1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Đánh giá khối cơ thất trái và chỉ số khối cơ thất trái ở bệnh thận mạn tính

9 39 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 165,44 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết nghiên cứu đánh giá kiến thức phòng tránh nhiễm trùng ở bệnh nhân lọc màng bụng liên tục ngoại trú. Nghiên cứu mô tả cắt ngang dựa vào bộ câu hỏi đánh giá kiến thức phòng tránh nhiễm trùng của bệnh nhân lọc màng bụng liên tục ngoại trú được thực hiện ở các bệnh nhân đang được điều trị bằng phương pháp lọc màng bụng liên tục ngoại trú tại khoa Thận - Tiết niệu, Bệnh viện Bạch Mai từ tháng 03/2014 đến tháng 09/2014.

Trang 1

Địa chỉ liên hệ: Vương Tuyết Mai, Bộ môn Nội tổng hợp,

Trường Đại học Y Hà Nội

Email: vuongtuyetmai@gmail.com

Ngày nhận: 6/8/2015

Ngày được chấp thuận: 10/9/2015

ĐÁNH GIÁ KIẾN THỨC PHÒNG TRÁNH NHIỄM TRÙNG

Ở BỆNH NHÂN LỌC MÀNG BỤNG LIÊN TỤC NGOẠI TRÚ

Vương Tuyết Mai 1 , Phạm Thanh Tuyền 2 , Đỗ Gia Tuyển 1

1 Trường Đại học Y Hà Nội; 2 Trường Đại học Thăng Long Nghiên cứu của chúng tôi được thực hiện nhằm đánh giá kiến thức phòng tránh nhiễm trùng ở bệnh nhân lọc màng bụng liên tục ngoại trú Nghiên cứu mô tả cắt ngang dựa vào bộ câu hỏi đánh giá kiến thức phòng tránh nhiễm trùng của bệnh nhân lọc màng bụng liên tục ngoại trú được thực hiện ở các bệnh nhân đang được điều trị bằng phương pháp lọc màng bụng liên tục ngoại trú tại khoa Thận - Tiết niệu, Bệnh viện Bạch Mai từ tháng 03/2014 đến tháng 09/2014 Nghiên cứu bao gồm 188 bệnh nhân, nam chiếm tỉ lệ 56,4% (n = 106) và nữ chiếm tỉ lệ 43,6% (n = 82) Tuổi trung bình của các đối tượng nghiên cứu là 45,4±13,3

(18-87 tuổi) Hầu hết bệnh nhân sống ở nông thôn, chiếm tỉ lệ 77,7% (n = 146), bệnh nhân sống ở thành thị chiếm tỉ lệ 22,3% (n = 42) Trình độ học vấn dưới cấp 3 chiếm tỉ lệ cao nhất là 47,3% (n = 89), trình độ học vấn cấp 3 chiếm 28,2% (n = 53) và trình độ học vấn trên cấp 3 chiếm 24,5% (n = 46) Số bệnh nhân thuộc diện nghèo

là 107 bệnh nhân (57%) cao hơn so với số bệnh nhân thuộc diện đủ sống (81 bệnh nhân chiếm 43%) Kết quả nghiên cứu cho thấy tổng điểm trung bình bệnh nhân đạt được là 16,2 ± 3,7, điểm trung vị là 16/35 điểm, điểm thấp nhất là 5 điểm, điểm cao nhất là 27 điểm Nhóm bệnh nhân đạt điểm kiến thức cao chiểm tỉ

lệ thấp 6,4% (n = 12), nhóm bệnh nhân có điểm kiến thức trung bình chiếm 30,9% (n = 58), nhóm bệnh nhân đạt điểm kiến thức thấp chiếm tỉ lệ khá cao 62,7% (n = 118).

Từ khoá: Lọc màng bụng liên tục ngoại trú (CAPD)

I ĐẶT VẤN ĐỀ

Bệnh thận mạn đang tăng lên nhanh chóng

và trở thành một vấn đề y tế toàn cầu [1] Tỉ

lệ mắc bệnh thận mạn trên thế giới khoảng 8

– 16% dân số thế giới [2] Tại Anh mỗi năm tỉ

lệ suy thận mạn tính là 100/1000.000 dân [3],

Hoa Kỳ tỉ lệ suy thận mạn tính là

336/1.000.000 dân [4] Khi bệnh nhân bị suy

giảm chức năng thận, người ta căn cứ vào

mức lọc cầu thận để lựa chọn biện pháp điều

trị Khi mức lọc cầu thận dưới 15 ml/phút/1.73

m2da, cần áp dụng các phương pháp điều trị

thay thế thận: ghép thận, thận nhân tạo và lọc

màng bụng Trên thế giới có khoảng trên 1,8

triệu người đang được điều trị thay thế thận

[5] Ước tính có khoảng 10 – 15% số bệnh nhân bệnh thận mạn giai đoạn cuối được điều trị bằng phương pháp lọc màng bụng [6] Lọc màng bụng ngày càng trở nên phổ biến do tính đơn giản, thuận tiện và bệnh nhân có thể

tự thực hiện tại nhà [7; 8] Có hai phương pháp lọc màng bụng đó là: lọc màng bụng liên tục ngoại trú (CAPD - Continuous Ambulatory Peritoneal Dialysis) và lọc màng bụng tự động bằng máy (APD – Automated Peritoneal Dialysis) Tuy nhiên, ở Việt Nam hiện nay thì phương pháp lọc màng bụng liên tục ngoại trú

là phương pháp lọc màng bụng phổ biến Lọc màng bụng liên tục ngoại trú được bệnh nhân

tự thay dịch bằng tay Mỗi tháng bệnh nhân chỉ phải đến viện tái khám và lĩnh dịch 1 lần Với phương pháp lọc màng bụng liên tục ngoại trú thì việc bệnh nhân tự thực hiện các thao tác thay dịch và chăm sóc tại nhà không

Trang 2

chỉ giúp giảm quá tải ở các bệnh viện tuyến

trung ương mà còn là giải pháp giúp cho bệnh

nhân mắc bệnh thận mạn giai đoạn cuối vẫn

có thể tiếp tục công việc, học tập, tiếp tục tạo

ra những lợi ích kép về kinh tế cho người

bệnh, gia đình họ và xã hội [7] Tuy nhiên,

phương pháp lọc màng bụng có thể gặp thất

bại do các biến chứng, đặc biệt là các biến

chứng nhiễm trùng và một tỉ lệ tương đối cao

bệnh nhân lọc màng bụng phải chuyển đổi

phương pháp là do biến chứng viêm màng

bụng [9] Các biến chứng nhiễm trùng trong

đó có viêm màng bụng có thể hạn chế hơn khi

bệnh nhân có đầy đủ kiến thức về phương

pháp lọc màng bụng Bệnh nhân có kiến thức

về phương pháp lọc màng bụng tốt sẽ tuân

thủ điều trị tốt hơn và tỉ lệ nhiễm trùng thấp

hơn [10; 11] Việc tìm hiểu, đánh giá kiến thức

của bệnh nhân lọc màng bụng để có kế hoạch

tái huấn luyện, nhắc nhở bệnh nhân trong vấn

đề phòng tránh và phát hiện sớm các triệu

chứng nhiễm trùng là vô cùng cần thiết Vì vậy

nghiên cứu này được tiến hành nhằm mục

tiêu đánh giá kiến thức phòng tránh nhiễm

trùng ở bệnh nhân lọc màng bụng liên tục

ngoại trú

II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

1 Phương pháp

Nghiên cứu tiến cứu mô tả cắt ngang

2 Đối tượng

Tất cả bệnh nhân được điều trị bằng

phương pháp lọc màng bụng liên tục ngoại trú

tại khoa Thận - Tiết niệu, bệnh viện Bạch Mai

từ tháng 03/2014 đến tháng 09/2014 đạt tiêu

chuẩn nghiên cứu: trên 18 tuổi, có thời gian

lọc màng bụng liên tục ngoại trú trên 6 tháng,

có thể tiếp xúc và trả lời được bộ câu hỏi dùng

cho phỏng vấn, đồng ý và tình nguyện tham

gia vào nghiên cứu

3 Nội dung nghiên cứu

- Bộ câu hỏi nghiên cứu đánh giá kiến thức phòng tránh nhiễm trùng của bệnh nhân lọc màng bụng liên tục ngoại trú dựa theo bộ câu hỏi trong nghiên cứu của Sayed và cộng sự [10]

- Bộ câu hỏi bao gồm 15 câu hỏi được chia thành 3 nhóm câu hỏi:

- Nhóm câu hỏi kiến thức về viêm màng bụng bao gồm các câu hỏi liên quan đến triệu chứng, xử trí và phòng ngừa viêm màng bụng: câu 1 đến câu 3

- Nhóm câu hỏi kiến thức về nhiễm trùng chân catheter bao gồm các câu hỏi liên quan đến triệu chứng, xử trí và phòng ngừa nhiễm trùng chân catheter: câu 4 đến câu 6

- Nhóm câu hỏi kiến thức về xử trí các sự

cố có thể gặp tại nhà: câu 7 đến câu 15

- Bệnh nhân được một điểm cho mỗi ý trả lời đúng (2 - 3 điểm cho mỗi câu hỏi), số điểm tối đa cho 15 câu hỏi là 35 điểm và được chia làm 3 bậc:

+ Thấp: dưới 18 điểm

+ Trung bình: 19 đến 21 điểm

+ Cao: trên 21 điểm

4 Xử lý số liệu: Số liệu được phân tích

bằng phần mềm SPSS 22.0

5 Đạo đức nghiên cứu

Đối tượng tham gia nghiên cứu được thông báo về mục đích nghiên cứu và tự nguyện tham gia nghiên cứu Số liệu nghiên cứu chỉ phục vụ mục đích nghiên cứu khoa học, không sao chép, không để lộ danh tính đối tượng Trong quá trình phỏng vấn, các đối tượng có quyền từ chối bất cứ câu hỏi nào mà

họ không muốn trả lời, người nghiên cứu cũng không gây một áp lực nào đòi hỏi hoặc cố gắng thuyết phục đối tượng để lấy thông tin và

họ có thể ngừng cuộc phỏng vấn bất cứ khi nào họ muốn Nghiên cứu không có hại cho bệnh nhân

Trang 3

III KẾT QUẢ

Nghiên cứu được tiến hành trên 188 bệnh nhân bao gồm 56,4% là nam và 43,6% là nữ Tuổi trung bình là 45,4 ±13,3, tuổi nhỏ nhất là 18 tuổi, lớn nhất là 87 tuổi

Bảng 1 Đặc điểm chung của nhóm đối tượng nghiên cứu

Nhóm tuổi

Nơi ở

Học vấn

Kinh tế gia đình

Bệnh nhân ở độ tuổi từ 35 - 60 chiếm lệ cao nhất (62,2%) Hầu hết bệnh nhân sống tại nông thôn chiếm tỉ lệ 77,7% Nhóm bệnh nhân có trình độ học vấn dưới cấp 3 chiếm tỷ lệ cao nhất 47,3% Số bệnh nhân có hoàn cảnh kinh tế xóa đói giảm nghèo và thiếu thốn vẫn còn chiếm tỷ lệ cao (26,1% và 30,9%)

Bảng 2 Phân bố nhóm tổng điểm kiến thức của bệnh nhân lọc màng bụng liên tục ngoại trú

Trang 4

Tổng điểm trung bình bệnh nhân đạt được là 16,2 ± 3,7, điểm trung vị là 16/35 điểm, điểm thấp nhất là 5 điểm, điểm cao nhất là 27 điểm Bệnh nhân thuộc nhóm điểm thấp chiếm tỉ lệ cao nhất (62,7%), bệnh nhân thuộc nhóm điểm cao chiếm tỉ lệ thấp nhất (6,4%)

Bảng 3 Bảng điểm kiến thức về viêm màng bụng

Kiến thức về viêm màng bụng

Trả lời đúng Trả lời sai

Triệu chứng

chính của viêm

màng bụng

Xử trí khi thấy

dịch đục

Mang túi dịch đục lên bệnh

Phòng ngừa viêm

màng bụng

Thực hiện đầy đủ các bước của quy trình thay dịch như được hướng dẫn

Bệnh nhân trả lời đúng nhiều nhất ở các câu: đau bụng là một triệu chứng chính của viêm màng bụng (89,4%), liên lạc với nhân viên y tế khi phát hiện dịch đục (88,8%) Bệnh nhân trả lời sai nhiều ở các câu: mang túi dịch đục lên bệnh viện kiểm tra (84,0%), thực hiện đầy đủ các bước của quy trình thay dịch như được hướng dẫn (54,3%)

Bảng 4 Bảng điểm kiến thức về nhiễm trùng chân catheter

Kiến thức về nhiễm trùng chân catheter Trả lời đúng Trả lời sai

Triệu chứng chính

của nhiễm trùng

chân catheter

Xử trí khi thấy

chảy mủ ở chân

catheter hoặc

triệu chứng của

nhiễm trùng chân

catheter

Thay băng sạch chân catheter 2

Sử dụng betadine để sát trùng

Trang 5

Kiến thức về nhiễm trùng chân catheter Trả lời đúng Trả lời sai

Phòng ngừa

nhiễm trùng

chân catheter

Cố định catheter chắc bằng băng dính và

Giữ catheter

thế nào trong

suốt quá trình

tắm

Thay băng chân catheter hàng ngày sau

Bệnh nhân trả lời đúng nhiều nhất ở câu thay băng chân catheter hàng ngày để phòng nhiễm trùng chân catheter (93,1%).97,3% bệnh nhân chưa trả lời được nhiều vảy là một triệu chứng của nhiễm trùng chân catheter

Bảng 5 Bảng điểm kiến thức về các sự cố có thể gặp tại nhà

Kiến thức về xử trí sự cố có thể gặp tại nhà Trả lời đúng Trả lời sai

Chạm phải đầu

kết nối vô trùng

của catheter

Dịch không chảy

trong khi thay dịch

Nếu dịch vẫn không chảy thì ngừng thay

Rỏ rỉ dịch từ

catheter hay chân

catheter

Sưng mắt cá

chân, khó thở và

tăng cân nhanh

chóng

Liên lạc với nhân viên y tế và dùng dịch

Hoa mắt, chóng

mặt, yếu mệt và

cân nặng giảm

hơn so với bình

thường

Liên lạc với nhân viên y tế và ngừng dùng dịch có nồng độ cao 2,5% hoặc

4,25%

Trang 6

Bệnh nhân trả lời đúng nhiều nhất ở câu cần liên lạc với nhân viên y tế khi thấy rò rỉ dịch từ catheter hay chân catheter (92%) Bệnh nhân trả lời sai nhiều ở câu là uống nhiều nước hơn khi thấy hoa mắt, chóng mặt hoặc cân nặng giảm hơn so với bình thường (93,1%)

IV BÀN LUẬN

Trong nghiên cứu này, tuổi trung bình của

bệnh nhân lọc màng bụng liên tục ngoại trú là

45,4 ± 13,3 tuổi, thấp nhất là 18 tuổi và cao

nhất là 87 tuổi Nhóm bệnh nhân có độ tuổi từ

35 – 60 tuổi chiếm tỉ lệ cao nhất (62,2%) Đây là

độ tuổi lao động và điều này cũng cho thấy

phương pháp lọc màng bụng liên tục ngoại trú

là giúp cho bệnh nhân vẫn có thể duy trì công

việc của mình Phần lớn bệnh nhân sống ở

vùng nông thôn chiếm 77,7% và chỉ có 22,3%

bệnh nhân sống ở thành thị Điều này có thể

do bệnh nhân ở nông thôn thường xa trung

tâm thận nhân tạo nên lựa chọn phương

pháp lọc màng bụng để có thể tự thực hiện

tại nhà và chi phí thấp hơn so với phương

pháp thận nhân tạo tại bệnh viện [12] Trình

độ học vấn dưới cấp 3 chiếm tỉ lệ lớn nhất

(47,3%) Điều này cũng là một khó khăn khi

điều dưỡng huấn luyện về kiến thức và kĩ

năng thực hành cho bệnh nhân về phương

pháp lọc màng bụng 57% bệnh nhân có

hoàn cảnh kinh tế nghèo Điều này cũng có

thể ảnh hưởng tới sự tuân thủ trong vấn đề

giữ gìn vệ sinh sạch sẽ và tuân thủ điều trị của

bệnh nhân

Tổng điểm trung bình bệnh nhân đạt được

là 16,2 ± 3,7 điểm, điểm trung vị là 16/35

điểm, điểm thấp nhất là 5 điểm và điểm cao

nhất là 27 điểm Kết quả nghiên cứu của tác

giả Sayed S.A.M và các cộng sự thì điểm

trung vị thấp hơn nghiên cứu của chúng tôi

(11,5/35 điểm) nhưng điểm cao nhất bệnh

nhân đạt được cũng giống nghiên cứu của

chúng tôi là 27 điểm [12] Nhóm bệnh nhân

đạt điểm thấp chiếm tỉ lệ cao nhất (62,7%) và

nhóm bệnh nhân đạt điểm cao chiếm tỉ lệ thấp

nhất (6,4%) Điều này có thể bởi sau một thời gian điều trị lọc màng bụng, bệnh nhân thường quên kiến thức phòng tránh nhiễm trùng như đã được hướng dẫn ban đầu Vì vậy cần phải có kế hoạch kiểm tra, đánh giá lại kiến thức của bệnh nhân một cách định kỳ

để điều chỉnh, cải thiện chương trình huấn luyện một cách liên tục và có kế hoạch tái huấn luyện phù hợp, hiệu quả hơn cho bệnh nhân [13 - 15]

Một trong những biến chứng nhiễm trùng nặng và nguy hiểm trong phương pháp lọc màng bụng là biến chứng viêm màng bụng

Do đó, tất cả bệnh nhân lọc màng bụng đều được hướng dẫn nhận biết các triệu chứng chính của viêm màng bụng để phát hiện kịp thời tình trạng nhiễm trùng và lên bệnh viện điều trị sớm Trong nghiên cứu này, hầu hết bệnh nhân (89,4%) biết đau bụng là một triệu chứng của viêm màng bụng nhưng có tới 51,6% bệnh nhân chưa trả lời được sốt cũng

là một triệu chứng của viêm màng bụng Trong khi nghiên cứu của Sayed S.A.M và các cộng sự thì có hơn 50% bệnh nhân không trả lời được sốt và đau bụng là triệu chứng của viêm màng bụng [10] Khi bị viêm màng bụng, 88,8% bệnh nhân trong nghiên cứu này

sẽ gọi điện cho nhân viên y tế nhờ sự hỗ trợ nhưng hầu hết bệnh nhân quên mang theo túi dịch đục đầu tiên lên bệnh viện để kiểm tra (84%) Việc mang túi dịch lên bệnh viện là việc làm rất quan trọng để nhân viên y tế làm xét nghiệm cấy dịch lọc màng bụng trong túi dịch đục đầu tiên Điều này sẽ giúp ích rất nhiều cho bác sĩ trong việc chẩn đoán và điều trị viêm màng bụng [16] Bệnh nhân có kiến thức phòng ngừa viêm màng bụng tốt sẽ góp phần

Trang 7

đáng kể vào việc giảm tỉ lệ viêm màng bụng.

Trong nghiên cứu này, 55% bệnh nhân hiểu

rửa tay trước khi thay dịch là việc làm hết sức

ý nghĩa giúp giảm nguy cơ nhiễm trùng Kết

quả này cao hơn trong nghiên cứu của Sayed

S.A.M và các cộng sự, có dưới 50% bệnh

nhân trả lời đúng câu hỏi này [10] Trong

nghiên cứu của Dong J và cộng sự cũng có

tới 51,5% bệnh nhân thường mắc lỗi trong

quy trình rửa tay [12]

Chăm sóc chân catheter là việc làm hàng

ngày của bệnh nhân lọc màng bụng nhằm

giúp chân catheter luôn sạch sẽ và phòng

tránh nhiễm trùng chân catheter Trong nghiên

cứu này, hầu hết bệnh nhân trả lời đúng chảy

dịch/chảy mủ, đỏ da xung quanh chân

catheter cũng là triệu chứng của nhiễm trùng

Bên cạnh đó, chỉ có 2,7% bệnh nhân trả lời

được có nhiều vảy là một triệu chứng của

nhiễm trùng chân catheter Trong nghiên cứu

của Sayed S.A.M và các cộng sự thì trên

50% bệnh nhân trả lời đúng hết các triệu

chứng của nhiễm trùng chân ống [10] 93,1%

bệnh nhân biết thay băng sạch chân catheter

hàng ngày là cách tốt nhất để phòng tránh

nhiễm trùng Kết quả này cao hơn nhiều so

với nghiên cứu của Sayed S.A.M., dưới 50%

bệnh nhân không trả lời được phải thay băng

chân catheter hàng ngày để phòng tránh

nhiễm trùng [10] Có thể với các bệnh nhân

lọc màng bụng ở các nước phát triển, do môi

trường sống sạch sẽ nên bệnh nhân không

cần phải băng và thay băng chân catheter

hàng ngày 95,7% bệnh nhân không cho rằng

cố định chắc chân catheter bằng băng dính và

túi đeo cũng là một biện pháp giúp phòng

tránh nhiễm trùng Với câu trả lời này, bệnh

nhân trong nghiên cứu của chúng tôi trả lời sai

nhiều hơn so với nghiên cứu của Sayed

S.A.M và các cộng sự [10] Có lẽ bệnh nhân

của chúng tôi chưa hiểu hết rằng nếu chân

catheter cố định không chắc sẽ làm tổn thương

da xung quanh chân ống khi bệnh nhân vận động, gây chảy dịch hoặc máu và tạo vảy xung quanh chân catheter Điều đó khiến cho nguy cơ nhiễm trùng chân catheter tăng lên Hơn nữa việc cố định chân catheter chắc bằng băng dính và túi đeo là một khó khăn đối với một số bệnh nhân do khí hậu nóng ẩm ở Việt Nam

Lọc màng bụng là một phương pháp được bệnh nhân tự thực hiện thao tác thay dịch tại nhà Hơn nữa đây là phương pháp cần sự vệ sinh sạch sẽ và đặc biệt vô trùng tuyệt đối trong các bước kết nối túi dịch với đầu kết nối

vô trùng của catheter Vì vậy việc hướng dẫn bệnh nhân xử trí tốt các sự cố có thể xảy ra tại nhà cũng góp phần đáng kể để phòng tránh nhiễm trùng Nghiên cứu này cho thấy 70,7% bệnh nhân chưa trả lời được phải ngừng thay dịch và đậy nắp mới lại khi chạm phải đầu kết nối vô trùng Kết quả này tương tự nghiên cứu của Sayed S.A.M và các cộng sự, trên 50% bệnh nhân không trả lời đúng câu hỏi này [10] Đây là một xử trí rất quan trọng bởi nếu bệnh nhân tiếp tục thay dịch khi chạm phải đầu kết nối vô trùng, vi khuẩn sẽ xâm nhập vào bên trong màng bụng và gây nhiễm trùng Theo Harwell C.M thì có tới 41% trường hợp viêm màng bụng là do đụng chạm các đầu kết nối

vô trùng [17] Một trong những sự cố hay gặp tại nhà của bệnh nhân là dịch không chảy Khi phát hiện dịch không chảy ra, 80,3% bệnh nhân trong nghiên cứu này không biết cách kiểm tra các đầu kết nối và các kẹp Đây là một thao tác đơn giản mà bệnh nhân nên làm trước khi thay đổi tư thế hay gọi điện cho nhân viên y tế nhờ

sự hỗ trợ Rò rỉ dịch từ catheter hay chân catheter xảy ra nếu bệnh nhân không biết cách giữ đúng catheter khi cho vào túi đeo, khi catheter bị gập, xoắn nhiều lần hoặc khi bị vật sắc nhọn đâm thủng Trong trường hợp đó,

Trang 8

việc quan trọng nhất bệnh nhân cần làm là

ngừng thay dịch Với câu hỏi này, bệnh nhân

trong nghiên cứu này trả lời đúng 42%, thấp

hơn trong nghiên cứu của Sayed S.A.M và

các cộng sự [10]

V KẾT LUẬN

Kết quả nghiên cứu cho thấy tổng điểm

trung bình bệnh nhân đạt được là 16,2 ± 3,7

điểm, điểm trung vị là 16/35 điểm Nhóm bệnh

nhân đạt điểm kiến thức cao chiểm tỉ lệ thấp

6,4%, nhóm bệnh nhân có điểm kiến thức

trung bình chiếm 30,9%, nhóm bệnh nhân đạt

điểm kiến thức thấp chiếm tỉ lệ khá cao

62,2%

Lời cám ơn

Nhóm tác giả xin chân thành cảm ơn các

em sinh viên đã cùng thực hiện các đề tài

nghiên cứu về bệnh Thận - Tiết niệu Chúng

tôi xin chân thành cảm ơn ban chủ nhiệm, các

bác sỹ và điều dưỡng khoa Thận - Tiết niệu,

bệnh viện Bạch Mai đã tạo điều kiện cho

chúng tôi trong quá trình nghiên cứu

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Lysaght M.J., (2002) Maintenance

dialysis population dynamics: current trends

and long-term implications J Am Soc Nephrol,

13, 37 - 40.

2 Jha V., Garcia G., Iseki K et al (2013).

Chronic kidney disease: global dimension and

perspectives The Lancet, 382, 260 - 272.

3 Ansell D., F.T (2004) UK renal registry

report 2004 Bristol: UK Renal Registry

4 United States Renal Data System

(USRDS), (2005) 2004 annual report Am J

Kidney Dis 2005, 45

5 Grassmann A., Gioberge S., Moeller

S., Brown G (2005) ESRD patients in 2004:

global overview of patient numbers, treat-ment

modalities and asociated trends Nephrol Dial

Trans-plant, 20, 2578.

6 Mehrotra R., Nolph K.D (2001).

Peritoneal dialysis should be the first choice of initial renal replacement therapy for more

patients with end-stage renal disease ASAIO

J, 47, 309 - 311.

7 Trần Quý Tường (2013) Lợi ích kép

với người bệnh và bệnh viện Sức khỏe và đời

sống.

8 Tokgoz B (2009) Clinical advantages of

peritoneal dialysis Perit Dial Int, 29(2),

59 - 61

9 Perez F.M., Rodriguez C.A., Gardiz N.R et al (1111) Peritonitis related mortality in

patient undergoing chronic peritoneal dialysis

Peritoneal Dialysis International, 25, 274

-284

10 Sayed S.A.M., Aisha H.A., Ahmed M.E et al (2013) Effect of the patient’s

knowledge on peritonitis rates in Peritoneal

Dialysis Peritoneal Dialysis International, 33,

362 - 366

11 Bernardini J (2009) Training and

retraining: Impact on peritonitis Peritoneal

Dialysis International, 30, 434 - 436.

12 Dong J., Chen Y (2009) Impact of the

bag exchange procedure on risk of peritonitis

Perit Dial Int, 30, 440 - 447.

13 Nevillle A., Jenkins J., William J.D.,

et al (1111) Peritoneal Dialysis training: a

multisensory approach Pert Dial Int, 25(3),

149 - 151

14 Anderson R.M., Funnel M.M., Aikens J.E et al (2009) Evaluating the efficacy of an

empowerment - based self-managerment consultant intervention: result of a two-year

randomized controlled trial., The Patient Educ,

1, 3 - 11.

Trang 9

15 Manns B.J., Taub K., Vanderstraeten

C et al (2005) The impact of education on

chronic kidney disease patients’ plans to

initiate dialysis with self-care dialysis: a

randomized trial Kidney International, 68,

1777 - 1783

16 Li P.K., Szeto C.C., Piraino B et at (2010) Peritoneal Dialysis - related infections

recommendations Perit Dial Int, 30, 393 - 423.

17 Harwell C.M (1997) Peritonitis Dialysis

International, 17, 586 - 594.

Summary ASSESSING THE KNOWLEDGE OF INFECTION PREVENTION AMONG CONTINUOUS AMBULATORY PERITONEAL DIALYSIS PATIENTS

The study was conducted to assess the knowledge of infection prevention among Continuous Ambulatory Peritoneal Dialysis patients A cross-sectional study based on a questionnaire about the knowledge of infection prevention in Peritoneal Dialysis therapy was performed on Continuous Ambulatory Peritoneal Dialysis patients at the Nephro - Urology Department, Bach Mai Hospital, Hanoi, Vietnam from March to September 2014 This study included 188 patients Their mean age was 45.4 ± 13.3 years (from 18 - 87 years), 56.4% were male and 43.6% were female Only 22.3% patients lived in the urban area whereas 77.7% was from the rural area Educational level

of less than high school, high school and college educated were 47.3%, 28.2% and 24.5% respectively Low income patients accounted for 57%, which was higher than patients with average income (43%) The achieved knowledge score ranged from 5 to 27 with a mean score of 16.2 ± 3.7 and the median score was 16 of 35 points There were more patients with low knowledge score (62.7%) than those with middle and high knowledge score (30.9% and 6.4%)

Keywords: Continuous Ambulatory Peritoneal Dialysis (CAPD)

Ngày đăng: 19/01/2020, 19:52

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w