1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Vai trò của chụp cắt lớp vi tính đa lát cắt (msct) trong phẫu thuật tái tạo vú bằng vạt da nhánh xuyên động mạch thượng vị dưới sâu: Những kinh nghiệm ban đầu

6 88 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 478,32 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nội dung của bài viết trình bày về sử dụng vạt da nhánh xuyên động mạch thượng vị dưới sâu để tái tạo vú gần 20 năm, chỉ ra những lợi ích của chụp cắt lớp vi tính đa lát cắt trong việc chuẩn bị cho phẫu thuật tái tạo vú bằng vạt da nhánh xuyên động mạch thượng vị dưới sâu qua những kinh nghiệm ban đầu.

Trang 1

TRONG PHẪU THUẬT TÁI TẠO VÚ BẰNG VẠT DA NHÁNH XUYÊN 

ĐỘNG MẠCH THƯỢNG VỊ DƯỚI SÂU: 

 NHỮNG KINH NGHIỆM BAN ĐẦU 

Nguyễn Văn Phùng*, Nguyễn Anh Tuấn*, Cao Thị Thu Hằng* 

TÓM TẮT 

Mở đầu: Vạt da nhánh xuyên động mạch thượng vị dưới sâu đã được sử dụng để tái tạo vú gần 20 năm. 

Việc sử dụng vạt da nhánh xuyên động mạch thượng vị dưới sâu đòi hỏi xác định chính xác vị trí và đánh giá  các đặc điểm của các nhánh xuyên trước mổ.  

Mục  tiêu: Mục tiêu của báo cáo này là chỉ ra những lợi ích của chụp cắt lớp vi tính đa lát cắt trong việc 

chuẩn bị cho phẫu thuật tái tạo vú bằng vạt da nhánh xuyên động mạch thượng vị dưới sâu qua những kinh  nghiệm ban đầu. 

Đối tượng ‐ phương pháp: Năm bệnh nhân được tái tạo vú trì hoãn bằng vạt da nhánh xuyên động mạch 

thượng vị dưới sâu sau điều trị ung thư vú. Tiến hành chụp cắt lớp vi tính đa lát cắt trước mổ để xác định vị trí 

và các tính chất của nhánh xuyên. Các hình ảnh sẽ được phân tích, tìm mối tương quan giữa chụp cắt lớp vi tính 

đa lát cắt và phẫu thuật.  

Kết quả: Các nhánh xuyên trội được xác định chính xác trên các hình ảnh của chụp cắt lớp vi tính đa lát cắt 

ở tất cả các bệnh nhân và phù hợp với ghi nhận trong lúc mổ. Không có trường hợp nào nhánh xuyên trội phát  hiện trong mổ mà không được ghi nhận trên chụp cắt lớp vi tính đa lát cắt. Ngoài ra một số nhánh xuyên có kích  thước nhỏ ghi nhận trong lúc mổ cũng được quan sát trên chụp cắt lớp vi tính đa lát cắt. 

Kết luận: Khảo sát các nhánh xuyên trước mổ bằng chụp cắt lớp vi tính đa lát cắt là có tính khả thi ở các 

bệnh nhân tái táo vú. Đây là một kỹ thuật không xâm lấn để khảo sát hệ thống mạch máu và toàn bộ thành bụng  trước. Tuy nhiên, cần phải tiếp tục đánh giá với số lượng bệnh nhân lớn hơn để làm rõ các lợi ích mà kỹ thuật  này mang lại.  

Từ khoá: chụp cắt lớp vi tính đa lát cắt, tái tạo vú, vạt nhánh xuyên động mạch thượng vị dưới sâu 

ABSTRACT 

THE ROLE OF MULTISLICE ‐ CT ANGIOGRAPHY FORBREAST RECONSTRUCTION  

WITH DEEP INFERIOR EPIGASTRIC ARTERIAL PERFORATOR FLAPS: 

 INITIAL EXPERIENCES APPLICATION 

Nguyen Van Phung, Nguyen Anh Tuan, Cao Thi Thu Hang 

* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 18 ‐ Supplement of No 1 ‐ 2014: 297 ‐ 302 

Background  ‐  objectives:  The  deep  inferior  epigastric  perforator  (DIEP)  flaps  nearly  20  years. 

Reconstruction with deep inferior epigastric perforator (DIEP) flaps requires a precise location and preoperative  evaluation  of  perforating  vessels.  The  objective  of  this  report  is  to  demonstrate  the  usefulness  of  multislice‐CT  (MSCT) angiography for preoperative planning in patients undergoing DIEP flap reconstruction with initials  experiences. 

Methods:  Five  patients  were  considered  for  delayed  breast  reconstruction  with  DIEP  flaps  after  previous 

mastectomy for breast cancer. Preoperative MSCT angiography was performed to localise the arterial perforators. 

Trang 2

Axial  images,  maximum  intensity  projection  (MIP)  reconstructions  were  analysed.  Findings  were  correlated  with surgery. Initial experiences will be described. 

Results:  Accurate  identification  of  the  main  perforators  was  achieved  in  all  six  patients  with  a  very 

satisfactory concordance between MSCT angiography and surgical findings. No unreported vessels were found.  The small perforators were equally evaluated and described. 

Conclusions: Preoperative evaluation of perforator arteries with MSCT angiography is feasible in patients 

undergoing  breast  reconstruction.  This  technique  provides  a  noninvasive  global  approach  of  the  vascular  anatomy and the entire anterior abdominal wall. However, more patients need to be evaluated in order to clarify  the potential aspects pointed in this report. 

Key words: MSCT, Deep inferior epigastric perforator (DIEP) flap, breast reconstruction. 

MỞ ĐẦU 

Ung  thư  vú  là  một  trong  những  ung  thư 

thường gặp ở nữ giới. Mỗi năm theo ước tính có 

hơn  200  nghìn  trường  hợp  ung  thư  vú  được 

phát hiện tại Mỹ và trong 8 phụ nữ thì sẽ có một 

phụ  nữ  hoặc  có  hoặc  sẽ  phát  hiện  ung  thư  vú 

trong cuộc đời của mình. 

Việc  tái  tạo  vú  sau  phẫu  thuật  cắt  bỏ  ung 

thư  vú  là  một  nhu  cầu  chính  đáng  và  được 

xem  như  là  một  giai  đoạn  để  hoàn  thiện  quá 

trình  điều  trị  ung  thư  vú.  Tái  tạo  vú  sẽ  giúp 

phụ  nữ  lấy  lại  được  sự  tự  tin,  nâng  cao  được 

chất  lượng  cuộc  sống,  giúp  bệnh  nhân  hoà 

nhập tốt vào cộng đồng. 

Trong  các  phương  pháp  tái  tạo  vú,  thì  việc 

sử dụng vật liệu tự thân từ các vạt vùng bụng là 

một trong những sự lựa chọn lý tưởng cho việc 

tái  tạo  vú  sau  phẫu  thuật  cắt  bỏ  ung  thư  vú  vì 

khối lượng, các đặc điểm và chất lượng mô mà 

vạt vùng bụng đem lại, sẹo ở vi trí dễ dấu, đồng 

thời mang lại kết quả thẩm mỹ cho vùng bụng. 

Các  vạt  vùng  bụng  dùng  trong  tái  tạo  vú  bao 

gồm  vạt  da  cơ  thẳng  bụng,  vạt  da  cân  nhánh 

xuyên  động  mạch  thượng  vị  dưới  sâu  (Deep 

inferior epigastric perforator: DIEP). Vạt da ‐ cơ 

thẳng bụng có cuống trở thành tiêu chuẩn vàng 

trong tái tạo vú trong những năm của thập niên 

1980, sau đó vạt da ‐ cơ thẳng bụng tự do đem 

lại sự hoàn thiện về kết quả hơn nhờ vào sự tưới 

máu tốt và nơi cho vạt ít bị tổn thương hơn. Tuy 

nhiên  việc  sử  dụng  vạt  da  ‐  cơ  thẳng  bụng  sẽ 

làm tổn thương cơ, thành bụng sẽ yếu đi và có 

nguy cơ thoát vị thành bụng, phình thành bụng, 

mất cân xứng thành bụng. Vì vậy sự ra đời của  vạt  da  cân  nhánh  xuyên  động  mạch  thượng  vị  dưới sâu sẽ giúp khắc phục được các điểm yếu 

đó và đã dần dần thay thế cho vạt da cơ thẳng  bụng  trong  tái  tạo  vú.  Ngoài  việc  mang  lại  các  lợi thế của vạt da ‐ cơ thẳng bụng, vạt da ‐ cân  nhánh  xuyên  động  mạch  thượng  vị  dưới  sâu  còn có ưu điểm là giảm đau sau mổ và thời gian  phục hồi ngắn. Tuy vậy, việc sử dụng vạt nhánh  xuyên động mạch thượng vị dưới sâu trong tái  tạo vú đòi hỏi phải mất nhiều thời gian hơn cho  việc  phẫu  tích  nhánh  xuyên  chủ  yếu  do  sự  bất  thường trong phân bố giải phẫu giữa người này  với  người  khác,  thậm  chí  giữa  bên  này  và  bên  khác trên cùng một cơ thể. Vì vậy, việc xác định 

vị  trí  chính  xác  và  đánh  giá  các  nhánh  xuyên  trước  mổ  trên  mỗi  bệnh  nhân  là  điều  rất  cần  thiết. Trong các kỹ thuật khảo sát hình ảnh mạch  máu gần đây nhất, chụp cắt lớp vi tính đa lát cắt  (multislice‐CT:  MSCT)  đã  được  nhiều  tác  giả  xem  như  là  một  kỹ  thuật  ít  xâm  lấn  được  lựa  chọn để khảo sát các nhánh xuyên trước mổ.   Mục tiêu của báo cáo này là giới thiệu những  lợi  ích  của  việc  khảo  sát  nhánh  xuyên  với  kỹ  thuật  chụp  cắt  lớp  vi  tính  đa  lát  cắt  trong  việc  chuẩn  bị  cho  phẫu  thuật  tái  tạo  vú  bằng  vạt  nhánh  xuyên  động  mạch  thượng  vị  dưới  sâu  qua những kinh nghiệm ban đầu. 

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP 

Từ  tháng  12/2011  đến  tháng  09/2013,  5  bệnh  nhân  có  độ  tuổi  từ  42  đến  64  tuổi  đã  được  tái  tạo  vú  bằng  vạt  nhánh  xuyên  động  mạch  thượng  vị  dưới  sâu  sau  phẫu  thuật  cắt 

Trang 3

đều là tái tạo vú trì hoãn sau phẫu thuật điều 

trị ung thư vú từ 2 đến 10 năm. 

Sau khi bệnh nhân được khám và tư vấn về 

tái  tạo  vú  bằng  vạt  nhánh  xuyên  động  mạch 

thượng vị dưới sâu, việc chụp mạch máu cắt lớp 

vi tính đa lắt cắt sẽ được thực hiện để khảo sát 

mạch máu trước mổ với máy MSCT Aquilon 640 

của  hãng  Toshiba,  Nhật  với  các  thông  số  được 

mô tả trong bảng 1. Chụp MSCT được tiến hành 

sau khi bơm 1,5 ml/ kg cân nặng chất cản quang 

ultravist  300  với  tốc  độ  4  ml/giây.  Hình  ảnh 

được  tái  tạo  bằng  kỹ  thuật  MIP  (Maximum 

Intensity Projection) sử dụng phần mềm Vitrea. 

Tiến hành khảo sát vị trí, nguồn gốc, hành trình 

và cả những thay đổi về giải phẫu của các nhánh 

xuyên và động mạch thượng vị dưới sâu.  

Nhánh xuyên có đường kính lớn nhất (thông 

số được đánh giá trong khi tái tạo MIP) và có các 

đặc điểm để dự đoán là sẽ dễ dàng khi phẫu tích 

(hướng  đi,  hành  trình  trong  cơ…)  sẽ  được  ghi 

nhận và đánh dấu trên bệnh nhân (khoảng cách 

so  với  trục  X,  Y  gốc  O  là  rốn).  Vị  trí  của  các  nhánh xuyên và nhánh xuyên trội nhất sẽ được  đánh dấu khi thiết kế vạt trước mổ. 

Bảng 1: Các thông số chụp MSCT 

Giới hạn Từ trên xương đòn đến khớp mu

Chuẩn trực 1mm kVp 120 mAs 125

Tốc độ quay 0,5 giây Tốc độ bàn 5mm/vòng quay Tái tạo 0,3 - 0,5 mm Thuốc cản quang

KẾT QUẢ 

Các nhánh xuyên trội được xác định chính  xác  trên  các  hình  ảnh  của  MSCT  ở  tất  cả  các  bệnh nhân và phù hợp với ghi nhận trong lúc 

mổ.  Không  có  trường  hợp  nào  nhánh  xuyên  trội  phát  hiện  trong  mổ  mà  không  được  ghi  nhận trên MSCT.  

Bảng 1: Sự tương quan giữa MSCT và phẫu thuật 

Bệnh nhân Số NX được chọn

trước mổ

Cách thức NX xuyên cân Thay đổi giải phẫu Tương quan giữa

MSCT và phẫu thuật

Hình 1: Sự tương quan giữa vị trí các nhánh xuyên trên MSCT và trong lúc phẫu thuật 

Trang 4

giá  trên  MSCT  cũng  sát  với  thực  tế  trong  quá 

trình  phẫu  tích  các  nhánh  xuyên.  Ngoài  các 

nhánh xuyên chính, một số nhánh xuyên có kích 

thước  nhỏ  ghi  nhận  trong  lúc  mổ  cũng  được 

quan sát trên MSCT. Trên 5 bệnh nhân, số lượng 

nhánh  xuyên  có  đường  kính  ≥  0,5  mm  là  42 

nhánh  xuyên,  trung  bình  4,2  nhánh  xuyên  /  1 

động  mạch  thượng  vị  dưới  sâu  (khảo  sát  các 

nhánh xuyên dưới rốn). Đường kính trung bình 

của các nhánh xuyên là  0,78  ±  0,12  mm.  Ở  mỗi 

động mạch thượng vị dưới sâu chúng tôi chọn 

1  nhánh  xuyên  trội  nhất,  đường  kính  trung 

bình của các nhánh xuyên trội nhất trên 5 bệnh 

nhân  được  khảo  sát  là  1,0  ±  0,1  mm.  Nếu  lấy 

rốn  là  điểm  gốc  O  của  hệ  trục  XY  thì  khoảng 

cách trung bình từ nhánh xuyên trội nhất đến 

trục  X  là  19,3  ±  6,5  mm,  trục  Y  là  23,8  ±  10,3 

mm.  

BÀN LUẬN 

Các vạt da vùng bụng là nguồn cung cấp vật 

liệu thay thế dồi dào trong phẫu thuật tạo hình 

với  đặc  tính  là  mẫu  mô  có  chất  lượng,  khối 

lượng mô lớn và mật độ mô khá mềm mại. Đặc 

biệt đối với các bệnh nhân ung thư vú thường ở 

độ  tuổi  có  sự  dư  thừa  da  và  mỡ  vùng  thành 

bụng nên các vạt da vùng bụng trở thành nguồn 

cung cấp vật liệu lý tưởng trong tái tạo vú. Việc 

sử dụng các vạt da vùng bụng dựa trên nguồn 

cấp máu là các nhánh xuyên thay vì sử dụng vạt 

da – cơ như vạt da – cơ thẳng bụng đã trở thành 

xu  hướng  phổ  biến  trong  vài  thập  niên  trở  lại 

đây với ưu điểm nổi bật là giảm tổn thương tối 

thiểu nơi cho vạt(1,2,4)..  

Việc  xác  định  vị  trí,  đặc  điểm  của  các 

nhánh  xuyên  trội  trước  mổ  sẽ  giúp  cho  việc 

phẫu  tích  nhánh  xuyên  được  dễ  dàng  hơn, 

tránh  được  việc  phẫu  tích  các  nhánh  xuyên 

không  cần  thiết,  làm  giảm  được  các  biến 

chứng, giúp cho quá trình lấy vạt được nhanh 

và an toàn hơn. Như vậy việc đánh giá các đặc 

điểm  của  nhánh  xuyên  trội  như:  nguyên  uỷ, 

hành  trình,  sự  thay  đổi  về  giải  phẫu  nếu  có 

trước khi phẫu tích vạt là điều cần thiết(5,6,8). 

 

Hình 2: Xác định vị trí của nhánh xuyên trội nhất so 

với trục XY gốc là rốn 

Có  nhiều  kỹ  thuật  không  xâm  lấn  để  đánh  giá  các  đặc  điểm  này  của  các  nhánh  xuyên  đã  được  đề  xuất  như:  siêu  âm  Doppler,  chụp  cắt  lớp vi tính đa lát cắt (MSCT), chụp cộng hưởng 

từ hạt nhân (MRI). Nhiều tác giả đã khuyến cáo  việc  dùng  siêu  âm  dopper  để  khảo  sát  nhánh  xuyên trước mổ. Tuy nhiên một số tác giả khác  như  Bloondel,  Giunta  mới  đây  đã  công  bố  các  nghiên cứu cho thấy có tỉ tệ dương tính giả cao  khi  dùng  siêu  âm  Doppler  để  khảo  sát  nhánh  xuyên.  Theo  Giunta,  Bloondel  siêu  âm  Doppler  không chỉ phát hiện đơn thuần các nhánh xuyên  phù hợp cho việc sử dụng vạt nhánh xuyên mà  còn  phát  hiện  cách  nhánh  không  phù  hợp  với  kích thước nhỏ, vì vậy khi siêu âm phát hiện các  nhánh  xuyên  cũng  chưa  thể  xác  định  nhánh  xuyên  đó  có  thể  sử  dụng  cho  vạt  DIEP  hay  không?  Các  tác  giả  này  cũng  đã  chỉ  ra  những  nhược điểm khác của siêu âm Doppler như: phụ  thuộc vào người thực hiện, thiếu thói quen đánh  giá trong lúc mổ của phẫu thuật viên(2,3). 

Chụp  cắt  lớp  vi  tính  đa  lát  cắt  trong  khảo  sát  mạch  máu  chuẩn  bị  cho  tái  tạo  vú  bằng  DIEP  được  Masia  và  công  sự  giới  thiệu  vào  năm  2006,  tiện  ích  của  MSCT  không  chỉ  xác  định  vị  trí  của  các  nhánh  xuyên  mà  còn  cho  thấy hành trình của động mạch thượng vị dưới  sâu và các nhánh xuyên. 

Trang 5

Hình 3: Hình ảnh DIEA trên MSCT 

Hiện tại MSCT đã trở thành sự lựa chọn của 

nhiều  trung  tâm  trong  việc  khảo  sát  các  nhánh 

xuyên  trước  mổ.  Với  độ  phân  giải  cao,  chụp 

MSCT mạch máu cho phép mô tả chính xác  về 

nguồn gốc, hành trình và liên quan của các mạch 

máu  nhỏ,  cụ  thể  ở  đây  là  các  nhánh  xuyên.  Ở 

Việt Nam chưa có báo cáo nào về việc sử dụng 

MSCT trong việc đánh giá các nhánh xuyên nói 

chung  và  các  nhánh  xuyên  của  động  mạch 

thượng  vị  dưới  sâu  để  lập  kế  hoạch  trước  mổ. 

Đây  là  báo  cáo  đầu  tiên,  nhằm  mục  đích  giới 

thiệu  vai  trò  hữu  ích  của  MSCT  trong  việc  xác 

định các nhánh xuyên trước mổ qua những kinh 

nghiệm ban đầu của chúng tôi. Kỹ thuật này đã 

được  chúng  tôi  áp  dụng  trên  5  bệnh  nhân  đầu 

tiên và nhận thấy rằng nó rất hữu ích trong việc 

xác định vị trí các nhánh xuyên, đồng thời cho ta 

nhìn  một  cách  tổng  thể  không  chỉ  hệ  thống 

mạch máu mà cả cấu trúc của thành bụng trước. 

Các  đặc  điểm  của  các  nhánh  xuyên  như  vị  trí, 

kích thước, hướng đi có thể xác định khi tái tạo 

bằng kỹ thuật MIP. Thông qua các đặc điểm ghi 

nhận  được  để  lựa  chọn  nhánh  xuyên  trội  nhất. 

Ngoài  ra,  qua  kết  quả  của  MSCT  cũng  giúp  tư 

vấn  cho  bệnh  nhân  khả  năng  có  thể  chuyển  từ 

DIEP  sang  TRAM  tiết  kiệm  cơ  trong  lúc  phẫu 

thuật.  Bên  cạnh  các  lợi  ích  đã  ghi  nhận,  cũng 

như các trường hợp chụp cắt lớp vi tính có tiêm 

chất cản quang khác, hạn chế của kỹ thuật này 

đó là ảnh hưởng của tia X và chất cản quang(5,7). 

 

Hình 4: Đo đường kính nhánh xuyên trên MSCT 

Qua kinh nghiệm trên 5 bệnh nhân ban đầu  dùng MSCT để đánh giá nhánh xuyên của động  mạch  thượng  vị  dưới  sâu  trước  mổ,  chúng  tôi  thấy rằng đây là một phương pháp có tính khả  thi  trong  tái  tạo  vú,  các  đặc  điểm  của  nhánh  xuyên có thể được khảo sát trên các hình ảnh mà  MSCT đem lại, phẫu thuật viên có thể dựa vào  các hình ảnh thu được để lập kế hoạch cho phẫu  thuật, chọn lựa nhánh xuyên trội thích hợp, giúp  cho việc lấy vạt được nhanh chóng và thuận lợi  hơn, giúp giảm thời gian phẫu thuât, giảm được  các tổn thương có thể tránh ở nơi cho vạt. MSCT  mang  lại  sự  áp  dụng  hiệu  quả  đầy  hứa  hẹn  trong  việc  khảo  sát  các  nhánh  xuyên  lập  kế  hoạch  cho  cuộc  mổ.  Tuy  nhiên  số  lượng  bệnh  nhân còn có hạn nên cần tiếp tục đánh giá với số  lượng bệnh nhân lớn hơn. 

TÀI LIỆU THAM KHẢO 

1 Allen RJ, Treece P (1994). Deep inferior epigastric perforator  flap for breast reconstruction. Ann Plast Surg, 32: 32–8. 

2 Blondeel  PN,  Beyens  G,  Verhaege  R,  et  al  (1998).  Doppler  flowmetry in the planning of perforator flaps. Br J Plast Surg,  51:202. 

3 Giunta  RE,  Geisweid  A,  Feller  AM  (2000).  The  value  of  preoperative  doppler  sonography  for  planning  free  perforator flaps. Plast Reconstr Surg, 105:2381–6. 

4 Koshima I, Soeda S (1989). Inferior epigastric artery skin flaps  without rectus abdominis muscle. Br J Plast Surg, 42: 645–8. 

5 Mathes  DW,  Neligan  PC  (2010).  Preoperative  imaging  techniques  for  perforator  selection  in  abdomen‐based  microsurgical breast reconstruction. Clin Plast Surg, 37(4):  581‐91. 

6 Pacifico MD, See MS, Cavale N, Collyer J, Francis I, Jones ME,  Hazari  A,  Boorman  JG,  Smith  RW  (2009).  Preoperative  planning  for DIEP breast  reconstruction:  early  experience  of 

Trang 6

the  use  of  computerised  tomography  angiography  with 

VoNavix  3D  software  for  perforator  navigation.  J  Plast 

Reconstr Aesthet Surg, 62(11): 1464‐9. 

7 Rozen  WM,  Phillips  TJ,  Ashton  MW,  Stella  DL,  Gibson  RN, 

Taylor  GI  (2008).  Preoperative  imaging  for  DIEA 

perforatorflaps:  a  comparative  study  of  computed 

tomographic  angiography  and  doppler  ultrasound.  Plast 

Reconstr Surg, 121(1Suppl): 1‐8. 

8 Smit  JM,  Dimopoulou  A,  Liss  AG,  Zeebregts  CJ,  Kildal  M, 

Whitaker IS, Magnusson A, Acosta R(2009). Preoperative CT 

angiography  reduces  surgery  time  in  perforator  flap  reconstruction. J Plast Reconstr Aesthet Surg, 62(9): 1112‐7. 

  Ngày nhận bài báo: 14/11/2013  Ngày phản biện nhận xét bài báo: 22/11/2013  Ngày bài báo được đăng: 05/01/2014 

 

Ngày đăng: 19/01/2020, 19:25

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w