1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Xác định tỷ lệ và mối liên quan giữa hội chứng chuyển hóa với thời gian tu hành và chế độ luyện tập thiền ở tu sĩ Phật giáo tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu năm 2016

6 65 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 159,08 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết tập trung đánh giá mối liên quan giữa hội chứng chuyển hóa với thời gian tu hành và chế độ luyện tập thiền ở các tu sĩ phật giáo tại tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Tỷ lệ hội chứng chuyển hóa tăng có ý nghĩa theo thời gian tu hành, thấp hơn có ý nghĩa ở người luyện tập thiền và giảm đáng kể theo thời gian luyện tập thiền.

Trang 1

XÁC ĐỊNH TỶ LỆ VÀ MỐI LIÊN QUAN GIỮA HỘI CHỨNG CHUYỂN HÓA

VỚI THỜI GIAN TU HÀNH VÀ CHẾ ĐỘ LUYỆN TẬP THIỀN Ở

TU SĨ PHẬT GIÁO TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU NĂM 2016

Trương Đình Cẩm 1 ; Nguyễn Thị Kim Anh 1

TÓM TẮT

Mục tiêu: đánh giá mối liên quan giữa hội chứng chuyển hóa với thời gian tu hành và chế độ

luyện tập thiền ở các tu sĩ phật giáo tại tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu Đối tượng và phương pháp:

điều tra dịch tễ học mô tả trên 560 đối tượng là tu sĩ phật giáo Xác định hội chứng chuyển hóa

theo tiêu chuẩn Liên đoàn Đái tháo đường Quốc tế (IDF - 2005) và theo Hội Tim mạch và

Viện Tim - Phổi - Huyết học Quốc gia Mỹ (AHA/NHLBI - 2005) Kết quả: tỷ lệ mắc hội chứng

chuyển hóa theo tiêu chuẩn IDF là 18,6%, theo tiêu chuẩn AHA/NHLBI là 22,9% Tỷ lệ hội chứng

chuyển hóa cao hơn có ý nghĩa ở nhóm đối tượng có thời gian tu hành > 20 năm (18,4% so

với 7,1%, p < 0,05), thấp hơn ở đối tượng có luyện tập thiền (40,4% so với 78,1%, p < 0,001)

và giảm có ý nghĩa theo thời gian luyện tập thiền (p < 0,05) Kết luận: tỷ lệ hội chứng chuyển

hóa tăng có ý nghĩa theo thời gian tu hành, thấp hơn có ý nghĩa ở người luyện tập thiền và

giảm đáng kể theo thời gian luyện tập thiền

* Từ khóa: Hội chứng chuyển hóa; Tu sĩ Phật giáo; Mối liên quan

The Prevalence and Association between Metabolic Syndrome and

Duration of Being Cloistered and Meditation in Buddhist Monks of

Baria - Vungtau Province in 2016

Summary

Objectives: To evaluate the relationship between metabolic syndrome and durations of being

cloistered meditation in Buddhist monks of Baria - Vungtau province Subjects and method:

A descriptive epidemiological survey on 560 Buddhist monks Metabolic syndrome was defined

by IDF standards and AHA/NHLBI standards 2005 Results: The incidence of metabolic syndrome

according to the IDF standard was 18.6%, AHA/NHLBI was 22.9% The prevalence of metabolic

syndrome was significantly higher in group with 20 years longer durations of being cloistered

(18.4% vs 7.1%, p < 0.05), was lower in ones doing meditations (40.4% vs 78.1%, p < 0.001)

and was significantly reduced over time of meditation practice (p < 0.05) Conclusion: Rate of

metabolic syndrome was increased significantly over time being cloistered, lowers significantly

in meditators and decreased significantly over time meditation practice

* Keywords: Metabolic syndrome; Buddhist monk; Association

1 Bệnh viện Quân y 175

Người phản hồi (Corresponding): Trương Đình Cẩm (truongcam1967@gmail.com)

Ngày nhận bài: 30/08/2018; Ngày phản biện đánh giá bài báo: 29/10/2018

Ngày bài báo được đăng: 04/12/2018

Trang 2

ĐẶT VẤN ĐỀ

Hội chứng chuyển hóa (HCCH) đã và

đang trở thành yếu tố nguy cơ cho xuất

hiện một số bệnh nguy hiểm như tăng

huyết áp, đái tháo đường týp 2, bệnh tim

thiếu máu cục bộ mạn, đột quỵ não, bệnh

gout mạn tính Phát hiện sớm HCCH ở

đối tượng chưa biểu hiện thành bệnh là cơ

sở có giá trị cho các biện pháp dự phòng,

điều trị tích cực nhằm ngăn ngừa hữu hiệu

xuất hiện các bệnh liên quan đến HCCH [7]

Tại Việt Nam, trong những năm gần đây,

tỷ lệ đối tượng có HCCH cũng không ngừng

tăng nhanh chóng và là nguyên nhân dẫn

đến xuất hiện ngày càng nhiều những

bệnh liên quan Trong xã hội, Phật giáo

chiếm một vị trí quan trọng trong đời sống

tâm linh và có tác động tích cực đối với

sự phát triển chung của đất nước Bên

cạnh những nét đặc thù riêng, tu sĩ Phật

giáo vẫn chịu ảnh hưởng tác động của

một số yếu tố chung như môi trường,

chủng tộc, vẫn có nguy cơ mắc một số

bệnh, hội chứng của xã hội hiện đại như

tăng huyết áp, đái tháo đường týp 2, bệnh

tim thiếu máu cục bộ và HCCH… [4, 5]

Đã có nhiều nghiên cứu về HCCH ở các

đối tượng dân số khác nhau, tuy nhiên

chưa có nhiều nghiên cứu về HCCH ở

đối tượng tu sĩ Phật giáo ăn chay trường

Với những lý do nêu trên, chúng tôi thực

hiện đề tài này nhằm mục tiêu: Đánh giá

mối liên quan giữa HCCH với thời gian tu

hành và chế độ luyện tập thiền ở các tu sĩ

phật giáo tại tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU

1 Đối tượng nghiên cứu

560 tu sĩ phật giáo của tỉnh Bà Rịa -

Vũng Tàu được thu thập số liệu nghiên

cứu từ tháng 2 - 2015 đến 5 - 2016

* Tiêu chuẩn lựa chọn:

- Các tu sĩ Phật giáo

- Thời gian tu hành > 3 năm

- Bao gồm cả hai giới nam và nữ

- Ăn chay trường thuần túy

- Tuổi từ 20 đến 89

- Được khám và có đủ các chỉ số nghiên cứu

- Đối tượng có luyện tập thiền hay không thiền (thiền > 1 năm)

- Bao gồm cả những bệnh nhân đã xác định mắc một số bệnh tim mạch, chuyển hóa mạn tính trước thời điểm nghiên cứu như tăng huyết áp, đái tháo đường týp 2, bệnh tim thiếu máu cục bộ, rối loạn lipid máu

* Tiêu chuẩn loại trừ:

- Đang mắc các bệnh cấp tính nặng, bệnh hiểm nghèo

- Người đang nằm điều trị tại bệnh viện trong thời gian nghiên cứu

- Tuổi < 20, thời gian tu hành < 3 năm

- Mắc một số bệnh mạn tính như đái tháo đường týp 1, đái tháo đường có nguyên nhân, bệnh gan, suy thận mạn tính các giai đoạn

- Không làm đủ các xét nghiệm cần thiết cho nghiên cứu

- Không đồng ý tham gia nghiên cứu

- Không ăn chay thuần túy

* Cỡ mẫu nghiên cứu: cỡ mẫu được

tính theo công thức tính cho nghiên cứu cắt ngang của dịch tễ học mô tả:

n = (Z21-α/2x pxq) x DE

d2 Trong đó, n: cỡ mẫu tối thiểu; DE (design effect) = 2; Z1-α/2: hệ số tin cậy (dự kiến 95%) = 1,96; d: sai số tuyệt đối của nghiên cứu sử dụng (dự kiến 5%) = 0,05;

Trang 3

p: tỷ lệ có rối loạn chuyển hóa (dự kiến

20%) = 0,2; q = (1 - p) Từ các thông số trên,

cỡ mẫu tối thiểu của nghiên cứu 492 người

Thực tế đã thu thập được 560 đối tượng

2 Phương pháp nghiên cứu

* Thiết kế nghiên cứu: mô tả cắt ngang

có phân tích

* Nội dung nghiên cứu:

Nghiên cứu thực hiện trong các đợt

khám sức khỏe định kỳ theo kế hoạch

của Ban Phật giáo tỉnh

- Phỏng vấn, thu thập thông tin cá

nhân: thời gian tu hành, thời gian ăn chay

trường thuần túy, tiền sử bệnh của người

thân trong gia đình, tiền sử bệnh, mức độ

hoạt động thể lực, hình thức rèn luyện thể

lực, thời gian không hoạt động thể lực

trong ngày (tụng kinh), thời gian, chế độ

thiền (nếu có)

- Xác định các chỉ số nhân trắc: chiều

cao, cân nặng, chu vi vòng bụng, chỉ số

khối cơ thể (BMI), chỉ số vòng bụng trên

mông (WHR)

- Khám lâm sàng, xét nghiệm: huyết học,

sinh hóa máu (ure, creatinin, glucose,

HbA1c, Na+, K+, Ca2+, Cl-, cholesterol,

triglycerid, HDL-C, LDL-C, CK, CKMB,

hs-ttroponin T, axít uric, ALT, AST), sinh

hóa nước tiểu 11 chỉ tiêu, X quang tim phổi,

điện tâm đồ 12 đạo trình, siêu âm tim,

* Xử lý số liệu: bằng phần mềm

Epi.iInfo 7.0, Excel 2007

* Các tiêu chuẩn sử dụng trong nghiên

cứu:

- Phân loại BMI theo Hiệp hội Đái tháo

đường châu Á Thái Bình Dương

- Phân độ huyết áp theo JNC VI cho

người ≥ 18 tuổi (2003)

- Chẩn đoán HCCH theo Hội Tim mạch

và Viện Tim - Phổi - Huyết học Quốc gia Mỹ (AHA/NHLBI - 2005), Liên đoàn Đái tháo đường Quốc tế (IDF - 2005)

- Phân loại rối loạn lipid máu theo Hội Tim mạch Việt Nam (2008)

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ

BÀN LUẬN

1 Tỷ lệ HCCH ở tu sĩ Phật giáo ăn chay trường

Bảng 1: Tỷ lệ HCCH theo IDF và

AHA/NHLBI

Tiêu chuẩn HCCH

Số lượng (n = 560)

Tỷ lệ (%)

Tỷ lệ đối tượng có HCCH theo tiêu chuẩn AHA/NHLBI cao hơn so với tiêu chuẩn IDF

2 Mối liên quan giữa HCCH theo IDF với một số thông số

Bảng 2: Mối liên quan giữa HCCH theo

IDF với thời gian tu hành

HCCH Thời gian tu

hành (năm)

HCCH (+) (n = 104)

HCCH (-) (n = 456)

p2-3 > 0,05

Cũng như bất kỳ đối tượng nào, ở tu sĩ Phật giáo khi xuất hiện HCCH sẽ có các yếu tố nguy cơ liên quan, ảnh hưởng theo hai chiều hướng khác nhau hoặc làm gia tăng, hoặc làm giảm tỷ lệ HCCH Có thể ở đối tượng đặc thù là tu sĩ Phật giáo sẽ có các yếu tố nguy cơ liên quan đặc biệt,

Trang 4

không hoặc rất hiếm gặp ở những đối

tượng khác Đặc điểm đầu tiên cần kể đến

đó là chế độ ăn chay trường của tu sĩ

Thời gian tu hành càng dài, đồng nghĩa với

thời gian ăn chay trường càng lâu Do đó,

thời gian tu hành có ảnh hưởng đến tỷ lệ

HCCH Kết quả cho thấy khi thời gian tu

hành tăng lên đồng nghĩa với tăng tỷ lệ

HCCH, trong đó khác biệt về tỷ lệ HCCH

rõ nét nhất là thời gian tu < 20 năm và

> 20 năm Thời gian tu hành từ 20 - 40 năm,

tỷ lệ HCCH đã là 18,4%, nhất là khi thời

gian tu > 40 năm, tỷ lệ HCCH đạt cao nhất

(19,4%) Thời gian tu hành liên quan với

tuổi của đối tượng Khi tu sĩ có tuổi đời

càng thấp, thời gian tu hành càng ngắn

Ngược lại, tuổi đời càng cao, thời gian tu

hành càng lâu Do đó, mối liên quan giữa tỷ

lệ HCCH gia tăng theo thời gian tu hành

cũng là mối liên quan giữa tỷ lệ HCCH với

tuổi đời của tu sĩ Phật giáo Một đặc điểm

cần nhấn mạnh là khi thời gian tu hành

20 - 40 năm và thời gian tu hành > 40 năm,

tỷ lệ HCCH khác biệt không có ý nghĩa

thống kê Điều đó có nghĩa với thời gian tu

> 20 năm, các yếu tố sinh hoạt, luyện tập

đều tương đương nhau và không phụ

thuộc nhiều vào những năm tiếp theo

Nguyễn Hải Thuỷ (2005) cũng có nhận xét:

một số chỉ số lipid, glucose biến đổi ở tu sĩ

Phật giáo ăn chay trường sẽ xuất hiện với

khởi điểm ≥ 20 năm [5]

Bảng 3: Mối liên quan giữa HCCH theo

IDF với luyện tập thiền

HCCH (+) (n = 104)

HCCH (-) (n = 456)

HCCH

OR

Thiền (n = 412) 56 53,8 356 78,1

Không thiền (n = 148) 48 46,2 100 21,9

OR:3,05 CI: 1,90 - 4,87

p < 0,0001

< 0,001

Đối tượng luyện tập thiền có tỷ lệ HCCH theo IDF thấp hơn đối tượng không tập thiền Đối tượng không thiền có tỷ lệ HCCH cao hơn rõ rệt so với nhóm có tập thiền Tập thiền có tác dụng làm giảm tỷ lệ HCCH với tỷ suất chênh OR = 3,05; p < 0,0001

Bảng 4: Mối liên quan giữa tỷ lệ HCCH

theo IDF với thời gian luyện tập thiền

HCCH Thời gian

luyện tập (năm)

HCCH (+) (n = 56)

HCCH (-) (n = 342)

< 5 (n = 99) 26 (26,3%) 73 (73,7%)

5 - 10 (n = 208) 24 (11,5%) 184 (88,5%)

> 10 (n = 91) 6 (6,6%) 85 (93,4%)

Tỷ lệ HCCH theo IDF giảm dần theo thời gian luyện tập thiền có ý nghĩa thống

kê (p < 0,05)

Luyện tập thiền là một trong những hình thức luyện tập đang được áp dụng và phổ biến rộng rãi ở nhiều đối tượng trong cộng đồng, phù hợp với một số đặc điểm liên quan đến tuổi, tình trạng sức khoẻ, công việc và tôn giáo Luyện tập thiền cùng với chế độ ăn chay trường sẽ bổ sung cho nhau, hạn chế xuất hiện một số yếu tố nguy

cơ tim mạch, chuyển hoá Tuy không phải

là hình thức luyện tập thể lực tiêu tốn nhiều năng lượng, nhưng luyện tập thiền sẽ giúp

cơ thể điều chỉnh, cân bằng một số quá trình chuyển hoá trong cơ thể, điều chỉnh cân đối giữa thể lực và tinh thần, giữa chế

độ ăn uống với các chỉ số nhân trắc Kết quả phân tích trình bày tại bảng 3 cho thấy những đối tượng luyện tập thiền có tỷ lệ HCCH thấp hơn có ý nghĩa so với những người không luyện tập thiền Cũng theo

Trang 5

kết quả phân tích, luyện tập thiền sẽ giảm

nguy cơ mắc HCCH với tỷ suất chênh 3,05,

p < 0,001 (CI: 1,90 - 4,87) Rõ ràng, chế độ

luyện tập thiền không những ảnh hưởng có

ý nghĩa theo chiều hướng giảm mắc bệnh

tăng huyết áp, đái tháo đường týp 2, rối

loạn lipid máu mà chế độ luyện tập thiền

còn ảnh hưởng tích cực đối với xuất hiện

tỷ lệ HCCH Đây là hiệu quả có lợi của

luyện tập dưỡng sinh, luyện tập thiền trong

cộng đồng nói chung và ở tu sĩ Phật giáo

nói riêng được một số tác giả đề cập [2, 3]

Bản thân có hay không có luyện tập thiền

cũng đã ảnh hưởng đến tỷ lệ HCCH Thời

gian luyện tập thiền qua phân tích cho thấy

có ảnh hưởng tới tỷ lệ HCCH, thời gian

luyện tập thiền càng lâu, tỷ lệ HCCH càng

giảm có ý nghĩa Nếu đối tượng có thời

gian luyện tập thiền < 5 năm, tỷ lệ HCCH

gặp ở mức khá cao (26,3%) Thời gian

luyện tập thiền 5 - 10 năm, tỷ lệ HCCH đã

giảm đi một nửa so với đối tượng luyện tập

< 5 năm (11,5%) Khi thời gian luyện tập

thiền > 10 năm, tỷ lệ HCCH chỉ là 6,6%

Có lẽ kết quả trên về mối liên quan giữa

tỷ lệ HCCH với luyện tập thiền cũng như

thời gian luyện tập đã minh chứng cho

hiệu quả, giá trị của phương pháp rèn

luyện thể lực đặc biệt này trong điều chỉnh

xuất hiện các yếu tố nguy cơ tim mạch,

chuyển hoá nói riêng và HCCH nói chung

Trong y văn chưa tìm thấy kết quả về tỷ lệ

HCCH trong mối liên quan với luyện tập

thiền, nhưng với kết quả trên cũng như

nhận xét gián tiếp về mối liên quan giữa

hình thức luyện tập dưỡng sinh, luyện tập

thiền với tình trạng tăng glucose máu, tình

trạng dư cân, béo ở đối tượng ăn chay

trường mà một số tác giả quan sát có thể

khẳng định bước đầu về giá trị của hình thức luyện tập thiền trong việc ngăn ngừa các yếu tố nguy cơ tim mạch, chuyển hoá nói riêng cũng như trong củng cố, nâng cao sức khoẻ của đối tượng nói chung [2, 3,

4, 5] Theo khuyến cáo của Liên đoàn Đái tháo đường Quốc tế (IDF - 2005),

có thể điều trị HCCH hoàn toàn chủ yếu bằng thay đổi lối sống, bao gồm các biện pháp: tiết chế ăn uống hợp lý để giảm cân nặng dư thừa, hạn chế uống rượu, bia, giảm sử dụng muối, chế độ ăn đầy đủ các thành phần như canxi, kali, magie, hạn chế hoặc không sử dụng mỡ bão hòa, cholesterol, tăng cường hoạt động thể lực, sử dụng thuốc để điều chỉnh các thành tố của HCCH như kháng insulin, rối loạn lipid máu, giảm cân, thậm chí có thể can thiệp phẫu thuật để loại bỏ bớt lớp mỡ dưới da khi chỉ số BMI ≥ 40 kg/m2

mà thất bại, bằng tiết chế ăn uống, luyện tập thể lực kèm theo có hay không có dùng thuốc [1, 5, 6]

KẾT LUẬN

Qua nghiên cứu mối liên quan giữa HCCH với thời gian tu hành > 20 năm ở

560 tu sĩ Phật giáo ăn chay trường thuộc tỉnh Bà Rịa - VũngTàu với thời gian tu hành và chế độ luyện tập thiền, chúng tôi rút ra kết luận: tỷ lệ HCCH cao hơn có

ý nghĩa ở nhóm đối tượng có thời gian tu hành > 20 năm so với tu hành < 20 năm (18,4% so với 7,1%, p < 0,05) Tỷ lệ HCCH thấp hơn rõ rệt ở đối tượng có tập thiền

so với không thiền (40,4% so với 78,1%,

p < 0,001) và giảm có ý nghĩa theo thời gian luyện tập thiền (p < 0,05)

Trang 6

TÀI LIỆUTHAM KHẢO

1 Võ Bảo Dũng, Trần Văn Chung và CS

Hội chứng chuyển hóa ở bệnh nhân đái tháo

đường týp 2 tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bình

Định (2003 - 2004) Kỷ yếu các đề tài nghiên

cứu khoa học Hội nghị Nội tiết - Đái tháo

đường miền Trung mở rộng lần thứ IV 2004,

tr.231-236

2 Nguyễn Trung Huy, Nguyễn Hải Thủy

Đặc điểm lâm sàng và rối loạn thành phần

huyết học ở đối tượng có chế độ ăn chay

trường Tạp chí Y học Thực hành Kỷ yếu

toàn văn các đề tài khoa học Đại hội Hội Nội

tiết - Đái tháo đường Quốc gia Việt Nam lần

thứ III 2005, tr393-402

3 Nguyễn Trung Huy, Nguyễn Hải Thủy

Khảo sát rối loạn chuyển hóa protid ở đối

tượng ăn chay trường Tạp chí Y học Thực

hành Kỷ yếu toàn văn các đề tài khoa học

Đại hội Hội Nội tiết - Đái tháo đường Quốc gia

Việt Nam lần thứ III 2005, tr.432-442

4 Nguyễn Hải Thủy, Nguyễn Thọ Lịch,

Thích Hải Ấn và CS Khảo sát tăng đường

máu ở đối tượng ăn trường chay trên 40 tuổi

Tạp chí Y học thực hành Kỷ yếu toàn văn các

đề tài khoa học Đại hội Hội Nội tiết - Đái tháo đường Quốc gia Việt Nam lần thứ III 2005, tr.375-392

5 Nguyễn Hải Thủy, Thích Hải Ấn, Nguyễn Thọ Lịch và CS Khảo sát yếu tố nguy

cơ ở đối tượng ăn trường chay thuần túy có tăng glucose máu Tạp chí Y học Thực hành

Kỷ yếu toàn văn các đề tài khoa học Đại hội Hội Nội tiết - Đái tháo đường Quốc gia Việt Nam lần thứ III 2005, tr4.63-72

6 Alberti K.G, Zimmet P, Shaw J

Metabolic syndrome - A new worldwide definition Aconcensus statement from the IDF Diabetic Medicine 2006, 23, pp.469-480

7 Samson S.L, Garber A.J Metabolic syndrome

Endocrinol Metab Clin North Am 2014, Mar,

43 (1), pp.1-23 doi: 10.1016/j.ecl.2013.09.009

Ngày đăng: 19/01/2020, 21:26

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w