1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Hiệu quả lưu não thất ra ngoài trong vòng 12 giờ sau triệu chứng khởi phát chảy máu não thất có giãn não thất cấp

8 28 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 179,06 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết nghiên cứu đánh giá hiệu quả dẫn lưu não thất ra ngoài trong vòng 12 giờ sau triệu chứng khởi phát trong chảy máu não thất có giãn não thất cấp.

Trang 1

HIỆU QUẢ DẪN LƯU NÃO THẤT RA NGOÀI TRONG VÒNG 12 GIỜ SAU TRIỆU CHỨNG KHỞI PHÁT CHẢY MÁU NÃO THẤT CÓ GIÃN NÃO THẤT CẤP Lương Quốc Chính 1 ; Mai Duy Tôn 1 , Nguyễn ðạt Anh 2 ; Nguyễn Văn Liệu 2

1 Bệnh viện Bạch Mai; 2 Trường ðại học Y Hà Nội Nghiên cứu ñược thực hiện trên 42 bệnh nhân giãn não thất cấp do chảy máu não thất tại khoa Cấp cứu

- bệnh viện Bạch Mai từ tháng 8/2011 ñến 8/2014 nhằm ñánh giá hiệu quả dẫn lưu não thất ra ngoài trước

12 giờ sau triệu chứng khởi phát Bệnh nhân ñược chia 2 nhóm: dẫn lưu não thất trước (nhóm 1, n = 26) và sau (nhóm 2, n = 16) 12 giờ sau triệu chứng khởi phát Kết quả tốt (khi GCS > 12 ñiểm và mRS ≥ 3) ở nhóm

1 (61,5% và 42,3%) cao hơn nhóm 2 (31,2% và 0%), với p < 0,05 Không thấy sự khác biệt về các biến chứng sau dẫn lưu não thất bao gồm tắc dẫn lưu não thất (7,7% so với 18,8%, p > 0,05), chảy máu não xung quanh dẫn lưu (7,7% so với 18,8%, p > 0,05) và viêm não thất (3,8% so với 12,5%, p > 0,05), và tỷ lệ

tử vong (3,8% so với 12,5%, p > 0,05) giữa hai nhóm Kết quả này cho thấy dẫn lưu não thất ra ngoài trước

12 giờ sau triệu chứng khởi phát không làm thay ñổi tỷ lệ các biến chứng và tử vong, nhưng có liên quan tới cải thiện kết quả ngắn hạn (GCS và mRS cải thiện)

Từ khóa: dẫn lưu não thất ra ngoài, giãn não thất cấp thể tắc nghẽn, chảy máu não thất, xuất huyết não

ðịa chỉ liên hệ: Lương Quốc Chính - Khoa Cấp cứu - Bệnh viện Bạch Mai

Email: luongquocchinh@gmail.com Ngày nhận: 27/01/2015

Ngày ñược chấp thuận: 18/5/2015

I ðẶT VẤN ðỀ

Chảy máu não thất là một yếu tố làm tăng

tỷ lệ mắc bệnh và tỷ lệ tử vong trong vòng 30 ngày, ước tính khoảng 40 - 80% ở bệnh nhân xuất huyết não [1] Gần ñây, hai thử nghiệm kiểm chứng ngẫu nhiên lớn ñã chứng minh tầm quan trọng của chảy máu não thất như một yếu tố dự báo kết quả xấu Thử nghiệm STICH tiến hành trên 964 bệnh nhân xuất huyết não, 42% có chảy máu não thất và trong

ñó có tới 55% có giãn não thất thể tắc nghẽn [2] Khi chảy máu não thất và giãn não thất cấp phối hợp, tỷ lệ kết quả tốt giảm xuống c òn 11% Tương tự, chảy máu não thất chiếm 49% bệnh nhân trong thử nghiệm Novo Seven

- ICH (n = 399) ðiểm Rankin sửa ñổi (mRS)

tại thời ñiểm sau 3 tháng xấu hơn ở nhóm bệnh nhân này [3]

Tăng áp lực nội sọ thường là hậu quả của hiệu ứng khối do máu tụ nhu mô não, phù não xung quanh, giãn não thất cấp do chảy máu não thất hoặc hiệu ứng khối do máu tụ trong não thất, cho nên cần phải ñặt ra vấn ñề ñiều trị giảm áp Phẫu thuật sớm lấy khối máu tụ và/hoặc làm giảm áp có thể hạn chế ñược chèn ép cơ học và những tác hại của máu tới não, nhưng nguy cơ phẫu thuật ở bệnh nhân ñang chảy máu có thể lớn hơn Phươ ng pháp ñiều trị hiện nay cho c hảy máu não c ó giãn não thất cấp thể tắc nghẽn là dẫn lưu não thất

ra ngoài Dẫn lưu não thất ra ngoài thườ ng ñược thực hiện trong giai ñoạn cấp tính ở bệnh nhân chảy máu não thất như một biện pháp ñiều trị cấp cứu nhằm kiểm soát áp lực nội sọ và có thể làm giảm tỷ lệ tử vong ngắn hạn [5] Việc ñặt dẫn lưu não thất ra ngoài có liên quan tới tỷ lệ tử vong giảm và k ết quả ngắn hạn cải thiện ở những bệnh nhân có

Trang 2

chảy máu não thất sau khi ựược ựiều trị các

yếu tố nặng kèm theo Tuy nhiên, giai ựoạn

cấp tắnh có thể kéo dài từ vài ngày cho tới 1

tuần và ựiều này sẽ có ảnh hưởng tới hiệu

quả dẫn lưu não thất ra ngoài Do vậy, ựể có

thể lượng hóa ựược thời gian ựặt dẫn lưu não

thất sớm sao cho phù hợp với ựiều kiện thực

tế ở phòng cấp cứu tại Việt Nam, chúng tôi

tiến hành nghiên cứu này nhằm mục tiêu:

đánh giá hiệu quả dẫn lưu não thất ra ngoài

trong vòng 12 giờ sau triệu chứng khởi phát

trong chảy máu não thất có giãn não thất cấp

II đỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

1 đối tượng

Bệnh nhân chảy máu não thất có giãn não

thất cấp ựược nhập viện ựiều trị tại Khoa Cấp

cứu, Bệnh viện Bạch Mai từ tháng 8/2011 ựến

tháng 8/2014 ựáp ứng ựủ các tiêu chuẩn lựa

chọn và loại trừ:

- Tiêu chu)n l,a ch.n b0nh nhân

+ Tuổi: 18 Ờ 80 tuổi;

+ Thể tắch xuất huyết nhu mô não ≤ 30 ml

hoặc chảy máu não thất ựơn thuần;

+ Chảy máu não thất 3 và/hoặc não thất 4

có giãn não thất cấp;

+ Bệnh nhân ựã ựược ựặt dẫn lưu não thất

ra ngoài;

+ Tiền sử có thang ựiểm Rankin sửa ựổi

(mRS) ựạt ựiểm 0 hoặc 1;

+ Có sự chấp nhận tham gia nghiên cứu

của bệnh nhân hoặc gia ựình bệnh nhân

- Tiêu chu)n lo3i tr6 b0nh nhân

+ Phình ựộng mạch não vỡ, thông ựộng

tĩnh mạc h não vỡ, hoặc u não;

+ Dị dạng ựám rối mạch mạc hoặc hội

chứng Moyamoya;

+ Có các rối loạn ựông máu (số lượng tiểu

cầu < 100.000, INR > 1,4);

+ Phụ nữ có thai;

+ Xuất huy ết não vùng dưới lều;

+ Bất cứ tình trạng nào mà nghiên cứu viên nhận thấy rằng sẽ tạo ra mối nguy cơ ựáng kể cho ựối tượng nghiên cứu nếu việc ựiều trị nghiên cứu ựược bắt ựầu

2 Phương pháp

2.1 Thi:t k:: nghiên cứu mô tả, tiến cứu

2.2 Ph>?ng pháp

Bệnh nhân chảy máu não thất có giãn não thất cấp ựáp ứng ựủ các tiêu chuẩn lựa chọn vào nghiên cứu sẽ ựược chụp cắt lớp vi tắnh

ựa dẫy (MSCT) sọ não và mạch não ựể xác ựịnh vị trắ của dẫn lưu trong não thất, các chảy máu mới cũng như hệ mạch máu não ắt nhất 6 giờ sau khi ựược ựặt dẫn lưu não thất ra ngoài Chia bệnh nhân nghiên cứu thành hai nhóm: nhóm ựược dẫn lưu não thất ra ngoài trước 12 giờ và nhóm ựược dẫn lưu não thất

ra ngoài sau 12 giờ sau triệu chứng khởi phát

Dịch não tủy ựược dẫn lưu ra ngoài liên tục dưới áp lực dẫn lưu là 10 mmHg Tất cả các phim chụp sọ não (CT và MSCT) khi bệnh nhân nhập viện, trước khi và s au khi ựặt dẫn lưu não thất ựược ựánh giá bởi bác s ĩ chuy ên khoa chẩn ựoán hình ảnh ựể xác ựịnh bên não thất ựặt dẫn lưu, vị trắ ựầu dẫn lưu não thất, và

sự xuất hiện của chảy máu não xung quanh dẫn lưu não thất điểm ựánh giá mức ựộ nặng của chảy máu não thất (ựiểm Graeb) ựược tắnh toán [6] Tình trạng giãn não thất ựược xác ựịnh bằng phân tắch hình ảnh phim CT sọ não theo tiêu chuẩn của Phan và cộng sự [7]

Viêm não thất ựược xác ựịnh k hi cấy dịch não tủy dương tắnh hoặc, cấy dịch não tủy âm tắnh nhưng số lượng bạch cầu trong dịch não tủy ≥

50 chiếc (> 50% là bạch cầu ựa nhân trung tắnh) hoặc nồng ựộ glucos e trong dịch não tủy

< 0,83 mmol/l (15 mg/dl) [8] điểm hôn mê Glasgow (GCS) k hi nhập viện là ựiểm hôn mê ựầu tiên ựược ghi chép lại khi vào khoa cấp

Trang 3

cứu, vì ñối với phần lớn bệnh nhân thì ñiều này ñại diện cho tình trạng bệnh nhân lúc ban ñầu ñể ñưa ra quyết ñịnh ñặt dẫn lưu não thất

ra ngoài GCS ñược phân loại theo các mức

ñộ (GCS > 12; GCS 12 – 9; GCS 8 – 7; GCS

6 – 5; G = 4; và GCS = 3) Hồi phục lâm sàng tốt ñược xác ñịnh khi ñiểm Rankin sửa ñổi (mRS) từ 0 ñến 3 và hồi phục lâm sàng kém khi mRS từ 4 ñến 6 sau 1 tháng

3 Xử lý số liệu

Số liệu nghiên cứu ñược thu thập theo mẫu bệnh án nghiên cứu thống nhất, ñược xử

lý và phân tích trên phần mềm thống kê y học SPSS 17.0

4 ðạo ñức nghiên cứu

Bệnh nhân và/hoặc thành viên gia ñình ñại diện pháp lý cho bệnh nhân ñược giải thích về mục ñích và phương pháp nghiên cứu Chỉ những bệnh nhân và/hoặc thành viên gia ñình ñại diện pháp lý cho bệnh nhân ñồng ý tự nguyện tham gia mới ñược ñưa vào ñề tài nghiên cứu

Bệnh nhân và/hoặc thành viên gia ñình ñại diện pháp lý cho bệnh nhân có quyền không tham gia nghiên cứu tiếp trong bất kỳ thời

ñiểm nào

III KẾT QUẢ

Bảng 1 ðặc ñiểm lâm sàng và cận lâm sàng khi nhập viện

Nhóm 1 (n = 26) (EVD trước 12 giờ sau triệu chứng khởi phát)

Nhóm 2 (n = 16) (EVD sau 12 giờ sau triệu chứng khởi phát)

p

GCS (min - max) 7 (5 - 13) 8 (5 - 11) > 0,05

Mạch (nhịp/phút) (min - max) 90 (55 - 120) 90 (55 - 120) > 0,05 Huyết áp tâm thu (mmHg) 168,1 ± 27,3 173,8 ± 29,2 > 0,05 Huyết áp tâm trương (mmHg) 95,8 ± 15,5 96,9 ± 18,2 > 0,05

ðiểm Graeb (min - max) 8 (5 - 11) 9 (6 - 11) > 0,05 Tiểu cầu (G/l) 222,8 ± 68,8 263,4 ± 48,2 > 0,05

Prothrombin (%) 89,8 ± 20,1 99,8 ± 13,4 > 0,05 APTT (giây) 25,7 ± 3,2 25,4 ± 2,1 > 0,05

Tất cả ñặc ñiểm lâm sàng và cận lâm sàng ở hai nhóm nghiên cứu khác biệt không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05) Cả hai nhóm ñều có ñiểm hôn mê Glasgow thấp: nhóm 1: 7 (5 - 13); nhóm 2:

8 (5 - 11), và ñiểm chảy máu não Graeb cao: nhóm 1: 8 (5 - 11); nhóm 2: 9 (6 - 11)

Trang 4

Bảng 2 Mức ñộ hồi phục ý thức theo thang ñiểm hôn mê Glasgow (GCS)

GCS

Nhóm 1 (n = 26) (EVD trước 12 giờ

sau triệu chứng khởi phát)

Nhóm 2 (n = 16) (EVD sau 12 giờ sau triệu chứng khởi phát)

> 12 2 (7,7%) 16 (61,5%) 0 5 (31,2%) p < 0,05

9 – 12 7 (26,9%) 4 (15,4%) 7 (43,8%) 5 (31,2%)

7 – 8 8 (30,8%) 2 (7,7%) 5 (31,2%) 1 (6,2%)

5 – 6 9 (34,6%) 2 (7,7%) 4 (25,0%) 2 (12,5%)

* GCS: thang ñiểm hôn mê glasgow; EVD: dẫn lưu não thất

Không bệnh nhân nào ở cả hai nhóm có GCS = 3 hoặc 4 trước khi dẫn lưu não thất (EVD)

Tuy nhiên, sau EVD, nhóm 1 có 2 (7,7%) và nhóm 2 có 3 (18,8%) bệnh nhân có GCS = 3 hoặc 4

Nhóm 1 có 2 (7,7%) và nhóm 2 không có bệnh nhân nào có GCS > 12 trước khi dẫn lưu não thất,

và sau khi dẫn lưu não thất số bệnh nhân có GCS > 12 ở nhóm 1 là 16 (61,5%) cao hơn ở nhóm

2 là 5 (31,2%) với p < 0,05

Bảng 3 Mức ñộ hồi phục lâm sàng sau 1 tháng

ðiểm Rankin

sửa ñổi

Nhóm 1 (n = 26) (EVD trước 12 giờ sau

Nhóm 2 (n = 16) (EVD sau 12 giờ sau p

3 0 11 (42,3%) 0 0 (0,0%) < 0,05

5 26 (100%) 6 (23,1%) 16 (100%) 6 (37,5%)

Tại thời ñiểm nhập viện, ñiểm Rankin sửa ñổi (mRS) ở cả hai nhóm ñều bằng 5 Sau 1 tháng:

nhóm 1 có 19 (73,1%) bệnh nhân có mRS ñạt 3 và 4 ñiểm; nhóm 2 có 8 (50%) bệnh nhân

có mRS ñạt 4 ñiểm Hơn nữa, mRS ở nhóm 1 và nhóm 2 lần lượt ñạt 11 (42,3%) và 0 (0%),

p < 0,05

Trang 5

Bảng 4 Tỷ lệ các biến chứng sau dẫn lưu não thất

Nhóm 1 (n = 26) (EVD trước 12 giờ sau triệu chứng khởi phát)

Nhóm 2 (n = 16) (EVD sau 12 giờ sau triệu chứng khởi phát) P

Tắc dẫn lưu não thất 2 (7,7%) 3 (18,8%) > 0,05 Chảy máu não xung

quanh dẫn lưu 2 (7,7%) 3 (18,8%) >0,05 Viêm não thất 1 (3,8%) 2 (12,5%) >0,05

Nhóm 1 có 2 (7,7%) bệnh nhân tắc dẫn lưu não thất, 2 (7,7%) bệnh nhân chảy máu não xung quanh dẫn lưu và 1 (3,8%) bệnh nhân viêm não thất, và nhóm 2 có 3 (18,8%) bệnh nhân tắc dẫn lưu não thất, 3 (18,8%) bệnh nhân chảy máu não xung quanh dẫn lưu và 2 (12,5%) bệnh nhân viêm não thất với sự khác biệt của lần lượt 3 biến chứng này giữa 2 nhóm không c ó ý nghĩa thống kê (p > 0,05)

Biểu ñồ 1 Tỷ lệ tử vong sau dẫn lưu não thất

Hai nhóm ñều có bệnh nhân tử vong: nhóm 1 có 1 (3,8%) và nhóm 2 có 2 (12,5%) bệnh nhân với sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05)

IV BÀN LUẬN

Phần lớn bệnh nhân trong nghiên cứu ñược dẫn lưu não thất ra ngoài có ñặc ñiểm lâm sàng và c ận lâm sàng trong giới hạn bình thường với sự khác biệt không có ý nghĩa

thống kê Tuy nhiên, có hai ñặc ñiểm ñáng lưu

ý (bảng 1) là ñiểm hôn mê Glasgow (GCS) thấp: nhóm 1: 7 (5 - 13); nhóm 2: 8 (5 - 11);

p > 0,05, và ñiểm Graeb cao: nhóm 1: 8 (5 -11); nhóm 2: 9 (6 - -11); p > 0,05 tại thời ñiểm

25 (96,2%)

14 (87,5%)

39 (92,9%)

1 (3,8%) 2 (12,5%) 3 (7,1%) 0

5 10 15 20 25 30 35 40 45

Nhóm 1 (n = 26) Nhóm 2 (n = 16) Tổng số (n = 42)

Sống sót

Tử vong

Trang 6

nhập viện ðiểm hôn mê Glasgow thấp (≤ 8

ñiểm) và ñiểm Graeb cao (> 5 ñiểm) là những

yếu tố dự báo ñộc lập cho việc ñặt dẫn lưu

não thất ra ngoài ở bệnh nhân chảy máu não

thất [6] Bên cạnh ñó, huyết áp tâm thu trung

bình (bảng 1) ở cả hai nhóm bệnh nhân

27,3 mmHg; nhóm 2: 173,8 ± 29,2 mmHg;

p > 0,05) Huyết áp tăng cao thường do hoạt

hóa quá mức hệ thống nội tiết thần kinh và

ñặc biệt nó là hậu quả của tình trạng tăng áp

lực nội sọ Huyết áp tâm thu trên 140 - 150

mmHg trong vòng 12 giờ sau xuất huyết não

có liên quan tới việc tăng hơn gấp ñôi nguy cơ

di chứng và tử vong ở bệnh nhân xuất huyết

não [9]

Kết quả cho thấy hai nhóm bệnh nhân

nghiên cứu có sự cải thiện rõ rệt ñiểm hôn mê

Glasgow sau khi dẫn lưu não thất: nhóm 1 có

tới 61,5% (16) so với nhóm 2 có 31,2% (5)

bệnh nhân có GCS > 12 ñiểm, và nhóm 1 và

nhóm 2 lần lượt có 7,7% (2) và 18,8% (3)

bệnh nhân có GCS = 3 ñiểm, tuy nhiên vì cỡ

mẫu chưa ñủ lớn cho nên không thể so sánh

ñể tìm sự khác biệt về thống kê giữa hai

nhóm ðiểm hôn mê thấp một phần do tăng áp

lực nội sọ gây ra bởi hiệu ứng khối của máu tụ

nhu mô não hoặc giãn não thất do chảy máu

não thất hoặc hiệu ứng khối do máu tụ trong

não thất ðặt dẫn lưu não thất ra ngoài sớm

trong những trường hợp này ñược coi là biện

pháp ñiều trị cấp cứu nhằm kiểm soát áp lực

nội sọ và có thể làm cải thiện kết quả và làm

giảm tỷ lệ tử vong ngắn hạn [5]

Tại thời ñiểm nhập viện, tất cả bệnh nhân

ở hai nhóm (bảng 3) ñều có mRS = 5 Tuy

nhiên, thời ñiểm 1 tháng sau triệu chứng khởi

phát thì mức ñộ hồi phục lâm sàng tốt (mRS =

3) ở nhóm 1 (42,3%) cao hơn ở nhóm 2 (0%)

với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p <

0,05) Bên cạnh ñó, mức ñộ hồi phục lâm

sàng xấu (mRS: 4 - 6) tại thời ñiểm một tháng sau triệu chứng khởi phát ở cả hai nhóm còn chiếm khá nhiều: nhóm 1: 57,7% và nhóm 2:

100% Trong một nghiên cứu về các yếu tố quyết ñịnh tới việc ñặt dẫn lưu não thất ra ngoài và các kết quả liên quan ở bệnh nhân chảy máu não thất [5], ñã ñánh giá các yếu tố liên quan tới mức ñộ hồi phục lâm sàng tốt (mRS: 0 - 3) sau 1 tháng cho thấy dẫn lưu não thất ra ngoài thực sự vẫn còn ý nghĩa (OR 15,7; p = 0,01)

3 bệnh nhân nghiên cứu có biến chứng viêm não thất, nhóm 1 có 1 (3,8%) và nhóm 2

có 2 (12,5%) bệnh nhân với sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05) Tuy nhiên, không có bệnh nhân viêm não thất nào

tử vong hoặc cho kết quả xấu Trong một nghiên cứu [8], có 82 dẫn lưu não thất ñược ñặt cho 72 bệnh nhân thì cũng chỉ có 3 (3,7%) bệnh nhân có biến chứng viêm não thất, không có bệnh nhân viêm não thất nào tử vong hoặc có kết quả xấu và thời gian nằm viên không lâu hơn s o với nhóm bệnh nhân không viêm não thất Biến chứng tắc dẫn lưu não thất (bảng 4) gặp ở 5 bệnh nhân nghiên cứu mà trong ñó nhóm 1 có 2 (7,7%) bệnh nhân và nhóm 2 có 3 (18,8%) bệnh nhân với

sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05) Biến chứng tắc dẫn lưu não thất cũng gặp ở 14 (19,4%) trong số 72 bệnh nhân ñược ñặt dẫn lưu não thất trong một nghiên cứu [5], bệnh nhân tắc dẫn lưu não thất thường có thể tíc h máu trong não thất lớn (49,2 ± 37,8 ml) ðặc biệt có 5 bệnh nhân xuất hiện biến chứng chảy máu não x ung quanh dẫn lưu (nhóm 1: 2 bệnh nhân chiếm 7,7% và nhóm 2 có 3 bệnh nhân chiếm 18,8%, sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05)

và có 3 trong số 5 bệnh nhân chảy máu xung quanh c hân dẫn lưu tử vong (biểu ñồ 1):

nhóm 1: 1 (3,8%) bệnh nhân và nhóm 2: 2

Trang 7

(12,5%) bệnh nhân (p > 0,05) Cả 3 bệnh nhân tử vong ñều có tình trạng ý thức rất xấu (GCS = 3) và trên phim cắt lớp vi tính (CT) sọ não thấy khối máu tụ nhu mô não tiến triển rõ

và phù não nặng Các xét nghiệm ñông máu

ở cả 3 bệnh nhân tử vong ñều có kết quả bình thường

V KẾT LUẬN

Qua nghiên cứu 42 bệnh nhân giãn não thất cấp do chảy máu não thất có hoặc không xuất huyết nhu mô não ñược dẫn lưu não thất

ra ngoài chúng tôi có một số kết luận sau:

Có sự cải thiện ñiểm GCS (GCS > 12 ñiểm) sau dẫn lưu não thất ở cả 2 nhóm:

nhóm 1 có 61,5% cao hơn nhóm 2 có 31,2%

với p < 0,05

Thời ñiểm 1 tháng sau triệu chứng khởi phát, mức ñộ hồi phục lâm sàng tốt (mRS = 3) ở nhóm 1 ñạt 42,3% bệnh nhân và nhóm 2

có 0% cải thiện

Biến chứng tắc dẫn lưu não thất (nhóm 1

có 7,7% và nhóm 2 có 18,8%), chảy máu não xung quanh dẫn lưu (nhóm 1 có 7,7% và nhóm 2 có 18,8%), viêm não thất (nhóm 1 có 3,8% và nhóm 2 có 12,5%) Sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê

Có 3 bệnh nhân tử vong: nhóm 1 có 1 bệnh nhân chiếm 3,8% và nhóm 2 có 2 chiếm 12,5%

Lời cảm ơn

Nghiên cứu ñược hoàn thành nhờ sự hợp tác của bệnh nhân ñã ñồng ý tham gia nghiên cứu, ñồng thời có sự ñóng góp của tập thể bác sĩ và ñiều dưỡng khoa cấp cứu bệnh viện Bạch Mai

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Tuhrim S, Horowitz DR, Sacher M, Godbold JH (1995) Validation and comparis on of models predicting survival

following intracerebral hemorrhage Crit Care

Med, 23, 950 – 954

2 Mendelow AD, Gregson BA, Fernandes HM et al (2000) STICH

investigators Early surgery versus initial conservative treatment in patients with spontaneous supratentorial intracerebral haematomas in the international surgic al trial

in intrac erebral haemorrhage (stich): a

randomized trial Lancet, 365, 387 – 397

3 Steiner T, Diringer MN, Schneider D et

al (2006) Dynamics of intraventricular

hemorrhage in patients with spontaneous intracerebral hemorrhage: risk factors, clinical impact, and effect of hemostatictherapy with recombinant activated factor VII

Neurosurgery, 59, 767 – 773

4 Tan SH, Ng PY, Yeo TT et al (2001)

Hypertensive basal ganglia hemorrhage: a prospective study comparing surgical and

nonsurgical management Surg Neurol, 56,

287 – 292

5 Adams RE, Diringer MN(1998)

Response to external ventricular drainage in spontaneous intracerebral hemorrhage with

hydrocephalus Neurology, 50, 519 - 523

6 Graeb DA, Robertson W D, Lapointe

JS et al (1982) Computed tomographic

diagnosis of intraventricular hemorrhage

Etiology and prognosis Radiology, 143(1),

91 - 96

7 Phan TG, Koh M, Vierkant RA, Wijdicks EF (2003) Hydrocephalus is a

determinant of early mortality in putaminal

hemorrhage Stroke, 31(9), 2157 - 2162

8 Holloway KL, Barnes T, Choi S et al (1986) Ventriculostomy infections: the effect

of monitoring duration and catheter exchange

in 584 patients J Neurosurg, 85, 419 - 424

Trang 8

9 Willmot M, Leonardi-Bee J, Bath PM

(2004) High blood pressure in acute stroke

and subsequent outcome: a systematic

review Hypertension, 43, 18 – 24

Summary EFFECT OF EXTERNAL INTRAVENTRICULAR DRAINAGE WITHIN 12

HOURS FROM ONSET IN INTRAVENTRICULAR HEMORRHAGE WITH

ACUTE HYDROCEPHALUS

The study was conducted on forty-two patients with acute hydrocephalus res ulting from

intraventricular hemorrhage Patients were admitted to the Emergency Department of Bach Mai

hospital from August 2011 to August 2014 The purpose of this study was to evaluate the effect of

external intraventricular drain placement within 12 hours from onset in intraventricular hemorrhage

with acute hydrocephalus Recruited patients were divided into two groups: group one (n = 26),

EVD were placed within 12 hours from the onset; and group 2 (n = 16), EVD were plac ed after 12

hours from the onset There were better outcomes (GCS > 12 and mRS = 3) in group 1 (61.5%

and 42.3%, respectively) than group 2 (31.2% and 0%, respectively) with p < 0.05 We found no

differenc e in complications from EVD placement including EVD obstruction (7.7% vs 18.8%,

p > 0.05), catheter tract hemorrhage (7.7% vs 18.8%, p > 0.05) and bacterial CSF infection (3.8%

vs 12.5%, p > 0.05) and mortality rate (3.8% vs 12.5%, p > 0.05) between the two groups These

results shown that EVD plac ement within 12 hours from symptom onset did not change the

complication rates and the mortality rate, but were associated with improvement of short - term

outcomes (GCS and mRS)

Key words: External intraventricular drainage, acute obstructive hydrocephalus,

intraventricular hemorrhage, intracerebral hemorrhage

Ngày đăng: 19/01/2020, 21:04

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w