1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Sự khác biệt về kiến thức, thái độ, hành vi của bệnh nhân trước và sau khi tham gia chương trình phòng ngừa lây truyền HIV/AIDS từ mẹ sang con tại Bệnh viện Hùng Vương

8 111 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 401,27 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu nhằm đánh giá tác động của chương trình HIV/AIDS từ mẹ sang con đến kiến thức, thái độ, hành vi của thai phụ nhiễm HIV đến sanh tại Bệnh viện Hùng Vương dựa trên sự khác biệt về kiến thức, thái độ, hành vi của bệnh nhân trước và sau khi tham gia chương trình HIV/AIDS từ mẹ sang con tại Bệnh viện Hùng Vương.

Trang 1

SỰ KHÁC BIỆT VỀ KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ, HÀNH VI CỦA BỆNH NHÂN TRƯỚC VÀ SAU KHI THAM GIA CHƯƠNG TRÌNH PHÒNG NGỪA LÂY TRUYỀN HIV/AIDS TỪ MẸ SANG CON TẠI BỆNH VIỆN HÙNG VƯƠNG

Vũ Thị Nhung * , Lê Thị Lan Phương *

TÓM TẮT

Mục tiêu nghiên cứu: Đánh giá tác động của chương trình PLTMC đến kiến thức, thái độ, hành vi của

thai phụ nhiễm HIV đến sanh tại BVHV dựa trên sự khác biệt về kiến thức, thái độ, hành vi của bệnh nhân trước

và sau khi tham gia chương trình PLTMC tại bệnh viện Hùng Vương

Phương pháp tiến hành: Nghiên cứu dọc tiền cứu tất cả các đối tượng đủ tiêu chuẩn được đưa vào

chương trình phòng lây truyền HIV/AIDS từ mẹ sang con đến sanh tại Bệnh viện Hùng Vương Thời gian nghiên cứu từ 1/9/2010 đến 30/11/2011

Kết quả: Trong thời gian 8,5 tháng đã thực nhận vào nghiên cứu được 200 trường hợp sản phụ có HIV

(+) đến sanh tại Bệnh viện Hùng Vương Sau 6 tháng mất dấu 11 trường hợp Kết quả ghi nhận như sau: tỷ lệ đối tượng nghiên cứu sau khi tham gia chương trình phòng ngừa lây truyền HIV/AIDS từ mẹ sang con tại bệnh viện Hùng Vương được đánh giá là có sự thay đổi về kiến thức và hành vi tốt là 85,7% (KTC 95%: 0,74-0,86) Xếp loại khá là 2,6% , trung bình là 1,1% Đánh giá kém có 10,6% (KTC 95%: 0,06 – 0,15) là những người có hiểu biết nhưng không thực hành theo sự hiểu biết

Kết luận: chương trình PLTMC đã đem lại sự chuyển biến tốt về kiến thức và hành vi của bệnh nhân, giúp

họ tự tin và sống lạc quan, giúp họ gắn bó với chương trình tốt hơn , gián tiếp làm giảm sự lây nhiễm căn bệnh thế kỷ này

Từ khóa: Kiến thức- Thái độ- Hành vi của thai phụ nhiễm HIV

ABSTRACT

DIFFERENCES IN KNOWLEDGE, ATTITUDE, AND PRACTICE OF PATIENTS BEFORE AND AFTER PARTICIPATING IN THE PMTCT PROGRAM IN HUNG VUONG HOSPITAL (2010 – 2011)

Vu Thi Nhung*, Le Thi Lan Phuong

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 16 - Supplement of No 1 - 2012: 354 - 360

Objective: Evaluating the effectiveness of PLTMC Program based on the differences in knowledge, attitude

and practice of patients before and after participating the PMTCT program in Hung Vuong Hospital

Methodology: Longitudinal prospective study All HIV-affected pregnant women who met the inclusion

criteria and came to Hung Vuong Hospital were recruited to the PMTCT program The study was conducted from 1/9/2010 to 30/11/2011

Results: During 8.5 months, 200 patients who gave birth at Hung Vương Hospital were recruited After 6

months, there were 11 missing cases The rate of patients having good changes in knowledge and practice was at 85.7% (CI 95%: 0.74-0.86); rather good result at 2.6%; average at 1.1% Those rated as poor at 10.6% (CI 95%: 0.06 – 0.15) are those patients who had good knowledge but did not respond in accordance with their knowledge.

* Bệnh viện Hùng Vương

Tác giả liên lạc: PGS TS Vũ Thị Nhung ĐT:0903383005 Email: bsvtnhung@yahoo.com.vn

Trang 2

Conclusion: The PMTCT program has brought about good changes in knowledge and practice among HIV

positive patients It helped them gain self-confidence and live optimistically It could help the patients have good contact with the program, hence indirectly reducing HIV transmission rates

Key words: Knowledge- attitude- practice of HIV positive pregnant women

ĐẶT VẤN ĐỀ

Từ những tháng đầu tiên của những năm 80

thế kỷ XX lúc mà thế giới bị xáo động bởi căn

bệnh mang tên “Hội chứng suy giảm miễn dịch

mắc phải” hay còn gọi là AIDS cho đến nay đã

hơn 30 năm, sự hiểu biết về HIV/AIDS đã có rất

nhiều thay đổi Mặc dù chưa có thuốc chữa

khỏi bệnh nhưng nhờ sự hiệu quả của thuốc

ARV, tỷ lệ tử vong giảm ở những nơi cung cấp

thuốc đầy đủ trong khi tình trạng lây bệnh vẫn

tiếp tục Do đó, số người sống với AIDS ngày

càng tăng (3) Tỷ lệ tử vong do AIDS giảm hơn

50% cũng như tình trạng trẻ mồ côi giảm vì cha

mẹ chúng không chết vì AIDS Số trường hợp

nhiễm mới ở Cận Saharan (Phi Châu) giảm gần

15%, ở Đông Á giảm gần 25% , ở Nam và Đông

Nam Á giảm gần 10% (2008) (2) Chính vì vậy,

nếu lúc trước khi người phụ nữ mang thai biết

mình bị nhiễm HIV thì họ thường yêu cầu được

phá thai và họ không muốn có thai, nhưng hiện

nay đã có những cặp vợ chồng nhiễm HIV đến

cơ sở y tế xin được điều trị hiếm muộn Người

bệnh đã có vẻ lạc quan hơn, suy nghĩ tích cực

hơn, nhất là thuốc ARV đã giúp ngăn sự lây

truyền HIV từ mẹ sang con một cách đáng kể

Đã có nhiều nghiên cứu về kiến thức, thái độ,

hành vi về HIV/AIDS của các đối tượng như

nghiện ma túy, mại dâm, phụ nữ mang thai

được thực hiện nhưng chưa có nhiều nghiên

cứu về sự thay đổi kiến thức, thái độ, hành vi về

HIV/AIDS của những đối tượng này sau khi họ

đã được tiếp cận với các chương trình giáo dục

truyền thông

Mục tiêu nghiên cứu: Đánh giá tác động của

chương trình phòng lây truyền HIV từ mẹ sang

chương trình PLTMC tại bệnh viện Hùng Vương

PHƯƠNG PHÁP - ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu dọc tiền cứu

Đối tượng nghiên cứu (ĐTNC)

Những sản phụ có HIV (+) đồng ý sanh con tại BV Hùng Vương và chấp nhận tham gia vào chương trình PLTMC, có được điều trị dự phòng cho mẹ hay không , con được

uống thuốc dự phòng

Tiêu chuẩn loại trừ

Những người không có đủ 3 test HIV (+) theo qui định

Những trường hợp HIV (+) phá thai, thai chết lưu, thai chết sau sanh

Mẹ ở giai đoạn AIDS nặng tiên lượng xấu

Thời gian nghiên cứu

Từ 01/09/2010 đến 30/11/2011

Cỡ mẫu

Tất cả các đối tượng đủ tiêu chuẩn được đưa vào chương trình phòng lây truyền HIV/AIDS từ mẹ sang con đến sanh tại Bệnh viện Hùng Vương từ 1/9/2010 đến 15/5/2011 Ước lượng khoảng 200 thai phụ Phỏng vấn sâu 6 tháng sau sanh, chọn 20 bệnh nhân (10% mẫu nghiên cứu) để phỏng vấn sâu bằng cách chọn trong danh sách 200 bệnh nhân bắt đầu từ người số 1 và cách khoảng 9 người chọn người thứ 10 Nếu người được

Trang 3

Phương pháp tiến hành Chọn bệnh theo tiêu chuẩn qui định với số

lượng theo phương pháp tuần tự kế tiếp cho đến khi đủ số mẫu cần thiết cho nghiên cứu

Trang 4

Đồng ý tham gia chương trình PLTMC

Trả lời Pretest

Chuyển dạ sanh Nhập viện muộn

XN HIV (+)

Uống ARV vào tuần 28 hoặc ARV điều trị nếu TCD4 ≤ 250/mm3

Không kịp uống ARV

Dưỡng thai

Thai nhỏ ≤ 20

tuần

Thai lớn > 20 tuần Không đồng ý tham gia chương

trình PLTMC

Xin phá

thai

Thai phụ HIV (+) từ nơi

khác chuyển đến

Tham vấn cho thai phụ đi khám thai hay nhập viện

chờ sanh làm XN tầm soát HIV

Đồng ý xét nghiệm Không đồng ý xét nghiệm

đồ của BV Test (-)

Mẹ và con uống thuốc ARV

Trả lời Pretest trước khi

xuất viện

ĐTNC đến BV muộn

Phỏng vấn sâu 20

người

Đồng ý tham gia

chương trình PLTMC

ĐTNC đi khám thai

Đưa con đi BV NĐ làm PCR sau 1 tháng

Trả lời post test sau 6 tháng

Trang 5

Đánh giá sự khác biệt về kiến thức, thái

độ, hành vi dựa vào kết quả trả lời đúng sai

của cùng một câu hỏi trong 2 lần trả lời

(pretest và posttest) của ĐTNC

Đánh giá mức độ thay đổi về kiến thức

và hành vi (sau 6 tháng) dựa vào sự trả lời 13

câu hỏi Mỗi câu đúng được tính 1 điểm –

Nếu không biết hay không thực hiện thì cho

0 điểm

Các trường hợp phỏng vấn sâu được ghi

âm và giải băng sau

Qui trình nghiên cứu được thực hiện theo

sơ đồ 1

KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN

Có 200 thai phụ nhiễm HIV đến sanh tại

Bệnh viện Hùng Vương đã được nhận vào

nghiên cứu nhưng sau khi sanh 6 tháng, số

người còn liên lạc được và trả lời bảng phỏng

vấn posttest chỉ còn 189 người Kết quả ghi

nhận như sau:

Đánh giá sự hiểu biết về HIV trước và sau

khi tham gia chương trình PLTMC

Bảng 1: Đánh giá sự hiểu biết về HIV trước và sau

khi ĐTNC tham gia chương trình PLTMC

Hiểu biết về mẹ uống

ARV để PLTMC

159 (84,1%)

30 (15,9%)

189 0 Hiểu biết về con uống

ARV để PLTMC

176 (93,1%)

13 (6,9%)

189 0

Hiểu biết về cho con bú

sữa thay thế để PLTMC

160 (84,7%)

29 (15,3%)

189 0

Hiểu biết về dùng BCS

để phòng lây truyền

qua QHTD

114 (60,3%)

75 (39,7%)

179 (94,7%)

10 (5,3%)

Hiều biết về dùng BCS

để ngừa thai sau sanh

150 (79,4%)

39 (20,6%)

166 (87,8%)

23 (12,2%) Hiểu biết về các đường

lây truyền HIV

155 (78,7%)

42 (21,3%)

189 0

Hiểu biết về chương

trình PLTMC

148 (78,3%)

41 (21,7%)

189 0

Có 41,5% ĐTNC được chuyển từ nơi khác đến sanh tại BV Hùng Vương, số trường hợp này đã được tham vấn trước tại cơ sở nên sự hiểu biết về những vấn đề có liên quan đến HIV của họ hầu hết là chính xác Tuy nhiên, sau khi

đã tham gia chương trình PLTMC thì kết quả đánh giá về kiến thức và hành vi không có sự khác biệt giữa các nhóm bệnh nhân biết bị nhiễm trước khi có thai lần này, trong khi mang thai và khi chuyển dạ mới biết (P = 0,455) [Bảng 4] Lúc ban đầu có 21,7% ĐTNC không biết gì về chương trình PLTMC nhưng sau đó, 100% đã hiểu rõ về chương trình này Tất cả ĐTNC được hỏi ý kiến về chương trình PLTMC đều nhận thấy chương trình đã giúp ích cho bệnh nhân nhiễm HIV rất nhiều trong đó có một tác động

quan trọng như phát biểu sau đây: “…chương

trình giúp tôi hiểu rõ về căn bệnh này nên tôi tự tin hơn, sống vui vẻ hơn …”

Có 20 trường hợp được phỏng vấn sâu sau sanh 6 tháng Trong đó có 19 trường hợp PCR của con âm tính và 1 trường hợp PCR của con dương tính Hầu hết các bà mẹ nhiễm HIV hiện nay cũng đã lạc quan rất nhiều về căn bệnh của

mình Họ cho biết: “… trước đây không hiểu rõ về

HIV thì rất sợ vì nghe những thông tin là bệnh sẽ chết và không có thuốc chữa, tuy nhiên tôi có lên mạng đọc và xem TV , báo chí cũng đã có những thông tin khác hơn, nếu sống lành mạnh lạc quan và uống thuốc thì sẽ kéo dài cuộc sống nên tôi không còn buồn nữa và yên tâm sống lạc quan ” Ngay bà mẹ

có con dương tính tuy rất buồn về sự bất hạnh này nhưng không bi quan vì hiện nay cả hai vợ chồng đang điều trị ARV ở địa phương, vẫn làm việc bình thường, tuân thủ theo sự hướng dẫn của chương trình và một điều an ủi lớn đối với

họ là được sự chia xẻ giúp đỡ của người thân

trong gia đình “…vợ chồng tôi cố gắng giữ gìn sức

khỏe, sống vui vẻ để lo cho con, rất may là được ông

bà cùng ở chung nhà thương yêu, lo cho cháu…”

Đây cũng là một sự thay đổi lớn về mặt nhận thức, thái độ, hành vi của cộng đồng đối với căn bệnh thế kỷ này Khi không còn sự kỵ thị thì chuyển biến của HIV có thể sẽ đổi khác

Trang 6

Những kiến thức về vấn đề cho mẹ và con

uống ARV để dự phònglây truyền mẹ con

(LTMC) và không cho con bú mẹ thì trước khi

tham gia chương trình có trên 84% biết đúng về

các vấn đề này nhưng sau khi đã tham gia

chương trình thì 100% đã biết đúng Riêng có

một vấn đề về dùng BCS để phòng lây truyền

qua quan hệ tình dục ( QHTD) thì lúc đầu có

hơn 60% trả lời đúng, sau khi tham gia chương

trình thì tỷ lệ biết đúng tăng 94,7% và 5,3% còn

hiểu sai, thậm chí còn 1 trường hợp trả lời là để

phòng lây truyền họ không quan hệ tình dục

nữa ! Một thành công của giáo dục truyền thông

cho bệnh nhân là sau khi tham gia chương trình

100% đã biết rõ về các đường lây truyền HIV so

với trước đó có 21,3% không biết rõ về vấn đề

này [Bảng 1]

Theo một nghiên cứu về khảo sát kiến thức ,

thái độ, hành vi về HIV/AIDS và dự phòng lây

truyền HIV từ mẹ sang con của PNMT và phụ

nữ tuổi sinh đẻ tại Tp Hồ Chí Minh năm 2009

của Trương Trọng Hoàng và cs cũng cho thấy tỷ

lệ biết các biện pháp phòng ngừa trước và sau

can thiệp truyền thông khá cao (93% trước can

thiệp và 97% sau can thiệp)(4)

Đánh giá thái độ, hành vi liên quan đến

HIV trước và sau khi ĐTNC tham gia

chương trình PLTMC

Có sự khác biệt giữa thái độ và hành vi của

ĐTNC trước và sau khi tham gia chương

trình.PLTMC Chẳng hạn như vấn đề báo tin

cho chồng biết mình nhiễm HIV thì có 6 trường

hợp (3,2%) không đồng ý báo tin nhưng trên

thực tế thì có 7 trường hợp (3,7%) cương quyết

dấu và không vận động chồng làm xét nghiệm

HIV, nguyên nhân là vì họ sợ bị chồng bỏ mà họ

thì không thể tự lực về kinh tế, đặc biệt trong 7

người này có 1 đối tượng thuộc nhóm đồng

đẳng Người này có hiểu biết rất tốt, tham vấn

quyết không chịu cho con làm xét nghiệm Nghiên cứu của Jacqueline Rose Chinkonde thực hiện từ 1/7 đến 31/12/2005 ở Lilongwe (Malawi) (1) phỏng vấn sâu 28 bà mẹ nhiễm HIV trong đó 50% là nhóm có tái khám và 50% không tái khám sau 6 tháng , nhóm này được vãng gia để phỏng vấn Những người không tái khám đều có lý do là sợ lộ tình trạng nhiễm HIV của họ, sợ chồng ruồng bỏ.( điều này cũng tương tự như tình trạng của sản phụ dấu chồng trong nghiên cứu này) và có trường hợp người chồng không cho vợ đến tham gia chương trình

vì họ không tin kết quả của bệnh viện Trước khi tham gia chương trình, có 62 trường hợp (32,8%) không đồng ý dùng bao cao

su (BCS) để phòng lây truyền khi QHTD nhưng sau khi tham gia chương trình thì chỉ còn 12 trường hợp (6,4%) không đồng ý và thực tế có

13 trường hợp (6,9%) không dùng BCS khi QHTD Trong các trường hợp này đa số các ông chồng không chịu dùng BCS vì họ nghĩ rằng họ

đã nhiễm HIV rồi nên không cần phòng bệnh nữa mà người vợ không thể cãi lại như trong ý

kiến người vợ sau đây: “… chồng em không chịu

dùng bao vì anh ấy bảo cả hai vợ chồng đều đã mắc bệnh nên không cần phải dùng BCS, em không biết phải làm gì để chồng em đổi ý…” Điều này cũng

tương tự như nghiên cứu của Jacqueline Rose Chinkonde (1) Nghiên cứu này cho thấy một thái độ và hành vi của người vợ và người chồng

ở Malawi đối với việc dùng bao cao su khác hẳn Người chồng cho rằng đã nhiễm bệnh rồi thì trước sau gì cũng chết Vì thế không cần ngừa nữa Còn vợ ngại không dám cãi lời chồng

vì sợ mất hạnh phúc gia đình, một phần là trong

xã hội của các nước Phi Châu, sự bình đẳng giới không được tôn trọng

Bảng 2: Đánh giá thái độ liên quan đến HIV trước và

sau khi ĐTNC tham gia chương trình PLTMC

NỘI DUNG

Trang 7

Trước Sau NỘI DUNG

Đồng ý được cấp thẻ 188

(99,5%)

1 (0,5%) 188

(99,5%)

1 (0,5%) Đồng ý tuân thủ theo

qui định của chương

trình

186 (98,4%)

3 (1,6%) 186

(98,4%)

3 (1,6%)

Mẹ đồng ý đưa con

đến BV NĐ sau sanh

để xét nghiệm

Đồng ý cho con đi

chủng ngừa

Đồng ý vận động

chồng làm XN HIV

113 (59,8%)

76 (40,2%)

177 (93,6%)

12 (6,4%) Đồng ý cho con bú

sữa thay thế

Đồng ý dùng BCS để

ngừa phòng lây

truyền qua QHTD

127 (67,2%)

62 (32,8%)

177 (93,6%)

12 (6,4%) Chỉ có 35% ĐTNC tái khám theo đúng hẹn

Trong khi đó 65% cần được nhắc nhở mới đưa

con đi làm xét nghiệm PCR Ngoại trừ 4 trường

hợp mất dấu từ khi ra viện sau sanh và 1 trường

hợp cương quyết không cho con làm xét

nghiệm, tất cả các trường hợp còn lại đều đưa

con đi làm xét nghiệm [Bảng 3]

Tuy nhiên, đến thời điểm 6 tháng sau thì có

7 trường hợp không còn liên lạc được, nâng số mất dấu lên 5,5% Có thể là vì sau thời điểm này bệnh viện Hùng Vương không còn mối ràng buộc nào với họ nữa Còn hơn 95% ĐTNC vẫn quan hệ hợp tác với Bệnh viện trong điều kiện không còn những hỗ trợ tài chánh hay vật chất

là một thành công lớn của chương trình nếu so với tỷ lệ mất dấu trước đây khoảng 30% (5)

Bảng 3: Đánh giá Thực hành liên quan đến HIV

sau khi ĐTNC tham gia chương trình PLTMC

Báo tin mình bị nhiễm HIV 182 (96,3%) 7 (3,7%)

Nhận thẻ 188 (99,5%) 1 (0,5%) Tái khám đúng hẹn 66 (35%) 123 (65%)

Mẹ đưa con đến BV NĐ sau sanh để xét nghiệm

188 (99,5%) 1 (0,5%) Cho con đi chủng ngừa 189 0 Chồng làm XN HIV 171 (90,5%) 18 (9,5%) Cho con bú sữa thay thế 189 0

Mẹ Có uống ARV 181 (95,8%) 8 (4,2%) Dùng BCS để phòng lây truyền

qua QHTD

176 (93,1%) 13 (6,9%)

Đánh giá chung sự thay đổi về kiến thức và hành vi của ĐTNC

Bảng 4: Đánh giá sự thay đổi về kiến thức và hành vi của đối tượng nghiên cứu

Kết quả đánh giá

Trước khi có thai (Nhóm 1) 80 (80,8%) 3 (3%) 1 (1%) 12 12,1% ) 3 (3%) 99 Khi khám thai (Nhóm 2) 59 (82%) 1 (1,4%) 1 (1,4%) 7 (1,4%) 4 (5,6%) 72 Khi chuyển dạ (Nhóm 3) 23 (79,3%) 1 (3,4%) 0 1 (3,4%) 4 (13,8%) 29 Tổng cộng 162/189

(85,7%)

5/189 (2,6%)

2/189 (1,1%)

20/189 (10,6%)

11 (5,5%)

200

(Fisher hiệu chỉnh ) P = 0,455 (Tỷ lệ % tính theo hang)

Đa số ĐTNC (85,7%) được đánh giá là có

sự thay đổi về kiến thức và hành vi tốt Đánh

giá có sự chuyển biến khá là 2,6%, trung bình

là 1,1% và có 10,6% xếp loại kém là những đối

tượng không thông báo tình trạng bị nhiễm

HIV cho chồng biết , không cho con làm xét

nghiệm PCR , không dùng BCS khi QHTD dù

điểm đạt không phải là kém Đặc biệt là 76

ĐTNC (38%) làm tốt việc vận động chồng làm

xét nghiệm HIV, qua đó phát hiện được 41/76

(55,2%) dương tính và 34/76 (44,8%) âm tính

nhóm biết nhiễm HIV khi có thai có chuyển biến tốt nhiều nhất (82%), kế tiếp là nhóm biết nhiễm trước khi thai (80,8%) và cuối cùng là nhóm chỉ mới biết nhiễm HIV khi chuyển dạ (79,3%) Tuy nhiên, sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê (P=0,455) Điều này có thể là

do nhóm thứ 3 ít có thời gian để được tham vấn kỹ so với 2 nhóm 1 và 2 cũng như số mất dấu nhiều nhất thuộc nhóm 3 (13,8%) so với 2 nhóm kia (3% và 5,6%) Có một điểm đáng lưu ý là số ĐTNC biết nhiễm trước khi có thai được đánh giá kém chiếm tỷ lệ rất cao (12,1%)

Trang 8

Có 3 người đã biết nhiễm HIV nhưng không

chịu uống ARV sớm mà chờ đến lúc chuyển

dạ mới uống Lý do là họ muốn dấu chồng

Những đối tượng này sau khi vào chương

trình, được tư vấn và vận động tích cực thì họ

mới báo cho chồng biết và vận động chồng

làm xét nghiệm Chỉ khi làm xét nghiệm lúc

chuyển dạ cho biết họ nhiễm HIV thì họ mới

bộc lộ tình trạng nhiễm bệnh của mình cho

CB y tế biết Chính sự dấu diếm này đã làm

tăng số trường hợp nhiễm mới trong báo cáo

thống kê Như vậy, sự hiểu biết nhiều vẫn

chưa hẳn giúp người ta sửa đổi hành vi cho

đúng

Tất cả những người được phỏng vấn đều

biểu lộ thái độ lạc quan và đánh giá chương

trình đã đem lại niềm tin và sự hiểu biết thấu

đáo về căn bệnh của họ nên họ không cảm

thấy chán đời, họ tin rằng họ có thể sống lâu

nếu họ biết tổ chức cuộc sống lành mạnh Họ

đã phát biểu “….Chương trình PLTMC đã rất có

ích và rất tốt vì vậy, tôi tuân thủ uống thuốc đầy

đủ theo những hướng dẫn của các cô phụ trách

chương trình…” Đây là thành công lớn của

chương trình PLTMC tại Tp Hồ chí Minh

KẾT LUẬN

Tỷ lệ đối tượng nghiên cứu sau khi tham

gia chương trình phòng ngừa lây truyền

HIV/AIDS từ mẹ sang con tại bệnh viện Hùng Vương được đánh giá là có sự thay đổi về kiến thức và hành vi tốt là 85,7% (KTC 95%: 0,74-0,86) Xếp loại khá là 2,6%, trung bình là 1,1% Đánh giá kém có 10,6% (KTC 95%: 0,06 – 0,15) là những người có hiểu biết nhưng

không thực hành theo sự hiểu biết

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Chinkonde JR, Sundby J, Martinson F (2009) “The

programme in Lilongwe.Malawi: Why do so many women drop out” Reproductive Health Matters 2009; 17(33):

143-151

2 Joint United Nations Programme on HIV/AIDS ( 2009) AIDS epidemic update

3 Palella FJ, Delaney KM, Moorman AC, Loveless MO, Fuhrer J,

Satten GA, Aschman DJ and Holmberg SD (1998) "Declining

morbidity and mortality among patients with advanced human

immunodeficiency virus infection" N Engl J Med 338 (13):

853–860

4 Trương Trọng Hoàng, Lê thị Kim Phượng Phạm thị Hải

Ly, Nguyễn thị Kim Chi, Lê Trường Giang (2010) “Khảo sát kiến thức , thái độ, hành vi về HIV/AIDS và dự phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con của PNMT và phụ nữ tuổi sinh

đẻ tại Tp Hồ Chí Minh năm 2009” Các công trình nghiên cứu khoa học về HIV/AIDS giai đoạn 2006-2010, Y học thực hành số 742+743 Tháng 12/2010 Tr 231-234

5 Vũ Thị Nhung (2010) “Đánh giá tình hình phụ nữ mang thai nhiễm HIV tại Bệnh viện Hùng Vương 2005-2008” Các công trình nghiên cứu khoa học về HIV/AIDS giai đoạn 2006-2010, Y học thực hành số 742+743 Tháng 12/2010 Tr

377- 380

Ngày đăng: 19/01/2020, 19:47

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w