1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Tỷ lệ tuân thủ điều trị và sự thay đổi các chỉ số sinh học sau 3 tháng điều trị ở bệnh nhân cao huyết áp tại huyện Dương Minh châu, Tây Ninh, 2013

7 68 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 396,07 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu được thực hiện với mục tiêu xác định tỷ lệ tuân thủ điều trị và sự thay đổi các chỉ số sinh học sau 3 tháng điều trị ở bệnh nhân cao huyết áp tại huyện Dương Minh Châu, Tây Ninh, 2013. Nghiên cứu cắt ngang trên 400 bệnh nhân tăng huyết áp trên 18 tuổi được điều trị ngoại trú trên 3 tháng tại Trung Tâm Y tế huyện Dương Minh Châu, Tây Ninh.

Trang 1

TỶ LỆ TUÂN THỦ ĐIỀU TRỊ VÀ SỰ THAY ĐỔI CÁC CHỈ SỐ SINH HỌC 

SAU 3 THÁNG ĐIỀU TRỊ Ở BỆNH NHÂN CAO HUYẾT ÁP  

TẠI HUYỆN DƯƠNG MINH CHÂU, TÂY NINH, 2013 

Đào Thị Lan*, Đặng Văn Chính** 

TÓM TẮT 

Đặt vấn đề: Tuân thủ điều trị là một trong những yếu tố quan trọng nhất và là chìa khóa thành công trong 

điều trị bệnh tăng huyết áp. Tuy nhiên tuân thủ điều trị vẫn là một thách thức cho bệnh nhân, nhất là bệnh nhân 

vùng nông thôn. 

Mục  tiêu:  Xác định tỷ lệ tuân thủ điều trị và sự thay đổi các chỉ số sinh học sau 3 tháng điều trị ở bệnh  nhân cao huyết áp tại huyện Dương Minh Châu, Tây Ninh, 2013. 

Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang trên 400 bệnh nhân tăng huyết áp ≥18 tuổi được điều trị  ngoại trú ≥ 3 tháng tại Trung Tâm Y tế huyện Dương Minh Châu, Tây Ninh. 

Kết quả: 86% bệnh nhân tuân thủ điều trị hoàn toàn và 70,5% bệnh nhân đạt HA mục tiêu sau thời gian 

điều trị. Sau thời gian điều trị các chỉ số về huyết áp, đường huyết, cholesterol và triglycerit đều giảm. Bệnh nhân  tuân thủ hoàn toàn có sự thay đổi các chỉ số sinh học tốt hơn so với nhóm bệnh nhân không tuân thủ không hoàn, 

sự khác biệt có ý nghĩa thống kê. 1% bệnh nhân sau điều trị cả huyết áp tâm thu (HATT) và huyết áp tâm trương  (HATTr) đều tăng. 9,5% sau điều trị HATT và HATTr không thay đổi và 44% sau điều trị HATT và HATTr 

đều giảm. 

Kết luận: Tỷ lệ bệnh nhân tuân thủ điều trị khá cao. Bệnh nhân tuân thủ điều trị tốt có thể vừa kiểm soát 

được huyết áp vừa kiểm soát được một số chỉ số cholesterol, triglycerit và glucose ở mức tốt hơn. 

Từ khóa: tuân thủ điều trị, cao huyết áp. 

ABSTRACT 

THE TREATMENT COMPLIANCE PROPORTION AND CHANGES OF BIOLOGICALINDICATORS  AFTER THREE MONTH TREATMENT OF HYPERTENSION PATIENTS IN DUONG MINH CHAU 

DISTRICT, TAY NINH PROVINCE, 2013 

Dao Thi Lan, Dang Van Chinh 

* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 18 ‐ Supplement of No 6‐ 2014: 186 – 192 

Background:  Compliance  to  treatment  for  hypertensionis  one  of  the  most  important  factors  in  successful  hypertension treatment and is also a challenge to patients with hypertension, especially for people in rural areas.  Objectives: To evaluate the proportion of compliance to treatment for among patients with hypertension and  changes of biochemistry indicators after three months in Duong Minh Chau district, Tay Ninh province, 2013.  Methods:  This  was  a  cross‐sectional  survey,  based  on  direct  interviews  of  400  hypertension  adult  outpatients’treatment and on their medical history at Duong Minh Chau hospital district. 

Result:  The compliance rate was 86% and 70.5% met the required treatment goal. Cholesterol, triglycerit 

and glucose were reduced during the treatment time. After three month treatment, 1% patient had increased both 

* Bệnh viện đa khoa huyện Dương Minh Châu, Tây Ninh 

** Viện Y tế công cộng TP. Hồ Chí Minh 

Trang 2

Conclusion: The compliance rate was high in this study. Treatment compliance is not only controlling blood 

pressure but also controlling cholesterol, triglycerit and glucose.  

Key words: compliance to treatment, hypertension. 

ĐẶT VẤN ĐỀ 

Hiện  nay,  tăng  huyết  áp  (THA)  là  bệnh  phổ 

biến  trên  thế  giới  cũng  như  ở  Việt  Nam.  Bệnh  là 

mối đe dọa rất lớn đối với sức khỏe con người, là 

nguyên nhân gây tàn phế và tử vong hàng đầu đối 

với những người lớn tuổi. Chính vì vậy mà THA 

đang trở thành một vấn đề thời sự vì sự gia tăng 

nhanh chóng của căn bệnh này trong cộng đồng. 

Trên  thế  giới  hiện  nay  có  khoảng  1,6  tỷ 

người  THA(2).  THA  ước  tính  là  nguyên  nhân 

gây  tử  vong  7,1  triệu  người  trẻ  tuổi  và  chiếm 

4,5% gánh nặng bệnh tật trên toàn cầu, trong đó 

64 triệu người sống trong tàn phế(5). 

THA  nếu  không  được  phát  hiện  và  điều  trị 

sớm bệnh sẽ tiến triển âm thầm làm tổn thương 

các  cơ  quan  đích  gây  các  biến  chứng  nghiêm 

trọng  như:  đột  quỵ,  nhồi  máu  cơ  tim,  suy  tim, 

suy  thận,  bệnh  mạch  máu  ngoại  vi,  xuất  tiết, 

xuất huyết võng mạc và phù gai thị(10). 

Mặc dù THA là bệnh phổ biến, dễ chẩn đoán 

và điều trị rất hiệu quả nhưng việc tuân thủ điều 

trị (TTĐT) vẫn chưa tốt, điển hình như hơn một 

nửa số bệnh nhân đang được điều trị bệnh THA 

đã ngưng điều trị hoàn toàn sau một năm và số 

người  còn  lại  chấp  nhận tiếp  tục  điều  trị  chỉ  có 

50%  và  họ  chỉ  dùng  khoảng  80%  số  thuốc  đã 

được bác sỹ của họ kê toa(7). 

THA là bệnh mạn tính nên việc điều trị gần 

như suốt đời. Tuy nhiên việc giáo dục nhận thức 

về  TTĐT  của  bệnh  nhân  và  công  tác  kiểm  soát 

huyết áp (HA) chưa đạt hiệu quả cao(9). Chính vì 

thiếu sự TTĐT thuốc hạ HA của bệnh nhân với 

chẩn  đoán  THA,  do  đó  xấp  xỉ  75%  bệnh  nhân 

không kiểm soát HA tốt nhất. Hậu quả làm gia 

tăng biến chứng của bệnh THA gây tổn thương 

các cơ quan đích như: tim, thận, não và tăng tỷ lệ 

tử vong do THA(7). 

Có  nhiều  nghiên  cứu  TTĐT  của  các  bệnh  nhân  với  chẩn  đoán  THA  được  tiến  hành  ở  nhiều  nước  cũng  như  ở  Việt  Nam.  Một  số  nghiên  cứu  chứng  minh  rằng  không  tuân  thủ  dùng  thuốc  điều  trị  THA  khả  năng  có  biến  chứng bệnh mạch vành gấp 4,5 lần những người  tuân thủ tốt. Vì vậy đánh giá thông tin một cách  chính xác về kiến thức, thái độ và việc TTĐT của  bệnh nhân THA là rất quan trọng. Việc này giúp  cho  các  chuyên  gia  y  tế  có  kế  hoạch  can  thiệp  phù hợp nhằm đạt được mục tiêu điều trị ngày  càng có hiệu quả hơn, đặc biệt trong trường hợp  người bệnh không đáp ứng với điều trị(7). 

Huyện Dương Minh Châu là một trong chín  huyện, thị của tỉnh Tây Ninh. Trong những năm  gần  dây  số  bệnh  nhân  đến  khám  và  điều  trị  ở  Trung Tâm Y tế (TTYT) ngày một tăng, đặc biệt 

là  từ  khi  thực  hiện  bảo  hiểm  y  tế  (BHYT)  tự  nguyện  đến  các  hộ  gia  đình.  Tỷ  lệ  bệnh  THA  chiếm  khoảng  10‐  15%  số  bệnh  nhân  khám  và  điều  trị  nội  khoa.  Trong  khi  đó  thông  tin  về  phòng ngừa và điều trị THA cho bệnh nhân rất  hạn chế nên việc điều trị bệnh THA chưa có hiệu  quả. Ít có các công trình nghiên cứu về TTĐT của  người bệnh THA ở các huyện vùng xa. Để đánh  giá hiệu quả việc TTĐT của bệnh nhân THA tại  TTYT  Dương  Minh  Châu,  chúng  tôi  tiến  hành  nghiên cứu đề tài: ʺTỷ lệ tuân thủ điều trị và sự  thay đổi các chỉ số sinh học sau 3 tháng điều trị ở  bệnh nhân cao huyết áp tại huyện Dương Minh  Châu, Tây Ninh, 2013ʺ. 

Mục tiêu nghiên cứu 

Xác định tỷ lệ bệnh nhân THA được điều trị 

từ 3 tháng trở lên tại TTTYT Dương Minh Châu  tuân thủ điều trị bệnh THA. 

Đánh giá sự thay đổi một số chỉ số sinh học  trước  và  sau  điều  trị  ở  bệnh  nhân  tuân  thủ  và  không TTĐT sau 3 tháng điều trị. 

Trang 3

ĐỐI TƯỢNG ‐ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  

Nghiên  cứu  cắt  ngang  thực  hiện  trên  bệnh 

nhân  ≥18  tuổi  được  chẩn  đoán  bệnh  THA  đang 

sinh sống tại huyện Dương Minh Châu, Tây Ninh. 

Cỡ mẫu được tính theo công thức:  

Trong  đó:  Z1‐α/2  =1,96;  d  =  0,05;  p  =  0,508.  Cỡ 

mẫu tính được là n = 384 bệnh nhân. Để dự phòng 

mất mẫu, mẫu được làm tròn là 400 bệnh nhân. 

Dữ liệu được nhập bằng phần mềm Epidata 

và phân tích bằng phầm mềm Stata. 

KẾT QUẢ 

Đặc điểm mẫu nghiên cứu 

Bảng 1: Các đặc điểm của mẫu nghiên cứu (n=400) 

Đặc điểm Tần số (n) Tỷ lệ (%)

Nhóm tuổi

Giới

Nghề nghiệp

Công nhân viên chức 103 25,8

Học vấn

Tình trạng hôn nhân

Bảo hiểm y tế

Nữ giới chiếm tỷ lệ gấp đôi so với nam giới. 

Trên 90% bệnh nhân có độ tuổi ≥ 45 tuổi. Hơn 2/3 

bệnh  nhân  nghiên  cứu  có  nghề  nghiệp  là  nông 

dân hoặc nội trợ. Về học vấn, đa số đối tượng có 

học vấn mù chữ hoặc cấp 1 với 51%, chỉ có 4,3% 

đối tượng có học vấn trên cấp 3. Hơn 90% các đối  tượng nghiên cứu đều có BHYT. 

Tuân thủ điều trị 

Bảng 2: Mức độ TTĐT của đối tượng nghiên cứu  (n=400) 

Đặc điểm Tần số (n) Tỷ lệ (%)

Mức độ TTĐT

Tình trạng sau 3 tháng điều trị Tiếp tục điều trị 397 99,2

Đạt huyết áp mục tiêu

84% bệnh nhân tuân thủ điều trị hoàn toàn,  70%  bệnh  nhân  đạt  huyết  áp  mục  tiêu  sau  3  tháng điều trị. Trong số những người hút thuốc 

lá có hơn 95% bỏ thuốc lá hoặc có giảm hút theo  hướng  dẫn.  86%  hạn  chế  uống  rượu.  Hầu  hết  bệnh nhân có giảm ăn mặn và tăng vận động thể  lực (98% và 79%). Gần 98% uống đủ thuốc hạ áp; 

92% uống thuốc đủ liều; 91% uống thuốc đúng  thời  gian  và  có  85%  bệnh  nhân  tái  khám  đúng  hẹn. Sau 3 tháng điều trị có trên 99% bệnh nhân  tiếp tục điều trị. 

Đặc điểm sinh học của đối tượng nghiên cứu  trước và sau điều trị 

Bảng 3: Đặc điểm chỉ số sinh học của đối tượng 

nghiên cứu trước và sau điều trị 3 tháng (n=400) 

Đặc điểm

Trước điều trị Sau điều trị (Trung bình ± độ

lệch chuẩn)

(Trung bình ± độ lệch chuẩn)

BMI 23,4±3,1 23,2±3,1

Trang 4

Đặc điểm

Trước điều trị Sau điều trị (Trung bình ± độ

lệch chuẩn)

(Trung bình ± độ lệch chuẩn)

Các chỉ số trung bình về chiều cao, cân nặng, 

BMI không thay đổi nhiều sau 3 tháng điều trị. 

Các chỉ số về huyết áp, đường huyết, cholesterol 

và  triglycerit  đều  giảm  so  với  trước  điều  trị. 

Huyết  áp  tâm  thu  (HATT)  giảm  trung  bình  khoảng 14 mmHg so với trước điều trị. Huyết áp  tâm  trương (HATTr)  giảm trung  bình 6  mmHg 

so  với  trước  điều  trị.  Chỉ  số  đường  huyết  giảm  trung bình 13 mg/dl, cholesterol giảm trung bình 

7 mg/dl và triglycerit giảm trung bình 18 mg/dl 

so với trước điều trị. 

Sự khác biệt các chỉ số sinh học ở hai nhóm có tuân thủ hoàn toàn và nhóm không tuân thủ 

Bảng 4: Kiểm định sự khác biệt các chỉ số sinh học ở hai nhóm có tuân thủ hoàn toàn và nhóm không tuân thủ 

(kiểm định T‐test bắt cặp). 

Chỉ số Trước điềutrị TB (ĐLC)* Sau điều trị TB (ĐLC) Khác biệt 95% CI p

HATT

(mmHg) Tuân thủ hòan toàn(n=336) Không tuân thủ (n=64) 139,0 (13,2) 147,3 (14,5) 125,4 (10,6) 131,3 (9,8) 13,6 (12,3 – 15,0)16,1 (12,9 – 19,3) <0,001 <0,001

HATTr

(mmHg)

Glucose (mg/dl)

Cholesterol (mg/dl)

Triglicerit (mg/dl)

*: Trung bình (độ lệch chuẩn) 

Bảng  4  cho  thấy  nhóm  bệnh  nhân  tuân  thủ 

hoàn toàn có sự thay đổi các chỉ số sinh học tốt 

hơn  so  với  nhóm  bệnh  nhân  không  tuân  thủ 

không  hoàn,  sự  khác  biệt  có  ý  nghĩa  thống  kê. 

Nhóm không tuân thủ điều trị hoàn toàn mặc dù 

huyết áp sau điều trị giảm so với trước điều trị 

(khác biệt có ý nghĩa thống kê) nhưng những sự 

thay đổi các chỉ số glucose, cholesterol, triglicerit, 

BMI không có ý nghĩa thống kê. 

Sự  thay  đổi  HATT  và  HATTr  trước  và  sau 

điều trị 

Sau  khi  điều  trị,  hơn  80%  bệnh  nhân  có 

HATT giảm so với trước điều trị, 15% bệnh nhân 

có  huyết  áp  không  đổi  và  2%  bệnh  nhân  có 

huyết áp tăng lên. 

Bảng 5: Sự thay đổi huyết áp tâm thu và huyết áp 

tâm trương trước điều trị so với sau điều trị 

(n)

Tỷ lệ (%)

Sự thay đổi HATT trước điều trị so với sau điều trị

Trung bình sự thay đổi (mean ± sd, min – max):

14,0 ±12,3 (-70 – 60)

Sự thay đổi HATTr trước điều trị so với sau điều trị

Trung bình sự thay đổi (mean ± sd, min – max):

5,5 ±8,1 (-20 – 60)

Trang 5

Tỷ  lệ  bệnh  nhân  có  HATTr  giảm  và  không 

thay  đổi  so  với  trước  điều  trị  là  tương  đương 

nhau  (48%  ở  mỗi  nhóm).  Bệnh nhân có  HATTr 

gia tăng so với trước điều trị gần 4%. 

Bảng 6: Sự thay đổi HATT và HATTr trước điều trị 

so với sau điều trị 

Huyết áp tâm trương Tổng n (%)

Tăng

n (%)

Không đổi

n (%)

Giảm

n (%) Huyết áp

tâm thu

Có 4/400 (1%) bệnh nhân sau điều trị cả HATT 

và HATTr đều tăng lên. 38/400 (9,5%) sau điều trị 

HATT và HATTr không thay đổi và 176/400 (44%) 

sau điều trị HATT và HATTr đều giảm. 

BÀN LUẬN 

Độ tuổi trung bình của các đối tượng nghiên 

cứu khoảng 60 tuổi. Nhóm tuổi từ ≥60 tuổi chiếm 

tỷ lệ cao nhất với 48,5%. Kết quả này phù hợp với 

báo cáo của khoa khám bệnh TTYT Dương Minh 

Châu năm 2013 và một số các công trình nghiên 

cứu khác. Bệnh THA ít gặp ở người dưới 30 tuổi, 

bệnh tăng rõ lứa tuổi trên 50‐65 tuổi. 

Nữ giới chiếm gần gấp đôi nam. Các nghiên 

cứu  của  Nguyễn  Thị  Mỹ  Hạnh,  Nguyễn  Tuấn 

Khanh, Phạm Ngọc Khánh, Nguyễn Văn Nành, 

Nguyễn  Hữu  Hậu,  Lâm  Thanh  Vân  cũng  cho 

kết  quả  tương  tự.  Phần  lớn  các  nghiên  cứu  ở 

bệnh viện đều cho kết quả tỷ lệ nữ giới cao hơn 

nam giới. Điều này phù hợp với đặc điểm chung 

về tỷ lệ giới của cả nước. THA là bệnh mạn tính, 

do  đó  nếu  tuổi  thọ  của  nữ  cao  hơn  nam,  tỷ  lệ 

THA ở nhóm nữ cao hơn nhóm nam(8). Trước 50 

tuổi, nữ có tần suất THA thấp hơn nam. Sau 60 

tuổi tần suất THA ở nữ cao hơn nam. Do trước 

50 tuổi nữ có nồng độ estrogel và nitride oxyde 

cao hơn nam, để giải thích cho tỷ lệ THA thấp ở 

nữ  giới  vào  tuổi  này.  Sau  50  tuổi,  nữ  có  xu 

hướng  béo  phì  hơn,  dẫn  đến  tần  suất  THA  và 

dày đồng tâm thất trái. Ngoài ra các nghiên cứu 

cắt ngang nhận thấy HATT và HATTr tăng đáng 

kể ở phụ nữ hậu mãn kinh so với phụ nữ mãn  kinh. Những phụ nữ mãn kinh dễ bị THA gấp 2  lần  so  với  người  tiền  mãn  kinh.  Sự  THA  liên  quan mãn kinh là do nhiều yếu tố như thiếu hụt  estrogel,  sản  xuất  nhiều  hormon  tuyến  yên  và  tăng cân(4). 

Đa  số  bệnh  nhân  có  trình  độ  văn  hóa  thấp, 

mù  chữ  và  cấp  1  chiếm  nhiều  nhất  trong  mẫu  nghiên cứu (51%). Đây cũng là đặc điểm xã hội  của huyện vùng nông thôn, trình độ văn hóa của  người  dân  còn  thấp,  vì  vậy  nhân  viên  y  tế  cần  chú  ý  trong  việc  tư  vấn  những  nội  dung  giáo  dục  sức  khỏe  về  phòng  ngừa  và  điều  trị  bệnh  THA phù hợp cho từng đối tượng. 

Bệnh  nhân  tham  gia  BHYT  chiếm  tỷ  lệ  hơn  90%.  Điều  này  phù  hợp  với  báo  cáo  của  khoa  Khám  bệnh  của  TTYT  Dương  Minh  Châu,  số  liệu  về  số  lượng  bệnh  nhân  có  BHYT  chiếm  khoảng 90% tổng số người bệnh đến khám.  

Tuân thủ điều trị 

Về tuân thủ điều trị, 84% bệnh nhân tuân thủ  điều trị hoàn toàn. Kết quả này cao hơn của Ðào  Duy  An  48%(3),  Trần  Hữu  Hậu:  23%(10),  của  Nguyễn Tuấn Khanh: 41%(6), của Nguyễn Xuân  Thắng: 53%(9). Vẫn còn 26% bệnh nhân tuân thủ  không hoàn toàn, đây là điều mà nhân viên y tế  cần phải tư vấn tích cực hơn cho bệnh nhân về  hậu quả của việc không TTĐT sẽ gây ra các biến 

chứng nguy hiểm của bệnh THA.  

Người  hút  thuốc  đã  thực  hành  bỏ  thuốc  lá  theo hướng dẫn đạt tỷ lệ 88%. Đây là dấu hiệu  tích cực của người bệnh vì ngưng hút thuốc lá là  một trong các biện pháp hiệu quả nhất để giảm  các yếu tố nguy cơ tim mạch. Ngưng hút thuốc 

lá giảm THA còn giảm cả bệnh động mạch vành 

và  đột  quỵ,  góp  phần  làm  tăng  tác  dụng  của  thuốc hạ áp. Kết quả này cao hơn của Trần Hữu  Hậu:  70%,  của  Nguyễn  Tuấn  Khanh:  68%,  của  Huỳnh Thị Tiền: 41%.  

Bệnh nhân uống rượu thực hiện giảm uống  rượu theo hướng dẫn đạt tỷ lệ 86%. Kết quả này  cao  hơn  của  Nguyễn  Tuấn  Khanh:  79%,  của 

Trang 6

52%. Kết quả của chúng tôi cao hơn có thể là do 

số bệnh nhân uống rượu trong mẫu ít, nên việc 

tư vấn, nhắc nhở dễ dàng và đạt hiệu quả hơn.  

Giảm  ăn  mặn:  99%  bệnh  nhân  thực  hành 

giảm ăn mặn, tỷ lệ này cao do bệnh nhân đã nhận 

thức được ăn mặn là yếu tố nguy cơ của THA và 

đồng tình với việc giảm ăn mặn khá cao nên bệnh 

nhân  ý  thức  ăn  lạt  để  phòng  ngừa  và  điều  trị 

THA. Tỷ lệ này cao hơn của Nguyễn Văn Nành: 

28%,  Nguyễn  Tuấn  Khanh:  47%,  Nguyễn  Xuân 

Thắng: 50%, Huỳnh Thị Tiền: 63%. 

Có  98%  bệnh  nhân  uống  đủ  thuốc  hạ  áp 

được bác sĩ kê đơn tỷ lệ này cao hơn của Nguyễn 

Văn  Nành:  32%,  cùa  Bùi  Thị  Mai  Tranh:  28%, 

của Huỳnh Thị Tiền: 35%. Và tương đương với 

kết  quả  của  Trần  Hữu  Hậu  94%.  Kết  quả  của 

chúng tôi cao đó là do TTYT Dương Minh Châu 

đã thành lập phòng khám chuyên khoa cho bệnh 

THA  và  bệnh  nhân  được  làm  hồ  sơ  bệnh  án 

ngoại  trú,  theo  dõi  điều  trị  và  xét  nghiệm  định 

kỳ cho bệnh nhân. 

Tái  khám  đúng  hẹn:  có  85%  bệnh  nhân  tái 

khám  theo  lịch  hẹn,  tỷ  lệ  này  cao  hơn  của 

Nguyễn  Văn  Nành:  32%,  Bùi  Thị  Mai  Tranh 

34%,  Nguyễn  Tuấn  Khanh:  65%,  Nguyễn  Xuân 

Thắng: 73%,  Huỳnh  Thị Tiền: 31%  và thấp hơn 

của Nguyễn Hữu Hậu: 93%. 

Khác biệt các chỉ số sinh học ở nhóm có tuân 

thủ hoàn toàn và nhóm không tuân thủ 

Các  chỉ  số  sinh  học  được  khảo  sát  để  đánh 

giá bệnh nhân THA trong quá trình điều trị đó 

là:  HATT,  HATTr,  đường  huyết,  cholesterol, 

triglycerit  và  BMI.  Nhóm  bệnh  nhân  tuân  thủ 

hoàn toàn có sự thay đổi các chỉ số sinh học tốt 

hơn  so  với  nhóm  bệnh  nhân  không  tuân  thủ 

hoàn toàn.Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê. 

Điều  này  cho  thấy  khi  bệnh  nhân  TTĐT  hoàn 

toàn không chỉ giảm được huyết áp cao ở HATT 

và  HATTr  mà  còn  giảm  chỉ  số  trên  mức  bình 

thường của các yếu tố nguy cơ tim mạch đi kèm 

như  tăng  đường  huyết  trong  máu,  tăng 

cholesterol  và  triglycerit,  đồng  thời  giảm  được 

tình  trạng  thừa  cân.  Việc  này  góp  phần  kiểm  soát  tốt  bệnh  THA  còn  tránh  được  các  biến  chứng tim mạch của bệnh THA gây ra. 

Sau đợt điều trị từ 3 tháng trở lên, trung bình  HATT giảm 14 mmHg so với trước điều trị, vẫn  còn  2%  bệnh  nhân  sau  khi  điều  trị  HATT  tăng  lên và 15% không thay đổi so với trướcđiều trị.  Ðây là kết quả mà bác sỹ điều trị cần phải quan  tâm  trong  việc  điều  trị  cho  bệnh  nhân  THA  vì  mục  tiêu  điều  trị  THA  là  phải  hạ  được  con  số 

HA xuống dưới 140/90 mmHg. Tuy vậy đối với  một số bệnh nhân đã THA lâu năm, các cơ quan  như não, tim, thận, gan đã có sự sắp đặt lại các  phản xạ của các thụ cảm áp lực và lâu nay đã chỉ  quen  hoạt  động  tốt  ở  chế  độ  áp  suất  tưới  máu  cao  nên  không  chịu  đựng  được  mức  HA  thấp  hơn  và  tình  trạng  lâu  ngày  đã  quen  dễ  chịu  ở  mức HA cao đó ‐ mức HA đó gọi là tối ưu hoặc 

HA thích nghi ‐ tức là mức HA tuy còn cao hơn  140/90 mmHg nhưng khi kéo xuống thấp hơn là  bệnh  nhân  rất  khó  chịu,  đối  với  các  bệnh  nhân 

đó  mục  tiêu  điều  trị  là  đưa  HA  xuống  tới  mức 

HA tối ưu này(6).  Sau điều trị có 8 bệnh nhân (2%) HATT tăng 

và  15  bệnh  nhân  (3,75%)  có  HTTTr  tăng  lên.  Điều  này  cho  thấy  bác  sỹ  cần  xem  lại  phát  đồ  điều  trị  và  việc  sử  dụng  thuốc  nếu  bệnh  nhân  không đáp ứng với thuốc đang sử dụng thì cần  phải thay đổi nhóm thuốc khác phù hợp hơn, có 

hạ  được  HA  cao  mới  ngăn  chặn  tổn  thương  cơ  quan  đích  và  giảm  biến  cố  tim  mạch  do  THA  gây ra. 

Có  4/400  (1%)  bệnh  nhân  sau  điều  trị  cả  HATT và HATTr đều tăng lên. 38/400 (9,5%) sau  điều  trị  HATT  và  HATTr  không  thay  đổi  và  176/400 (44%) sau điều trị HATT và HATTr đều  giảm.  Tỷ  lệ  thành  công  này  không  cao  do  thời  gian điều trị quá ngắn, các hiệu quả của thuốc có  thể  cần  thời  gian  lâu  hơn  mới  thấy  được.  Mặt  khác điều trị THA là công việc lâu dài, tốn nhiều  công  sức  và  tiền  bạc.  Hơn  nữa  việc  kiểm  soát 

HA gặp nhiều khó khăn vì còn 16% bệnh nhân  tuân  trị  không  hoàn  toàn  và  29,5%  bệnh  nhân 

Trang 7

không đạt HA mục tiêu. Để có thể làm tốt được 

công việc điều trị THA này thầy thuốc cần phải 

có đầy đủ kiến thức cũng như phải tìm hiểu kỹ 

trên  từng  bệnh nhân  để có  thể  có  phương  thức 

điều  trị  hiệu  quả  phù  hợp  cho  từng  bệnh  nhân 

cụ thể (11)

KẾT LUẬN 

Bệnh  nhân  tuân  thủ  điều  trị  hoàn  toàn  và 

bệnh nhân đạt HA mục tiêu là khá cao. 

44%  bệnh  nhân  sau  điều  trị  có  HATT  và 

HATTr đều giảm. 

Khi  bệnh  nhân  tuân  thủ  điều  trị  tốt,  không 

những  kiểm  soát  được  các  chỉ  số  huyết  áp  mà 

còn kiểm soát được một số chỉ số sinh học như 

cholesterol, triglycerit, glucose tốt hơn. 

KIẾN NGHỊ 

Tăng cường công tác tư vấn cho bệnh nhân 

trong quá tŕnh khám bệnh để nâng cao kiến thức 

về bệnh THA cho bệnh nhân. Chú trọng đến đối 

tượng  có  học  vấn  thấp  và  đối  tượng  không  có 

thẻ BHYT. 

Để  đảm  bảo  sự  tuân  thủ  điều  trị  cần  quan 

tâm hơn đến đối tượng không có bảo hiểm y tế, 

đối  tượng  có  kiến  thức  thấp  về  bệnh  cao  huyết 

áp.  Việc  kiểm  soát  tốt  huyết  áp  chỉ  được  thực 

hiện khi bệnh nhân có sự tuân thủ điều trị tốt do 

đó cần hướng dẫn bệnh nhân thực hiện nghiêm 

túc tuân thủ điều trị. 

Những  đối  tượng  có  sự  tuân  thủ  điều  trị 

bệnh  THA  thấp  (không  có  bảo  hiểm  y  tế,  kiến 

thức thấp, thái độ chưa phù hợp) thường không 

kiểm  soát  tốt  các  chỉ  số  về  glucose,  cholesterol, 

triglicerit và BMI. Do đó các bác sĩ cần chú ý vấn 

đề này khi thực hiện các tư vấn cho bệnh nhân. 

TÀI LIỆU THAM KHẢO 

1 Châu  Ngọc  Hoa (2012).  Tăng  huyết  áp.  Đại  học  Y dược  TP. 

Hồ Chí Minh. Nhà xuất bản y học. Tr. 89‐90. 

2 Châu  Ngọc  Hoa  (2012).  Tăng  huyết  áp:  Nguyên  nhân  sinh  bệnh học và biến chứng. Đại học Y dược TP. Hồ Chí Minh.  Nhà xuất bản y học. Tr. 110‐123. 

3 Đào Duy An (2006). Nhận thức cơ bản và cách xử trí ở bệnh  nhân tăng huyết áp. Kỷ yếu Hội khoa học tim mạch toàn quốc  lần thứ XI: 43‐44. 

4 Hội tim mạch học Việt Nam (2006). Khuyến cáo về các bệnh 

lý tim mạch và chuyển hóa giai đoạn 2006 – 2010. Nhà xuất  bản y học Y học. TP. Hồ Chí Minh. Tr. 100‐134. 

5 Nguyễn Huy  Dung  (2010).  Điều  trị  bệnh  tăng  huyết  áp  tiên  phát. Nhà xuất bản y học. TP. Hồ Chí Minh. Tr. 23‐67. 

6 Nguyễn Tuấn Khanh (2011). Tỷ lệ tăng huyết áp và kiến thức.  thực hành về phòng ngừa. điều trị tăng huyết áp ở người lớn  tuổi tại thành phố Mỹ Tho năm 2011. Luận văn BSCKII. Đại  học Y dược TP. Hồ Chí Minh. Tr. 77‐89. 

7 Nguyễn Thị Mỹ Hạnh (2010). Kiến thức. thái độ về sử dụng  thuốc và tuân thủ dùng thuốc của bệnh nhân tăng huyết áp  đang điều trị ngoại trú tại bệnh viện cấp cứu Trưng Vương.  Luận văn BSCKI. Đại học y dược TP. Hồ Chí Minh. Tr. 67‐89. 

8 Nguyễn Văn Nành (2011). Các yếu tố liên quan đến tỷ lệ bệnh  nhân  tuân  thủ  điều  trị  tăng  huyết  áp  tại  bệnh  viện  đa  khoa  huyện Phong Điền. thành phố Cần Thơ. Luận văn BSCKI. Đại  học Y dược TP. Hồ Chí Minh. Tr. 87‐89. 

9 Nguyễn Xuân Thắng (2010). Kiến thức. thái độ. thực hành về  phòng ngừa và điều trị của bệnh nhân tăng huyết áp tại bệnh  viện đa khoa tỉnh Bình Phước. Luận văn BSCKII. Đại học Y  dược TP. Hồ Chí Minh. Tr. 45‐65 

10 Trần  Hữu  Hậu  (2011).  Tỷ  lệ  tuân  thủ  điều  trị  và  các  yếu  tố  nguy cơ liên quan đến việc tuân thủ điều trị tăng huyết áp ở  bệnh nhân trên 60 tuổi tại phòng khám ngoại trú bệnh viện đa  khoa Đồng Nai. Đại học Y dược TP. Hồ Chí Minh. Tr. 45‐67. 

11 Trương Quang Bình (2008). Điều trị tăng huyết áp. Nhà xuất  bản y học. TP. Hồ Chí Minh. Tr. 56‐78. 

 

Ngày nhận bài báo:       24/5/2014  Ngày phản biện nhận xét bài báo:   28/6/2014  Ngày bài báo được đăng:     14/11/2014   

 

Ngày đăng: 19/01/2020, 21:06

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w