1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Kết quả điều trị sớm và lâu dài bệnh phình đại tràng bẩm sinh bằng phẫu thuật qua đường hậu môn một thì

8 100 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 276,49 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết nhằm mô tả kết quả điều trị sớm và lâu dài bệnh phình đại tràng bẩm sinh bằng phẫu thuật qua đường hậu môn một thì tại bệnh viện Nhi Trung ương. Kết quả: 75 bệnh nhân bao gồm 59 nam giới (78,7%) và 16 nữ giới (21,3%), tuổi dao động từ 15 ngày đến 36 tháng. 44 bệnh nhân có vô hạch trực tràng (58,7%), 28 vô hạch trực tràng - đại tràng sigma (37,3%) và 3 vô hạch đại tràng trái (4%),... Mời các bạn cùng tham khảo.

Trang 1

KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ SỚM VÀ LÂU DÀI BỆNH PHÌNH ĐẠI TRÀNG BẨM SINH BẰNG PHẪU THUẬT

QUA ĐƯỜNG HẬU MÔN MỘT THÌ

Bùi Đức Hậu

Bệnh viện Nhi trung ương Nghiên cứu nhằm mô tả kết quả điều trị sớm và lâu dài bệnh phình đại tràng bẩm sinh bằng phẫu thuật qua đường hậu môn một thì tại bệnh viện Nhi Trung ương Kết quả: 75 bệnh nhân bao gồm 59 nam giới (78,7%) và 16 nữ giới (21,3%), tuổi dao động từ 15 ngày đến 36 tháng 44 bệnh nhân có vô hạch trực tràng (58,7%), 28 vô hạch trực tràng - đại tràng sigma (37,3%) và 3 vô hạch đại tràng trái (4%) Thời gian phẫu thuật trung bình 92 phút Trong 14 bệnh nhân phẫu thuật phải kết hợp thêm đường mổ khác: có 2 trường hợp phẫu thuật nội soi (2,7%) và 12 trường hợp sử dụng đường mổ Pfannenstiel (16%); do động mạch mạc treo đại tràng sigma căng, vô hạch dài, chảy máu khi phẫu tích và dính do viêm phúc mạc cũ Không có tử vong do phẫu thuật, có một trường hợp rỉ máu miệng nối đã cầm khi chèn mét và 2 trường hợp bị nhiễm trùng 75 bệnh nhân đại tiện tự chủ trước khi ra viện Kết luận: phẫu thuật qua hậu môn một thì an toàn và cho kết quả tốt

Từ khóa: bệnh phình đại tràng bẩm sinh, phẫu thuật qua hậu môn một thì

Địa chỉ liên hệ: Bùi Đức Hậu Khoa Ngoại, Bệnh viện Nhi Trung ương

Email: hau_doctor@nhp.org.vn Ngày nhận: 10/01/2013

I ĐẶT VẤN ĐỀ

Bệnh phình đại tràng bẩm sinh còn có tên gọi khác là bệnh Hirschsprung hay bệnh vô hạch đại tràng bẩm sinh Bệnh Hirschsprung

là một bệnh khá phổ biến ở trẻ em Theo một

số nghiên cứu, tỷ lệ mắc bệnh là 1/5.000 trẻ

đẻ sống [1, 2] Tỷ lệ mắc bệnh khác nhau giữa các nhóm dân tộc: người Bắc Âu là 1,5/10.000 trẻ đẻ sống, người Mỹ gốc Phi là 2,1/10.000 trẻ đẻ sống và ở châu Á là 2,8/10.000 trẻ đẻ sống [3] Bệnh Hirschsprung có thể biểu hiện rất sớm ở trẻ sơ sinh với bệnh cảnh tắc ruột cấp tính dẫn đến tử vong nếu không can thiệp kịp thời hoặc có thể biểu hiện bán cấp và mãn tính ở trẻ gây táo bón, ỉa chảy kéo dài do viêm ruột trường diễn dẫn đến suy dinh dưỡng, chậm phát triển Hiện nay nhiều kỹ thuật mổ

và đường mổ khác nhau đã được sử dụng để

điều trị bệnh phình đại tràng bẩm sinh Các kỹ thuật đều phải tiến hành qua đường mở bụng kinh điển đó là đường trắng giữa trên - dưới rốn hoặc đường cạnh giữa trái đã được sử dụng trong nhiều năm Gần đây để giảm bớt sang chấn và có được sẹo mổ đẹp, kín đáo các đường mổ khác như đường Pfannenstiel cải tiến (đường rạch da theo nếp lằn bụng), đường qua hậu môn, đường sau trực tràng và phẫu thuật nội soi đã dần thay thế đường mổ bụng [4, 5]

Bệnh viện Nhi Trung ương bắt đầu áp dụng phẫu thuật qua đường hậu môn từ cuối năm 2000 Đến đầu năm 2003 phẫu thuật một thì qua đường hậu môn đã được tiến hành một cách có hệ thống để điều trị cho những bệnh nhân bị bệnh phình đại tràng bẩm sinh từ sơ sinh đến 3 tuổi Vì vậy, nghiên cứu này được thực hiện nhằm mục tiêu đánh giá kết quả điều trị sớm và lâu dài bệnh phình đại tràng bẩm sinh bằng phẫu thuật qua đường hậu môn một thì tại

Trang 2

II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

1 Đối tượng

Bao gồm các bệnh nhân phình đại tràng

bẩm sinh được phẫu thuật một thì qua đường

hậu môn từ tháng 2 năm 2003 đến tháng 6

năm 2006 tại bệnh viện Nhi Trung ương

2 Phương pháp

Thiết kế: nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng

không đối chứng (Quasi-experimental study)

Mẫu nghiên cứu: chọn mẫu thuận tiện, tất

cả các bệnh nhân phình đại tràng bẩm sinh

được phẫu thuật một thì qua đường hậu môn

trong thời gian nghiên cứu tại bệnh viện Nhi

Trung ương

Cỡ mẫu thu được: n = 75 bệnh nhân

Kỹ thuật mổ

- Tư thế: bệnh nhân nằm tư thế sản khoa

(có thể không treo chân nếu bệnh nhân quá

nhỏ)

- Tiến hành: bắt đầu rạch vòng quanh niêm

mạc của ống hậu môn ngay trên đường lược

khoảng 0,5 cm Phẫu tích ống niêm mạc lên

trên khoảng 6 - 8 cm, rồi cắt qua lớp thanh cơ

trực tràng để vào ổ phúc mạc, tiếp tục phẫu

tích mạc treo sigma kéo trực tràng và sigma ra

ngoài qua ống hậu môn Tiến hành sinh thiết

lạnh ở 2 vị trí chỗ trực tràng hẹp và chỗ dãn

cho là đại tràng bình thường để khẳng định

chẩn đoán Cắt bỏ đoạn đại tràng vô hạch và

đoạn đại tràng dãn ngoài ổ bụng Cắt bớt

phần ống thanh cơ của trực tràng, chỉ để lại

phần ống thanh cơ trên đường lược 1cm Tiến

hành nối đại tràng lành với ống hậu môn cách

đường răng lược khoảng 0,5 cm Nối 1 thì, có

thể để mỏm thừa đại tràng nếu đường kính

đại tràng và ống hậu môn quá chênh lệch

hoặc có những yếu tố làm ảnh hưởng tới sự

an toàn của miệng nối Đặt 1 xông Folley vào

đại tràng qua miệng nối để lưu khoảng 5 ngày

Kết thúc phẫu thuật

3 Đạo đức nghiên cứu

Nghiên cứu đã được Hội đồng đạo đức của bệnh viện Nhi Trung ương thông qua

III KẾT QUẢ

Kết quả có 75 bệnh nhân, nam giới chiếm 78,7%, nữ giới chiếm 21,3% Phần lớn bệnh nhi ở độ tuổi < 6 tháng (62,7%) Độ tuổi 6 - 12 tháng là 16,0%, 13 - 18 tháng là 9,3%, 19 - 24 tháng là 6,7% Chỉ có 5,3% bệnh nhi ở độ tuổi

> 30 tháng và không có bệnh nhi nào ở trong

độ tuổi 25 - 30 tháng Trong đó, bệnh nhi có tuổi nhỏ nhất là 10 ngày và lớn nhất là 36 tháng, với tuổi trung bình 7,5tháng Tất cả 75 bệnh nhân đều được sinh đủ tháng và có cân nặng khi sinh từ ≥ 2500 gram Có một trường hợp bệnh nhi có anh ruột cũng mắc bệnh phình đại tràng bẩm sinh

1 Triệu chứng

Các triệu chứng lâm sàng thường gặp của bệnh nhân là chậm đại tiện phân su (chiếm 97,3%), táo bón kéo dài phải thụt tháo thường xuyên (84%), bụng trướng, mềm, quai đại tràng nổi (76%) và tắc ruột từng đợt (41,3%) Có 8% bệnh nhi có triệu chứng của viêm ruột (đại tiện phân lỏng từng đợt, thối khẳm)

Tình trạng vô hạch biểu hiện trên phim chụp X-quang có thuốc cản quang và xác định tổn thương trong mổ là giống nhau với tỷ lệ bệnh nhân chỉ biểu hiện vô hạch ở trực tràng

là 58,7%, vô hạch ở cả trực tràng và đại tràng sigma chiếm 37,3% Chỉ có 4% bệnh nhân có biểu hiện vô hạch từ trực tràng đến đại tràng trái (bảng 1)

Trang 3

Bảng 1 Tình trạng vô hạch ở bệnh nhân phình đại tràng bẩm sinh

Vô hạch trên phim Xquang có thuốc cản quang

Vô hạch trực tràng và đại tràng Sigma 28 37,3

Vô hạch từ trực tràng đến đại tràng trái 3 4,0

Vô hạch nhận định trong mổ

Vô hạch trực tràng và đại tràng Sigma 28 37,3

Vô hạch từ trực tràng đến đại tràng trái 3 4,0

2 Kết quả phẫu thuật sớm

Có 81,3% bệnh nhân được mổ bằng đường qua hậu môn đơn thuần và 18,7%

bệnh nhân phải kết hợp với đường bụng (có 2,7% bệnh nhân nội soi, 16% bệnh nhân mở bụng bằng đường Pfannenstiel) Thời gian phẫu thuật với đường qua hậu môn đơn thuần ngắn nhất là 50 phút, dài nhất 150 phút và thời gian trung bình là 92 phút Với đường mổ phối hợp thì thời gian phẫu thuật ngắn nhất là

120 phút, dài nhất là 210 phút và trung bình là 164,2 phút Kết quả cũng cho thấy, đa số các bệnh nhân có đoạn ruột phải cắt bỏ ≤ 25 cm chiếm tỷ lệ 60%, còn lại 40% có đoạn ruột phải cắt bỏ > 25 cm

Sau phẫu thuật, thời gian trung bình là 12 giờ trẻ có trung tiện, 24 giờ trẻ đã đại tiện

Sau mổ 6 giờ cho trẻ uống nước đường, sau 48 giờ cho ăn sữa Kết quả sớm khi xuất viện với 100% bệnh nhân toàn trạng

ổn định, tự đại tiện tốt Thời gian điều trị sau mổ ngắn nhất 5 ngày, dài nhất 15 ngày bao gồm cả những trường hợp bị biến chứng, trung bình 6,90 ± 1,31 ngày

Tử vong và biến chứng sớm: không có

nối, có một trường hợp chảy rỉ máu miệng nối

đã chèn mét miệng nối và truyền máu tự cầm không phải mổ lại 2 trường hợp khác bị nhiễm trùng, trong đó 1 bị áp xe nhỏ ở miệng nối tự khỏi sau đợt điều trị bằng kháng sinh, 1

bị toác thành bụng ngày thứ năm sau mổ phải đóng lại thành bụng, diễn biến ổn định sau

mổ

3 Kết quả lâu dài

Số bệnh nhân được theo dõi sau khi ra viện là 67 chiếm tỷ lệ 89,3%; trong đó có 54 bệnh nhân nam (80,6%) và 13 bệnh nhân nữ (19,4%) Có 8 bệnh nhân không theo dõi được chiếm tỷ lệ 10,7% Thời gian bệnh nhân được theo dõi trung bình là 14 tháng, trong đó ngắn nhất là 3 tháng và dài nhất là 41 tháng

Tỷ lệ suy dinh dưỡng sau mổ (19,4%) giảm xuống so với trước mổ (31,3%), nhưng khác biệt này không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05) (biểu đồ 1)

Sau phẫu thuật phần lớn bệnh nhân có số lần đại tiện từ 1 - 4 lần/ngày chiếm 76,1% Có 19,4% bệnh nhân đại tiện từ 5 - 6 lần/ngày và 4,5% bệnh nhân có số lần đại tiện > 6 lần/

Trang 4

sau khi ra viện đều đại tiện chủ động (100%),

không có bệnh nhân nào còn bị táo bón (0%)

Tỷ lệ són phân sau phẫu thuật gặp ở 14,9%

bệnh nhân (bảng 2)

Biểu đồ 1 Tỷ lệ suy dinh dưỡng trước và sau mổ Bảng 2 Chức năng đại tiện chung sau ra viện

80,6 68,7

19,4 31,3

0 20 40 60 80 100 120

Tỷ lệ %

Không SDD SDD

Số lần đại tiện

Tính chất đại tiện

Bảng 3 Kết quả chung về chức năng đại tiện sau khi ra viện

theo phân loại Wingspread cải tiến

Trang 5

Theo phân loại Wingspread cải tiến thì đa số bệnh nhân sau phẫu thuật đều có chức năng đại tiện rất tốt và tốt (76,1%) Tỷ lệ có chức năng trung bình là 20,9% và 3% có chức năng xấu

Bảng 4 Mối liên quan giữa chức năng đại tiện theo phân loại Wingspread cải tiến

với tuổi phẫu thuật của bệnh nhân

Chức năng đại tiện

Rất tốt và tốt Trung bình Xấu

p

≤ 6 tháng 32 82,1 6 15,4 1 2,5

p > 0,05

> 6 tháng 19 67,9 8 28,6 1 3,5

Tỷ lệ bệnh nhân có độ tuổi dưới hoặc bằng 6 tháng có kết quả mổ rất tốt và tốt (chiếm 82,1%) cao hơn so với trẻ ở độ tuổi trên 6tháng (67,9%) Tuy nhiên sự liên quan giữa tuổi phẫu thuật và chức năng đại tiện không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05

Sau phẫu thuật tất cả các bệnh nhân nam (54 bệnh nhân) đều có khả năng cương dương vật vào buổi sáng sau khi ngủ dậy và khả năng tiểu tiện của tất các các bệnh nhân được theo dõi (67 bệnh nhân) sau mổ đều bình thường

IV BÀN LUẬN

Kết quả cho thấy tỷ lệ bệnh nhân nam chiếm đa số, tỷ lệ nam/nữ = 3,7/1 Nhiều nghiên cứu khác cũng cho rằng đa số bệnh nhân bị phình đại tràng bẩm sinh là nam giới [1, 7, 13, 14] Bệnh nhân 0 - 6 tháng tuổi chiếm tỷ lệ 62,7% (từ 0 - 12tháng tuổi chiếm 78,7%) trong đó có 14 (18,7%) bệnh nhân < 1 tháng tuổi Như vậy tuổi phẫu thuật hiện nay

đã được giảm thấp, bệnh nhân được mổ sớm hơn so với một số nghiên cứu đã được tiến hành trước đây [6, 7] Biểu hiện lâm sàng chủ yếu gặp ở nhóm đối tượng nghiên cứu là chậm đại tiện phân su 97,3%, táo bón kéo dài phải thụt tháo thường xuyên 84% Vị trí vô hạch ở trực tràng chiếm đa số (58,7%) Và không có sự khác nhau về vị trí vô hạch giữa nhận định trên phim chụp đại tràng trước mổ

và nhận định trong khi mổ Hầu hết bệnh nhân

thuần (81,3%) Tuy nhiên, 18,7% bệnh nhân phải kết hợp với đường bụng, trong đó có 2,7% bệnh nhân nội soi và 16% bệnh nhân

mở bụng bằng đường Pfannenstiel Nguyên nhân chủ yếu là do 4 bệnh nhân động mạch mạc treo đại tràng sigma căng, 5 bệnh nhân

vô hạch cao phải hạ đại tràng phải, 2 bệnh nhân chảy máu nhiều khi phẫu tích và dính do viêm phúc mạc thai nhi cũ, 3 bệnh nhân sigma

và đại tràng trái giãn to thành dầy, tế bào hạch thần kinh thành đại tràng bị thoái hoá phải cắt

bỏ dài

Kết quả nghiên cứu này cho thấy điều trị bệnh phình đại tràng bẩm sinh bằng phẫu thuật qua đường hậu môn một thì là một phương pháp an toàn Tỷ lệ biến chứng thấp, không rò miệng nối, không hẹp miệng nối Trong nghiên cứu này không gặp một trường hợp nào có biến chứng hẹp miệng nối sau mổ Trong khi

Trang 6

báo cáo khác [4, 5, 8] Nguy cơ rò miệng nối

khi tiến hành phẫu thuật một thì là một trong

những mối lo ngại lớn nhất của phẫu thuật

viên Tuy nhiên tỷ lệ rò miệng nối trong nghiên

cứu này là 0%, thấp hơn so với các nghiên

cứu của tác giả Hadidi A năm 2003 với 2,9%

[4], Wang NL năm 2004 với 3,2% [5] và

Remesh JC năm 1999 với 2% [8] Tỷ lệ rò

miệng nối trong nghiên cứu này cũng thấp

hơn nhiều khi so sánh với các tác giả khác khi

tiến hành phẫu thuật nhiều thì như tác giả

Soave F (3 thì) là 6,1% [9] và Harrison MW (3

thì) là 7% [10] Nhiễm trùng gặp ở 2 trường

hợp (chiếm 2,7%) có đường mổ phối hợp,

thấp hơn nhiều so với tỷ lệ 10,3% theo nghiên

cứu của Bùi Đức Hậu và Nguyễn Thanh Liêm

năm 1996 khi tiến hành phẫu thuật 2 thì [11]

Trong đó 2 trường hợp gặp biến chứng nhiễm

trùng thì có 1 bệnh nhân toác vết mổ phải

khâu lại và 1 bệnh nhân bị áp xe nhỏ ở miệng

nối, đã khỏi và diễn biến ổn định sau đợt điều

trị kháng sinh Rỉ máu miệng nối dai dẳng hơn

một ngày sau mổ gặp 1 trường hợp, đã đặt

mét miệng nối, truyền máu, sau tự cầm không

phải mổ lại Trong số 75 bệnh nhân không có

trường hợp nào tử vong trong và sau mổ

Nhiều báo cáo khác cũng cho thấy tỷ lệ tử

vong trong phẫu thuật một thì thấp [5, 11, 12]

Tỷ lệ này thấp hơn nhiều so với phương pháp

phẫu thuật nhiều thì Theo một số báo cáo về

phẫu thuật nhiều thì bệnh phình đại tràng bẩm

sinh thì tỷ lệ tử vong trong dao động từ 2,5 -

6,2% [8, 9, 13]

Kết quả theo dõi lâu dài của phương pháp

điều trị bệnh phình đại tràng bẩm sinh bằng

phẫu thuật qua đường hậu môn một thì rất

khả quan, 76,1% bệnh nhân có từ 1 - 4 lần đi

đại tiện trong ngày Tỷ lệ bị táo bón tồn tại 0%,

tương tương tự với nhiều báo cáo khác [11,

14] Sau phẫu thuật chức năng tiểu tiện và

khả năng cương dương vật ở bệnh nhân

không bị ảnh hưởng 67 bệnh nhân theo dõi lâu dài được đều có khả năng đi tiểu tự chủ, điều đó chứng tỏ rằng phẫu thuật chữa bệnh phình đại tràng bẩm sinh bằng đường qua hậu môn không làm tổn thương thần kinh chi phối chức năng tiểu tiện của bệnh nhân 100%

bệnh nhân nam theo dõi được đều có khả năng cương dương vật buổi sáng khi ngủ dậy, điều đó cũng chứng tỏ rằng phẫu thuật mổ chữa bệnh phình đại tràng bẩm sinh bằng đường qua hậu môn không làm tổn thương thần kinh chi phối chức năng cương dương vật của bệnh nhân nam Tỷ lệ này tương đương với nhiều báo cáo khác và cũng tương đương với tỷ lệ trong nhóm mổ hai thì đã công

bố thời gian trước đây của chúng tôi [11, 14]

Kết quả về chức năng đại tiện theo phân loại của Wingspread cho thấy tỷ lệ bệnh nhân đạt kết quả tốt và rất tốt cao (76,1%) Tỷ lệ này cao hơn so với tỷ lệ trong nhóm mổ nhiều thì của Moor và cộng sự [15] và cao hơn với

tỷ lệ trong nhóm mổ hai thì theo nghiên cứu của Bùi Đức Hậu và Nguyễn Thanh Liêm [11]

Kết quả cho thấy tỷ lệ bệnh nhân có độ tuổi dưới hoặc bằng 6 tháng tuổi có kết quả mổ rất tốt và tốt (chiếm 82,1%) cao hơn so với trẻ ở

độ tuổi trên 6tháng (67,9%) Điều này cho thấy kết quả của phẫu thuật một thì qua đường hậu môn có thể áp dụng tốt cho các trường hợp bệnh nhi từ sơ sinh đến 6 tháng tuổi

V KẾT LUẬN

Phương pháp phẫu thuật qua đường hậu môn một thì an toàn, không có tử vong, biến chứng sau mổ thấp (rò miệng nối 0%, hẹp miệng nối 0%) Kết quả theo dõi lâu dài tốt:

76,1% bệnh nhân có số lần đi đại tiện gần như bình thường (1 - 4 lần/ngày) Về chức năng đại tiện theo phân loại Wingspread 76,1% bệnh nhân đạt kết quả tốt và rất tốt Kỹ thuật mổ bằng đường qua hậu môn một thì

Trang 7

nên áp dụng cho những bệnh nhân bị phình đại tràng bẩm sinh tuổi từ sơ sinh đến 6 tháng tuổi, thể trạng tốt, không suy dinh dưỡng, không có viêm ruột, có đoạn vô hạch từ trực tràng đến 1/3 dưới sigma

Lời cảm ơn

Để hoàn thành nghiên cứu này, tôi bày tỏ

sự cảm ơn chân thành đến GS.TS Nguyễn Thanh Liêm và các đồng nghiệp tại khoa Ngoại, bệnh viện Nhi Trung ương đã tạo điều kiện và hỗ trợ trong suốt quá trình thực hiện nghiên cứu Tôi cũng bày tỏ sự cảm ơn tới PGS TS Ngô Văn Toàn, Trường Đại học Y

Hà Nội đã có nhiều ý kiến đóng góp để nghiên cứu này được hoàn thiện hơn

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Amiel J, Lyonnet S (2001)

Hirsch-sprung disease, associated syndromes, and genetics: a review J Med Genet; 38;

729 - 739

2 Parisi MA, Kapur RP (2000) Genetics

of Hirschsprung disease Curr Opin Pediatr;

12; 610 - 617

3 Torfs C (1998) An epidemiological

study of Hirschsprung disease in a multiracial

California population Evian, France: The Third

International Meeting: Hirschsprung Disease and Related Neurocristopathies

4 Hadidi A (2003) Transanal endorectal

pull through for Hirschsprung’s disease: A

comparision with open tecnique Eur J Pediatr

Surg; 13; 176 -180

5 Wang NL, Lee HC, Yeh ML et al (2004) Experience with primary

laparoscopy-assisted endorectal pull-through for

Hirsch-spring’s disease J Pediatr Surg; 20; 118 - 122

6 Hồ Hữu Thiện, Lê Lộc (2005) Điều trị

bệnh Hirschsprung ở trẻ sơ sinh bằng phẫu

trình nghiên cứu khoa học Hội nghị Ngoại Nhi

toàn quốc lần thứ ba Y học thực hành Việt

Nam 15 - 17

7 Nguyen T Liem and Bui D Hau (2006) Primary Laparoscopic Endorectal

co-lon Pull-though for Hirschsprung’s disease:

Early Results of 61 Cases Asian J of Surg

29(3)

8 Remesh JC, Ramanujam TM, Yik YI et

al (1999) Management of Hirschsprung’s

disease with reference to one-stage

pull-through without colostomy J Pediatr Surg; 34;

1691-1694

9 Soave F (1985) Endorectal

pull-through 20 years experience J Pediatr Surg;

20;:568 - 579

10 Harrison MW, Deltz DM, Campell JR

et al (1986) Diagfnosis and treatment of

Hirscgsprung’s disease Am J Surg; 152;

49 - 56

11 Bùi Đức Hậu, Nguyễn Thanh Liêm (1996) Kết quả bước đầu mổ chữa phình đại

tràng bẩm sinh bằng phẫu thuật Swenson 2

thì Nhi khoa, số 1, trang: 34-37

12 Elhabaly EA, Hashish A, Elbarbary

MM et al (2004) Transanal one stage

endorectal pull-through for Hirschsprung’s

disease: A multicenter study J Peditr Surg;

39; 346 - 351

13 Rescorla FJ, Morrison Am, Engles D

et al (1992) Hirschsprung’s disease

Evalua-tion of mortality and longterm funcEvalua-tion in 260

cases Arch Surg; 127; 934 - 941

14 Sieber WK (1986) Hirschsprung

dis-ease Pediatric Surgery Chicago: Year medi-cal-publisher; 995 - 1016

15 Moore SW, Allbertyn R, Cywes S

(1996) Clinical outcome and longterm quality

of life after surgical correction of

Hirsch-sprung’s disease J Pediatr Surg; 31;

Trang 8

Summary PRELIMINARY STUDIES AND LONG TERM FOLLOW-UP IN THE

TREATMENT OF HIRSCHSPRUNG’S DISEASE BY TRANSANAL

PULL-THROUGH APPROACH ONCE STAGE

The aim of this study was to assess the preliminary results and long term follow-up of the

treat-ment of Hirschsprung’s disease by Transanal pull-through approach once stage at National

Hospital of Pediatrics Methods: We analyzed the records of 75 patients Among these were 59

boys (78.7%) and 16 girls (21.3%), ages ranging from 15 days to 36 months Forty-four (44)

patients had rectal aganglionosis (58.7%), 28 patients had recto-sigmoid aganglionosis (37.3%)

and 3 patients had aganglionic segment to left colon (4.0%) Operative average time was 92

minutes Results: There were 14 patients that required a combination of transanal pull-through

and laparoscopy (2 patients) or Pfannenstiel (12 patients) approaches due to the shifted mesenteric

artery of sigmoid colon (16.0%) The aganglionic segment was very long in the other, intra-operative

bleeding and primary adhesion peritonitis There was no death observed during and after operation

There was 1 anastomose bleeding which is stopped spontaneously and 2 infectious wounds 75

patients could pass stool spontaneously before discharge Conclusion: Transanal pull-through

approach once stage can be performed safely to treat Hirschsprung’s disease effectively

Keywords: hirschsprung’s disease, transanal pull-through approach once stage

PHẪU THUẬT ĐIỀU TRỊ NGÓN TAY CÁI

CO GẤP CÒ SÚNG Ở TRẺ EM Nguyễn Ngọc Hưng

Bệnh viện Nhi Trung ương

Co gấp cò súng ngón I bẩm sinh là bệnh không thường gặp và nguyên nhân bệnh sinh đến nay vẫn chua

được rõ ràng Nghiên cứu nhằm nhận xét triệu chứng, phân loại ngón I bàn tay co gấp cò súng và đánh giá

kết quả phẫu thuật điều trị Với 86 bệnh nhân có co gấp cò súng ngón I bàn tay bẩm sinh được điều trị bằng

cắt dọc ròng rọc A 1 từ năm 2004 tới 2011 Phân loại bệnh theo phân loại co gấp cò sung ngón I bàn tay

bẩm sinh Có 86 bệnh nhân (111 ngón I) Bệnh được phân loại loại II: 31 (36,5%) bệnh nhân với 39 ngón I,

và loại III: 55 (63,5%) với 72 ngón I Bệnh nhân được phẫu thuật cắt ròng rọc A I Kết quả tốt: 91,9%, và khá:

8,1% Không có biến chứng hoặc tái phát Nghiên cứu đánh giá kết quả phẫu thuật với chức năng lâu dài tốt,

phương pháp phẫu thuật an toàn và hiệu quả

Từ khóa: co gấp cò súng ngón I bẩm sinh, co gấp cò súng, sai khớp bàn - ngón tay 

I ĐẶT VẤN ĐỀ

Ngón I bàn tay co gấp kiểu cò súng là một

dị tật không thường gặp ở trẻ em [1] Nguyên

nhân bênh sinh cho tới nay chưa được biết,

còn nhiều bàn luận về vấn đề này Bênh thường đươc phát hiện muôn (Jahss 1936;

Tachdjian 1990; Morrissy 1992; Rodgers vaà Waters 1994, hiến thấy bệnh lý đươc cha mẹ

Ngày đăng: 19/01/2020, 20:02

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w