Bài viết nghiên cứu với mục tiêu nhận xét một số nguyên nhân ngộ độc cấp gây rối loạn ý thức tại Trung tâm chống độc bệnh viện Bạch Mai. Nghiên cứu cho thấy các nguyên nhân và tác nhân chủ yếu gây ngộ độc cấp có rối loạn ý thức, góp phần giúp cho công tác chẩn đoán, xử trí và phòng chống ngộ độc nặng này.
Trang 1NGUYÊN NHÂN GÂY NGỘ ĐỘC CẤP CÓ RỐI LOẠN Ý THỨC TẠI TRUNG TÂM CHỐNG ĐỘC BỆNH VIỆN BẠCH MAI
Hà Trần Hưng 1,2 , Hà Thị Bích Vân 1
1 Trường Đại học Y Hà Nội, 2 Trung Tâm Chống Độc Nghiên cứu mô tả tiến cứu kết hợp hồi cứu nhằm nhận xét một số nguyên nhân ngộ độc cấp gây rối loạn
ý thức từ 1/2012 đến 9/2013 tại Trung tâm chống độc bệnh viện Bạch Mai Trong số 4765 bệnh nhân ngộ độc cấp có 210 bệnh nhân (4,4%) có rối loạn ý thức, 138/210 nam (65%) và 72 nữ (35%) Ngộ độc thuốc an thần gây ngủ chiếm tỉ lệ cao nhất (39,5%) tiếp đến là nhóm rượu gồm cả methanol (27,6%) và hóa chất bảo
vệ thực vật (12,9%) Hầu hết (95,7%) ngộ độc có rối loạn ý thức nặng do nguyên nhân tự tử và lạm dụng rượu, ma túy Ngộ độc cấp gây rối loạn ý thức có nhiều ảnh hưởng nặng nề như tụt huyết áp (21,9%), suy
hô hấp thường gặp do ngộ độc thuốc an thần gây ngủ, rượu, ma túy và hóa chất bảo vệ thực vật Ngừng thở chủ yếu gặp ở nhóm chất gây nghiện (71,4%) Tóm lại, nghiên cứu cho thấy các nguyên nhân và tác nhân chủ yếu gây ngộ độc cấp có rối loạn ý thức, góp phần giúp cho công tác chẩn đoán, xử trí và phòng chống ngộ độc nặng này.
Từ khóa: Ngộ độc cấp, rối loạn ý thức
Địa chỉ liên hệ: Hà Trần Hưng, Bộ môn Hồi sức cấp cứu,
Trường Đại học Y Hà Nội
Email: hatranhung@yahoo.com
Ngày nhận: 9/8/2015
Ngày được chấp thuận: 10/9/2015
I ĐẶT VẤN ĐỀ
Ngộ độc cấp là một cấp cứu thường gặp ở
nước ta cũng như các nước khác trên thế
giới Theo dữ liệu của Tổ chức y tế thế giới,
ngộ độc là nguyên nhân gây tử vong phổ biến
thứ chín ở người trẻ tuổi trên toàn thế giới và
có hơn 4 triệu trường hợp ngộ độc, với tỷ lệ tử
vong khoảng 8% Ước tính rằng hơn 90% tử
vong xảy ra ở các nước đang phát triển Ở
nước ta, theo một thống kê của Bộ Y tế năm
1998 tỷ lệ ngộ độc còn cao ước tính có
khoảng 80 ca ngộ độc/100.000 dân với tỉ lệ tử
vong do ngộ độc cấp là 10 - 12% [1; 2] Tại
trung tâm Chống độc Bệnh viện Bạch Mai
năm 1998 có 118 trường hợp, năm 2000 có
740 trường hợp và gần đây có tới hơn 2000
trường hợp ngộ độc hàng năm [1; 2; 3]
Ngộ độc cấp có thể gây ra những hậu quả
nghiêm trọng lên các cơ quan sinh mạng và
có thể nhanh chóng dẫn đến tử vong nếu không được xử trí đúng, kịp thời [3; 4] Trong
đó, ngộ độc cấp gây rối loạn ý thức luôn là một thách thức lớn đối với các bác sĩ cấp cứu
vì khá thường gặp, nặng nề, nhiều biến chứng (sặc phổi, suy hô hấp, trụy tim mạch, co giật, tiêu cơ vân) đòi hỏi phải được xử trí khẩn trương, chính xác, song thường gặp khó khăn trong chẩn đoán do nguyên nhân ngộ độc rất
đa dạng và khi bệnh nhân ngộ độc cấp có rối loạn ý thức sẽ rất hạn chế trong việc hỏi nguyên nhân, thời gian ngộ độc, triệu chứng ban đầu [6; 7; 8]
Hệ thần kinh trung ương được cung cấp máu phong phú, thành phần lipid lớn cho nên thường là cơ quan đích của nhiều thuốc và chất độc Một nghiên cứu tại Hoa Kỳ trên 500 bệnh nhân hôn mê nhập viện thấy 149 trường hợp (30%) là do ngộ độc [6] Gần đây, một nghiên cứu tại Thụy Điển cũng cho thấy tỉ lệ ngộ độc cấp có rối loạn ý thức vào khoa cấp cứu là 38% [2]
Tại nước ta, ngộ độc gây rối loạn ý thức cũng thường gặp và gây nhiều khó khăn trong
Trang 2chẩn đoán và điều trị Theo một nghiên cứu
mô tả ban đầu tại Trung tâm chống độc bệnh
viện Bạch Mai năm 1999 - 2003, rối loạn ý
thức do ngộ độc có tỷ lệ 17,3% Tuy nhiên,
thực tế còn rất thiếu các nghiên cứu giúp tìm
hiểu các nguyên nhân, tác nhân thường gặp
gây ngộ độc cấp có rối loạn ý thức, chính vì
vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài với
mục tiêu nhận xét một số nguyên nhân ngộ
độc cấp gây rối loạn ý thức tại Trung tâm
chống độc bệnh viện Bạch Mai
II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
1 Đối tượng
Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân
Các bệnh nhân ngộ độc cấp có rối loạn ý
thức điều trị tại Trung tâm chống độc bệnh
viện Bạch Mai từ tháng 1/2012 đến tháng
9/2013 Chẩn đoán ngộ độc cấp theo tiêu
chuẩn của tác giả Nguyễn Thị Dụ, Hojer J, có
2/3 trong các tiêu chuẩn sau:
- Tiếp xúc chất độc (uống thuốc ngủ an
thần, thuốc trừ sâu, rượu, tiếp xúc khí CO…)
- Có biểu hiện lâm sàng ngộ độc
- Xét nghiệm thấy chất độc trong dịch dạ
dày, nước tiểu, máu
- Tiêu chuẩn rối loạn ý thức (GCS): ≤ 10
điểm
Tiêu chuẩn loại trừ
- Ngộ độc đồng thời nhiều chất độc
- Tiền sử bệnh có di chứng thần kinh trung
ương
- Nguyên nhân chấn thương, tai biến mạch
máu não, nhiễm trùng thần kinh trung ương,
tiền sử bệnh tâm thần
- Tuổi < 16
- Ra viện không xác định được nguyên
nhân ngộ độc rõ ràng
Cỡ mẫu:
p = 0,17 [1] tỉ lệ mắc bệnh nghiên cứu tại một cộng đồng tương tự
ε: tỉ lệ nào đó so với tỉ lệ bệnh p;
α: mức ý nghĩa thống kê, Z1-α/2: Giá trị Z thu được từ bảng Z tương ứng với giá trị Thay vào công thức ta có n = 420
Công cụ nghiên cứu
- Bệnh án mẫu nghiên cứu theo mẫu thống nhất
- Máy ghi điện tim
- Máy xét nghiệm các chỉ tiêu huyết học, sinh hoá tại viện huyết học và khoa sinh hóa bệnh viện Bạch Mai
- Xét nghiệm độc chất tại phòng xét nghiệm độc chất Trung tâm chống độc: bằng xét nghiệm sắc ký lớp mỏng, RIA, sắc ký lỏng cao áp khối phổ Xét nghiệm ethnol và metha-nol tại viện Pháp y Trung ương
2 Phương pháp: nghiên cứu mô tả tiến
cứu kết hợp hồi cứu
* Thu thập thông tin lúc vào viện
- Thông tin chung: tuổi, giới, trình độ học vấn, nghề nghiệp, địa chỉ
- Tiền sử ngộ độc, tiền sử bệnh tật
- Hoàn cảnh xảy ra ngộ độc (tự tử, nhầm lẫn, tai nạn, đầu độc)
- Xác định nguyên nhân gây độc dựa vào: + Hỏi người nhà tang vật tìm được: vỏ thuốc, chai thuốc…
+ Các triệu chứng lâm sàng gợi ý đến ngộ độc nhóm thuốc hay chất độc
+ Xét nghiệm độc chất trong dịch dạ dày, nước tiểu, máu
Z2 1-α/2p (1 - p) (pε)2
n =
Trang 3- Thời gian từ khi tiếp xúc chất độc đến khi
rối loạn ý thức
- Các triệu chứng, hội chứng lâm sàng kèm
theo rối loạn ý thức
- Xét nghiệm độc chất trong dịch dạ dày,
máu, nước tiểu
3 Xử lý số liệu
Các số liệu được phân tích theo phương
pháp thống kê y học, trên chương trình SPSS
16.0, tính tỷ lệ %, trung bình ± độ lệch chuẩn
so sánh trung bình bằng t test, so sánh tỷ lệ %
bằng χ2 (hoặc Fisher exact test), có ý nghĩa
thống kê khi p < 0,5
4 Đạo đức nghiên cứu
Các thông tin của bệnh nhân đều được
bảo mật và chỉ phục vụ cho mục tiêu nghiên
cứu Bệnh nhân tự nguyện tham gia nghiên
cứu và có quyền rút lui khỏi nghiên cứu bất kỳ thời điểm nào
III KẾT QUẢ
1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu
Có 210/4765 bệnh nhân rối loạn ý thức do ngộ độc cấp vào điều trị, chiếm tỉ lệ 4,4% tổng
số bệnh nhân ngộ độc cấp trong thời gian tháng 1/2012 đến tháng 9/2013 Trong tổng số
210 bệnh nhân nghiên cứu có 138 trường hợp
là nam (65%) và 72 trường hợp là nữ (35%)
Có sự khác biệt về giới tính trong các bệnh nhân ngộ độc cấp có rối loạn ý thức vào điều trị tại trung tâm chống độc từ tháng 1/2012 đến tháng 9/ 2013 (p < 0,05) Nhóm nghề nghiệp tự do chiếm tỉ lệ cao nhất (30%) Điểm Glasgow trung bình là 7 điểm
0
5
10
15
20
25
30
16 - 24 25 - 34 35 - 44 45 - 54 ≥ 55
30
27.1
14.8
%
Biểu đồ 1 Phân bố bệnh nhân nghiên cứu theo tuổi
Ngộ độc cấp có rối loạn ý thức gặp nhiều nhất ở lứa tuổi trẻ 16 – 34 (57,1%), ít nhất ở nhóm tuổi 45 – 54 (13,3%)
Bảng 1 Phân bố bệnh nhân nghiên cứu theo địa dư
Địa dư Nông thôn Thành phố Trung du, miền núi Tổng
Trang 4Bệnh nhân đến từ nông thôn (46,7%) và thành thị (50,5%) chiếm đa số và có tỉ lệ gần tương đương nhau
2 Nguyên nhân ngộ độc cấp gây rối loạn ý thức
Bảng 2 Nguyên nhân gây ngộ độc cấp có rối loạn ý thức
Nguyên nhân
Glasgow
Ngộ độc thuốc an thần - gây ngủ chiếm tỉ
lệ cao nhất (39,5%), bao gồm chủ yếu là
phe-nobarbital (gardenal) 61/83 bệnh nhân, ngoài
ra rotundin 9/83 bệnh nhân, seduxen 7/83
bệnh nhân, carbamezapin 2/83 bệnh nhân,
levomepromazin 2/83 bệnh nhân, olanzapin
1/83 bệnh nhân, aminazin 1/83 bệnh nhân
Đứng thứ 2 là nhóm rượu (27,6%): ethanol
45/58 bệnh nhân, đặc biệt là 13/58 bệnh nhân
ngộ độc methanol và phần nhiều hôn mê sâu
(62%) Ngộ độc hóa chất bảo vệ thực vật
đứng thứ 3 (12,9%): phospho hữu cơ 12/27
bệnh nhân, carbamat 7/27 bệnh nhân,
stoxin 4/27 bệnh nhân, abamectin 3/27 bệnh nhân, cypemethrin 1/27 bệnh nhân Tiếp theo
là ngộ độc chất gây nghiện (9%): Heroin 15/19 bệnh nhân, ketamin 2/19 bệnh nhân, metam-phetamin 2/19 bệnh nhân Thuốc chống trầm cảm (6,7%): Chủ yếu là amitriptylin 11/14 bệnh nhân, ít gặp hơn là fluoxetin, leximil và remeron (3/14 bệnh nhân) Đứng thứ 6 là nhóm khí độc (2,9%): CO 5/6 bệnh nhân, methal 1/6 bệnh nhân Các thuốc khác 3 bệnh nhân (1 bệnh nhân ngộ độc thuốc chẹn kênh calci, 2 bệnh nhân ngộ độc kháng histamin H1) chiếm tỉ lệ 1,4%
Bảng 3 Nguyên nhân ngộ độc cấp gây rối loạn ý thức
Trang 5Bệnh nhân tự tử chiếm tỉ lệ cao nhất (60,5%), đứng thứ hai là nguyên nhân lạm dụng (rượu,
ma túy) Như vậy hầu hết (95,7%) các trường hợp ngộ độc có rối loạn ý thức nặng là do nguyên nhân tự tử và lạm dụng
Bảng 4 Liên quan nguyên nhân ngộ độc cấp có rối loạn ý thức và chức năng sống
Dấu
hiệu sinh tồn
An thần – gây ngủ
BVTV
Chất gây nghiện
Thuốc chống trầm cảm
Mạch
(lần/phút)
(50%)
26 (27,7%)
7 (7,4%)
6 (6,4%)
3 (21,4%)
4 (4,3%)
1 (1%)
94 (100%)
(31,9%)
32 (28,3%)
19 (16,8%)
12 (10,6%)
10 (8,8%)
2 (1,8%)
2 (1,8%)
113 (100%)
HA
tối đa
(mmHg)
(34,8%)
16 (34,8%)
9 (19,6%)
2 (4,3%)
2 (4,3%)
0 (0%)
1 (2,2%)
46 (100%)
(40,8%)
42 (25,6%)
18 (11%)
17 (10,4%)
12 (7,3%)
6 (3,7%)
2 (1,2%)
164 (100%)
Nhiệt
độ
(0%)
3 (60%)
2 (40%)
0 (0%)
0 (0%)
0 (0%)
0 (0%)
5 (100%)
(46,2%)
0 (0%)
4 (30,8%)
2 (15,4%)
1 (7,6%)
0 (0%)
0 (0%)
13 (100%)
Nhịp
Thở
(54,2%)
20 (24,1%)
3 (3,6%)
13 (15,7%)
1 (1,2%)
1 (1,2%)
0
(23,1%)
6 (23,1%)
7 (26,9%)
1 (3,8%)
3 (11,5%)
2 (7,8%)
1 (3,8%)
26 (100%)
(0%)
0 (0%)
1 (14,3%)
5 (71,4%)
1 (14,3%)
0 (0%)
0 (0%)
7 (100%)
Nguyên
nhân
Ngừng tuần hoàn ngoại viện gặp ở 3 bệnh nhân (nhóm hóa chất bảo vệ thực vật, chất gây nghiện và thuốc chống trầm cảm) Mạch nhanh khá thường gặp (53,8%) Tụt huyết áp (huyết áp tối đa < 90mmHg) ít gặp hơn (21,9%), thường do ngộ độc thuốc an thần - gây ngủ, rượu, hóa chất bảo vệ thực vật (89,2%) Tuy nhiên sự khác biệt với các nhóm nguyên nhân khác chưa có ý nghĩa thống kê (p = 0,096) Hạ thân nhiệt ít gặp Trong 5 bệnh nhân hạ nhiệt độ (< 36oC) có 3 bệnh nhân nhóm rượu (60%), 2 bệnh nhân nhóm hóa chất bảo vệ thực vật (neirestoxin) 40% Sốt cao (nhiệt độ > 38,50C) gặp nhiều ở nhóm an thần - gây ngủ, hóa chất bảo vệ thực vật (77%) Thở chậm và ngừng thở thường gặp do ngộ độc thuốc an thần - gây ngủ, rượu, ma túy và bảo vệ thực vật Ngừng thở chủ yếu gặp ở nhóm chất gây nghiện (71,4%)
Trang 6IV BÀN LUẬN
Trong thời gian từ tháng 1/2012 đến tháng
9/2013 có 210/4765 bệnh nhân ngộ độc cấp
có rối loạn ý thức vào trung tâm chống độc, tỉ
lệ này là tương đối thấp hơn so với các tác giả
khác trên thế giới, như nghiên cứu năm 1980
là 19% [3], năm 2009 là 38% [2], năm 2012 là
19% [4] và 25% [5] và năm 2002 là 19% [6]
Trong nghiên cứu của chúng tôi tỉ lệ này thấp
có lẽ do đặc điểm dịch tễ ở Việt Nam số lượng
bệnh nhân ngộ độc thức ăn chiếm đa số trong
ngộ độc cấp nói chung, mà ngộ độc thức ăn
thường nhẹ không gây ra tình trạng rối loạn ý
thức Có 138 bệnh nhân là nam chiếm tỉ lệ
65%, nữ (35%), tỉ lệ này cũng phù hợp với tác
giả nghiên cứu năm 2009 nam nhiều hơn nữ
(52% so với 48%) [2] Có lẽ số người bị ngộ
độc cấp do các chất gây nghiện (ma túy, rượu
bia) là không nhỏ và chủ yếu các bệnh nhân
lạm dụng chất này là nam giới Số bệnh nhân
ở thành phố vào điều trị tại Trung tâm chống
độc là nhiều nhất Tuổi của bệnh nhân trong
nhóm nghiên cứu nhỏ nhất là 16, lớn nhất là
77, tuổi trung bình là 35, gặp nhiều nhất ở lứa
tuổi trẻ 16 – 34 chiếm tỉ lệ 57,1% Điều này
phù hợp với nghiên cứu tại Hoa Kỳ năm 2009,
gặp chủ yếu ở nhóm tuổi trẻ < 40 tuổi tỉ lệ
khoảng 80%, tuổi trung bình là 43 [2]
Bệnh nhân làm nhiều nghề khác nhau từ
học sinh, sinh viên, làm ruộng đến công nhân,
công chức cho tới đối tượng nghề tự do Đối
tượng nghề tự do chiếm tỉ lệ cao nhất (63
trường hợp = 30%), tiếp theo là làm ruộng và
học sinh, sinh viên có tỉ lệ xấp xỉ 20 % và 19,5
%, nhóm nghề khác có 29 trường hợp chiếm tỉ
lệ 13,8% Vẫn có một bộ phận không nhỏ 35
trường hợp (16,7%) là công nhân, công chức,
những người có kiến thức văn hóa, xã hội cao
hơn hẳn các đối tượng khác Điều này cho
thấy ngộ độc cấp là vấn đề của toàn xã hội,
của mọi nghành, mọi giới Tính chất đa dạng
về nghề nghiệp liên quan tới sự phong phú của nguyên nhân cũng như hoàn cảnh ngộ độc của bệnh nhân
Điểm Glasgow trung bình trong nghiên cứu của chúng tôi là 7 điểm cao hơn so với nghiên cứu năm 2009 (6 điểm) [2], và năm 2012 (6 điểm) [4] Nguyên nhân có thể do trong nghiên cứu của chúng tôi bệnh nhân ngộ độc một thuốc hay một độc chất Còn nghiên cứu của các tác giả khác bệnh nhân ngộ độc đồng thời nhiều độc chất nên mức độ hôn mê sâu hơn Theo kết quả nghiên cứu của chúng tôi tỉ lệ gặp các thuốc và độc chất như sau: 39,5% (83 trường hợp) an thần – gây ngủ, 27,6% (58 trường hợp) rượu, 12,9% (27 trường hợp) hóa chất bảo vệ thực vật, 9% (19 trường hợp) chất gây nghiện, 6,7% (14 trường hợp) thuốc chống trầm cảm, 2,9% (6 trường hợp) khí độc, 1,4% (3 trường hợp) nhóm thuốc khác Tỉ lệ này khác với nghiên cứu năm 2009: gặp nhiều nhất là nhóm rượu (36%), thứ hai mới là an thần (20%) [2] Đồng thời cũng khác với nghiên cứu năm 2012: đứng đầu là nhóm thuốc gamma – hydroxybutyric acid (26%), thứ 2 là nhóm rượu (20%), thứ 3 là nhóm opioids (17%), thứ 4 là nhóm an thần (14%), thứ 5 là nhóm thuốc khác(10%), tiếp theo là nhóm cocain, chống trầm cảm, an thần kinh
có tỉ lệ như nhau (10%) [5]
Tỉ lệ gặp nhiều nhất là an thần – gây ngủ, phù hợp với kết quả nghiên cứu tại Việt Nam năm 2000: an thần - gây ngủ gặp nhiều nhất (35,8%) [7], tác giả Ngô Hữu Hà: nhóm an thần – gây ngủ chiếm tỉ lệ cao nhất 76,3%, có
lẽ do ở nước ta thuốc tân dược được bày bán rộng rãi, ai cũng có thể tự mua thuốc mà không cần kê đơn, nhà nước chưa có một cơ chế quản lí thích hợp Ngộ độc rượu ngày càng gia tăng ở nước ta cũng như trên thế giới có thể do xã hội càng phát triển, kinh tế đi lên thì nhu cầu giao lưu, hội họp càng nhiều,
Trang 7số người dùng đến rượu càng tăng Ở Việt
Nam do là nước nông nghiệp nên tỉ lệ ngộ độc
nhóm hóa chất bảo vệ thực vật cũng đáng
báo động, đứng thứ ba trong bảy nhóm gây
ngộ độc cấp có rối loạn ý thức Mức độ hôn mê
phụ thuộc rất nhiều vào nguyên nhân ngộ độc
cấp (bảng 2)
Nhóm bệnh nhân tự tử đứng hàng đầu
trong các nguyên nhân gây ngộ độc Đây là
vấn đề nhức nhối cho mỗi gia đình và cho
toàn xã hội đồng thời cũng là thách thức cho
ngành chống độc Vì đa số các bệnh nhân này
thường dùng một số lượng lớn độc chất và
thường được phát hiện muộn, nhập viện trong
tình trạng nặng nề 7 trường hợp tai nạn
chiếm tỉ lệ 3,3% trong đó 6 trường hợp đều là
ngộ độc khí CO do đun bếp than trong phòng
kín để sưởi ấm, còn lại 1 trường hợp đi phun
thuốc sâu trượt ngã bị đổ cả bình thuốc sâu
vào người
Chất độc khi vào cơ thể ngăn cản chuyển
hóa trung gian, làm cạn kiệt chất chuyển hóa
giàu năng nượng, mất năng lượng cung cấp
tế bào, ảnh hưởng lên các cơ quan trong đó
có tim mạch, gây rối loạn nhịp tim, thay đổi
sức co bóp cơ tim, rối loạn trương lực mạch
máu Hoặc hệ tim mạch bị ảnh hưởng gián
tiếp khi độc chất tác động lên thần kinh, hô
hấp nếu không cấp cứu kịp thời gây suy hô
hấp, tụt huyết áp, ngừng tim Có 3 bệnh nhân
vào viện trong trường hợp trụy mạch (ngộ độc
hóa chất bảo vệ thực vật, chất gây nghiện,
thuốc chống trầm cảm) Mạch nhanh khá
thường gặp, tuy nhiên tụt huyết áp (HATĐ <
90mmHg) ít gặp hơn, gặp chủ yếu ở nhóm an
thần – gây ngủ, nhóm rượu, nhóm hóa chất
bảo vệ thực vật
Hạ thân nhiệt ít gặp, có 3 bệnh nhân nhóm
rượu, 2 bệnh nhân nhóm hóa chất bảo vệ
thực vật, điều này là hợp lí vì rượu làm giảm
co bóp cơ tim, giãn mạch ngoại biên, giảm
nhiệt độ, hóa chất bảo vệ thực vật gây kích thích bài tiết mồ hôi, kích thích giao cảm gây
co mạch Nhiệt độ > 38,5 gặp 13 trường hợp, nhiều ở nhóm an thần – gây ngủ, hóa chất bảo vệ thực vật
Thở chậm, ngừng thở gặp chủ yếu ở nhóm
an thần gây ngủ, rượu, ma túy, hóa chất bảo
vệ thực vật Ngừng thở gặp chủ yếu ở nhóm thuốc gây nghiện (71,4%), điều này hoàn toàn hợp lí vì gây ức chế hô hấp là một trong ba đặc điểm của ngộ độc ôpi do có receptor đặc hiệu tại thần kinh trung ương là mu, kappa đều gây giảm hô hấp [8]
V KẾT LUẬN
Kết quả nghiên cứu cho thấy các nguyên nhân và tác nhân chủ yếu gây ngộ độc cấp có rối loạn ý thức, bước đầu giúp cho công tác chẩn đoán, xử trí và dự phòng các trường hợp ngộ độc cấp có rối loạn ý thức
Lời cảm ơn
Nhóm nghiên cứu trân trọng cảm ơn Ban giám đốc và các phòng ban Trung tâm chống độc, Bệnh viện Bạch Mai đã tạo điều kiện giúp
đỡ trong quá trình nghiên cứu
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Đặng Thị Xuân, N.T.B.N (2002) Tình
hình ngộ độc cấp tại khoa Chống Độc bệnh viện Bạch Mai 1998 – 2000 Công trình nghiên
cứu khoa học 2001 – 2002 Nhà xuất bản Y học Hà Nội, 94 - 100.
2 Forsberg, S (2009) Coma and impaired
consciousness in the emergency room: char-acteristics of poisoning versus other
causes.Emerg Med J, 26(2), 100 - 102.
3 Plum F, P.J Diagnosis of Stupor and
Coma (1980) New York Oxford University
Press.
4 Weiss N (2012) Causes of coma and
Trang 8their evolution in the medical intensive care
unit.J Neurol, 259(7), 1474 - 1477.
5 Lund, C (2012). A one-year
observational study of all hospitalized acute
poisonings in Oslo: complications, treatment
and sequelae.Scand J Trauma Resusc Emerg
Med, 20, 49.
6 Kanich, W (2002) Altered mental
status: evaluation and etiology in the ED Am J
Emerg Med, 20(7), 613 - 617.
7 Nguyễn Liễu, Trịnh Thanh Hùng (2000) Tình hình cấp cứu ngộ độc tại khoa
Độc xạ viện 103 Kỉ yếu công trình khoa học cấp cứu- hồi sức- chống độc 2000
8 Delaney KA, Kolecki P (2001).
Approach to the poisoned patient with Central nervous System Depression Clinical Toxicology 1st ed Philadelphia: W.B.
Saunders Company, 137 - 145
Summary CAUSES OF ACUTE POISONED PATIENTS WITH ALTERED
CONSCIOUSNESS AT THE POISON CONTROL CENTER OF
BACH MAI HOSPITAL
A prospective and retrospective observational study is designed to identify causes of acute poisoned patients with altered consciousness from January 2012 to September 2013 at the Poison Control Center of Bach Mai Hospital Among 4765 patients with acute poisoning there were 210 patients (4.4%) with coma, 138 males (65%) and 72 females (35%) Sedative poisoning was the most common (39.5%), followed by alcohol (ethanol and methanol) intoxication (27.6%) and pesticides (12.9%) Most of the poisonings with the coma (95.7%) resulted from suicide and abuse Unconsciousness due to acute poisoning had severe complications such as hypotension (21.9%), respiratory distress mostly in patients with sedative, drugs of abuse and pesticide poi-soning Apnea was the primary seen in group with drugs of abuse (71.4%) In summary, the study revealed the causes of acute poisoning with altered consciousness, contributed to the diagnosis, management and prevention of severe poisoning
Keywords: Acute intoxication, cognition disorder