2SD đến -3SD) lần lượt là

20% (9/45) và 15,8% (6/38) (bảng 6) Như vậy,

tỷ lệ thấp cân của nhóm nghiên cứu cao hơn tỷ

lệ thấp cân trong cộng đồng ở trẻ 6 - 12 tháng

(dao động trong khoảng 6,5 đến 6,7%) [10] Tỷ

lệ đẻ non cao kết hợp với tình trạng chậm phát

triển trong tử cung khiến trẻ chậm đuổi kịp sự

tăng trưởng gây nên tình trạng thấp cân so với

tuổi Suy dinh dưỡng không chỉ ảnh hưởng

đến tầm vóc của trẻ mà còn là điều kiện thuận

lợi để các bệnh lý nhiễm trùng xảy ra kéo dài

dẫn đến tình trạng suy dinh dưỡng lại càng trở

nên trầm trọng hơn

V KẾT LUẬN

Bệnh Lupus ban đỏ hệ thống và quá trình

thai sản có tác động qua lại lẫn nhau dẫn đến

nhiều hậu quả nặng nề cho cả mẹ và con Các

bệnh nhân trong nhóm nghiên cứu chủ yếu

thuộc độ tuổi sinh sản, vào viện với bệnh cảnh

lâm sàng đa dạng của bệnh Lupus Trong đó,

tình trạng tăng huyết áp, thiếu máu và tổn

thương thận còn biểu hiện nặng nề Kết quả

quá trình mang thai cho thấy tỷ lệ đẻ non, sảy

thai, thai lưu tương đối cao Cân nặng sơ sinh

thấp và tỷ lệ thai chậm phát triển trong tử cung

còn cao có thể là một trong những yếu tố làm

gia tăng tình trạng thấp cân của trẻ

Lời cảm ơn

Chúng tôi xin chân thành cảm ơn Ban lãnh

đạo bệnh viện Bạch Mai, Ban giám đốc cùng

các anh chị bác sỹ, điều dưỡng thuộc Trung

tâm Dị ứng – Miễn dịch lâm sàng và đặc biệt

cảm ơn sự hợp tác của các bệnh nhân đã

giúp đỡ chúng tôi thực hiện nghiên cứu này

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Nguyễn Văn Đoàn, Nguyễn Phúc

Hoàn (2009) Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng,

cận lâm sàng của bệnh nhân Lupus ban đỏ hệ

thống mang thai Tạp chí y học lâm sàng, 43,

37 - 41

2 Park EJ, Jung H, HwangJ et al (2014).

Pregnancy outcomes in patients with systemic lupus erythematosus: A retrospective review of 62 pregnancies at a single tertiary

center in South Korea Int J Rheum Dis, 17(8),

887 - 889

3 Chiong – Hee Wong, Tien – Ling Chen, Chyou – Shen Lee et al (2006)

Out-come of pregnancy in patients with systemic lupus erythematosus Taiwanese J Obstet

Gynecol, 120, 120 - 123.

4 Moroni G, Quaglini S, Banfi G, et al

(2002) Pregnancy in lupus nephritis Am J Kidney Dis, 40, 713 - 720.

5 Sai Yan Yuen, Adriana Krizova, Janine M Ouimet, Janet E pope (2008) Pregnancy

out-come in systemic Lupus Erythematosus is Im-proving: Results from a Case Control Study and

Literature Review Rheumatol J, 2, 89 - 98.

6 Buyon JP, Clancy RM (2003) Neonatal

Lupus: Review of Proposed pathogenesis and clinical data from the US–Based Research

Registry for Neonatal Lupus Autoimmunity,

36, 41 - 50.

7 Michel de Bandt (2005) Lupus et

Grosses Revue du Rhumatisme, 72, 554 - 562.

8 Noreella C.T.Kong (2006) Pregnancy

of a lupus patient – a challenge to the

nephrologists Nephrol Dial transplant, 21, 268

- 272

9 J Cortes – Hernandez, J Ordi – Ros,

F Paredes et al (2002) Clinical predictors of

fetal and maternal out come in systemic lupus erythematosus: a prospective study of 103

pregnancies Oxford Journals, 41(6), 643 - 650.

10 Tổng cục Thống kê (GSO), Việt Nam (2011) Điều tra đánh giá các mục tiêu trẻ em

và phụ nữ 2011 Báo cáo kết quả 2011, Hà

Nội, Việt Nam

Trang 8

11 Madazli R, Yuksel MA, Oncul M et al

(2014) Obstetric outcomesand prognostic

factors of lupus pregnancies Gynecology &

Obstetrics Academic Journal, 289, 49 - 53.

Summary PREGNANCY OUTCOMES IN PATIENTS WITH SYSTEMIC LUPUS

ERYTHEMATOSUS

Systemic Lupus Erythematosus (SLE) is an autoimmune disease with varied clinical manifes-tations; in women of child-bearing age, SLE can cause many complications for both mother and child The objectives of the study were to examine the clinical and subclinical characteristics

of pregnant women with SLE, the pregnancy outcomes in women with SLE and the growth development of infants born to Lupus mothers during the first year of life The cross sectional survey was carried on 88 pregnant Lupus patients treated at the Center of Allergology and linical immunology in Bachmai Hospital from 2011 to 2015 The average age of pregnant mothers was 26.84 ± 4.33 yrs old Hypertension and anemia on admission was 25% and 60.2% respectively Premature delivery was 50% Full - term birth was 15.1% Stillbirth was 18.18% Average gesta-tion length was 35.72 ± 2.96 weeks Intrauterine growth retardagesta-tion rate was 48.3% Infant mortal-ity rate was 5% Underweight rates of children at 6 and 12 months old were 20% and 15.8% re-spectively In conclusion, SLE and maternity issues have mutual interactions which result in seri-ous consequences for both mothers and children

Keywords: systemic Lupus Erythematosus, pregnancy, maternal issues, infant

Ngày đăng: 19/01/2020, 21:40

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w