1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Phẫu thuật nối bạch mạch ‐ tiểu tĩnh mạch trong điều trị phù bạch mạch ở bệnh nhân ung thư vú: Một số nhận xét ban đầu

5 67 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 371,03 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nội dung của bài viết trình bày về những khó khăn và thách thức trong việc điều trị phù bạch mạch, phẫu thuật nối bắc cầu bạch mạch ‐ tĩnh mạch cho phù bạch mạch thứ phát bằng cách giải quyết sự ứ đọng của bạch huyết qua miệng nối bắc cầu bạch mạch ‐ tĩnh mạch.  

Trang 1

TRONG ĐIỀU TRỊ PHÙ BẠCH MẠCH Ở BỆNH NHÂN UNG THƯ VÚ: 

MỘT SỐ NHẬN XÉT BAN ĐẦU 

Nguyễn Văn Phùng*, Nguyễn Anh Tuấn*, Vũ Hữu Thịnh*, Cái Hữu Ngọc Thảo Trang* 

TÓM TẮT 

Mở  đầu:  Việc điều trị phù bạch mạch vẫn còn là vấn đề khó khăn và thách thức. Phẫu thuật nối bắc cầu 

bạch mạch ‐ tĩnh mạch đã được sử dụng rộng rãi như là điều trị ngoại khoa cho phù bạch mạch thứ phát, bằng  cách giải quyết sự ứ đọng của bạch huyết qua miệng nối bắc cầu bạch mạch ‐ tĩnh mạch.  

Mục tiêu: Mục tiêu của báo cáo này là đưa ra một số nhận xét ban đầu về phẫu thuật nối bắc cầu bạch mạch 

‐ tiểu tĩnh mạch trong điều trị phù bạch mạch của chi trên ở bệnh nhân ung thư vú. 

Đối tượng và phương pháp: Gồm 3 bệnh nhân phù bạch mạch chi trên sau điều trị ung thư vú được phẫu 

thuật nối bắc cầu bạch mạch ‐ tiểu tĩnh mạch bằng kỹ thuật “siêu vi phẫu”. 

Kết quả: Số miệng nối trung bình là 3,3 (2‐5 miệng nối), kích thước của bạch mạch từ 0,3 ‐ 0,8 mm. Thời 

gian phẫu thuật trung bình là 4,5 giờ (3,5 ‐ 5 giờ). Tất cả bệnh nhân xuất viện dưới 12 giờ sau phẫu thuật. Cả 3  bệnh nhân đều cảm thấy cải thiện ngay sau phẫu thuật. Sự khác biệt về chu vi của tay phù sau mổ 1 tháng giảm  20% và 3 tháng giảm 25%. Không có trường hợp nào ghi nhận biến chứng sau phẫu thuật hoặc tình trạng phù  gia tăng. 

Kết  luận:  Phẫu thuật nối bắc cầu bạch mạch ‐ tiểu tĩnh mạch có thể làm giảm một cách hiệu quả mực độ 

trầm trọng của phù bạch mạch ở bệnh nhân ung thư vú. Tuy nhiên cần được đánh giá với số lượng bệnh nhân  nhiều hơn và theo dõi lâu dài hơn. 

Từ khoá: phù bạch mạch, nối bạch mạch ‐ tĩnh mạch 

ABSTRACT 

LYMPHATICOVENULAR BYPASS FOR LYMPHEDEMA MANAGEMENT 

 IN BREAST CANCER PATIENTS: SOME PRELIMINARY REMARKS 

Nguyen Van Phung, Nguyen Anh Tuan, Vu Huu Thinh, Cai Huu Ngoc Thao Trang 

* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 18 ‐ Supplement of No 1 ‐ 2014: 292 ‐ 296 

Background ‐ objectives: The treatment of lymphedema is difficult and challenging problem. Lymphatico‐

venous anastomosis (LVA) is widely used as surgical treatment for secondary lymphedema, with resolution of  lymph  retention  by  formation  of  a  venous‐lymphatic  bypass.The  purpose  ofthis  report  was  to  provide  some  preliminary remarks of lymphaticovenular bypass for the treatment of upper limb lymphedema in breast cancer  patients. 

Methods:  Three  patients  with  upper  extremity  lymphedema  secondary  to  treatment  of  breast  cancer 

underwent  lymphaticovenular  bypass  using  a  “supermicrosurgical”  approach.  Evaluation  included  qualitative  assessment and quantitative volumetric analysis before surgery and at 1 month, 3 months after the procedure. 

Results: The mean number of bypasses performed per patient was 3.3 (range, two to five) and the size of 

bypasses ranged from 0.3 to 0.8 mm. The mean operative time was 4.5 hours (range, 3.5 to 5 hours). Hospital  stay was less than 12 hours for all patients. All patients reported symptomimprovement following surgery. The 

* Bộ môn TH‐TM ĐHYD TP HCM  

Trang 2

mean volume differential reduction was 20 percent at 1 month, 25 percent at 3 months. No patients experienced  postoperative complications or lymphedema exacerbation. 

Conclusions: Lymphaticovenular bypass may effectively reduce the severity of lymphedema in breast cancer 

patients. More patients need to be evaluated and long‐term analysis is needed. 

Key words: lymphederma, lymphatico‐venous anastomosis 

MỞ ĐẦU 

Hệ thống bạch huyết giúp loại bỏ lượng dịch 

thừa  từ  các  mô,  hấp  thụ  axít  béo,  vận  chuyển 

chất béo cho hệ tuần hoàn, giúp các tế bào miễn 

dịch trưởng thành, và cũng là con đường cho các 

tế bào ung thư di căn. Phù bạch mạch xảy ra khi 

có  sự  quá  tải về chức  năng  của  hệ  thống  bạch 

huyết, khi đó thể tích dịch bạch huyết vượt quá 

khả  năng vận  chuyển  của  hệ  thống  bạch  mạch. 

Sự tích tụ các chất đại phân tử trong mô kẻ làm 

tăng  áplực  thẩm  thấu  trong  tổ  chức  gây  phù. 

Sưng nề dai dẳng và protein tích tụ dẫn đến xơ 

hóa  và tạo  ra  một  môi  trường  tốt  cho  các  đợt 

viêm tế bào và mạch bạch huyết lặp đi lặp lại. Vì 

các bạch mạch bị giãn nên các valve bị mất chức 

năng làm tăng ứ đọng dịch. 

Phù  bạch  mạch  là  bệnh  lý  phổ  biến,  ảnh 

hưởng  lên  đến  250  triệu  trường  hợp  trên  toàn 

thế  giới,  với  giun  chỉ  là  nhất  nguyên  nhân 

thường gặp. Tại các nước phát triển, ung thư và 

các  phương  pháp  điều  trị  của  nó  là  những 

nguyên nhân phổ biến nhất của phù bạch mạch. 

Trong ung thư vú, tỷ lệ phù bạch mạch khoảng 

từ 10% ở những bệnh nhân có nạo hạch và đến 

40%  ở  những  bệnh  nhân  có  xạ  trị.  Đây  là  hậu 

quả đáng sợ của điều trị ung thư vú, là vấn đề 

phổ  biến  và  gây  khó  chịu  cho  bệnh  nhân  vì  sự 

biến dạng tại chỗ của phù bạch mạch không thể 

dùng  quần  áo  bình  thường  để  che  dấu  được. 

Hình ảnh biến dạng chi đôi khi gây đau khổ cho 

bệnh  nhân  hơn  là  việc  bị  cắt  mất  vú,  làm  cho 

bệnh  nhân  thường  xuyên  có  cảm  giác  về  bệnh 

tình  của  họ,  mất  tự  tin  về  cơ  thể,  giảm  thể  lực, 

mệt mỏi và  suy  giảm  tâm  lý…  từ  đó  làm  giảm 

chất lượng sống của bệnh nhân.  

Các  phương  pháp  phẫu  thuật  điều  trị  phù 

bạch mạch có thể chia thành 2 nhóm: Phẫu thuật 

giảm  nhẹ  và  phẫu  thuật  sinh  lý.  Phẫu  thuật 

giảm  nhẹ  là  phương  pháp  giúp  làm  giảm  thể  tích  chi  bị  phù  bằng  cách  cắt  bỏ  hoặc  hút  mỡ,  phương pháp này ngày nay ít sử dụng vì không  giải quyết được tình trạng ứ động bạch huyết và 

có thể để lại sẹo xấu (cắt bỏ). Phẫu thuật sinh lý  bao  gồm  các  phẫu  thuật  nhằm lập  lại  sự  lưu  thông của dòng bạch huyết bằng cách tạo ra các  kênh mới để  tăng  công  suất  của  hệ  thống  bạch  huyết: phẫu thuật nối bắc cầu bạch mạch ‐ tĩnh  mạch, bắc cầu bạch mạch vùng phù sang vùng  bạch mạch bình thường, ghép bạch mạch. Phẫu  thuật nối bắc cầu bạch mạch ‐ tiểu tĩnh mạch là  phẫu thuật sử dụng kỹ thuật “siêu vi phẫu” để  tạo những miệng nối giữa đầu xa của hệ thống  bạch mạch với các tĩnh mạch nhỏ liền kề.  

Mục đích của nghiên cứu này nhằm đưa ra  một số nhận xét ban đầu về phương pháp phẫu  thuật  nối  bắc  cầu  bạch  mạch  ‐  tiểu  tĩnh  mạch  trong điều trị phù bạch mạch ở bệnh nhân ung  thư vú. 

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP  Đối tượng 

Bao gồm 3 trường hợp phù bạch mạch vùng  tay ở bệnh nhân ung thư vú được điều trị bằng  phẫu  thuật  nối  bắc  cầu  bạch  mạch  ‐  tiểu  tĩnh  mạch  tại  Bệnh  viện  Đại  học  Y  Dược  và  Bệnh  viện Đa khoa Khu vực Thủ Đức từ tháng 4/2013  đến tháng 9/2013. 

Phương pháp 

Phù  bạch  huyết  của  bệnh  nhân  đã  được  phân  loại  theo  tiêu  chí  Campisi  như  sau:  giai  đoạn  I,  không  thường  xuyên  phù  nề;  giai  đoạn 

II, phù liên tục, giai đoạn III, phù dai dẳng tiến  triển với viêm bạch mạch cấp tính; giai đoạn IV,  phù bạch mạch xơ hoá; và giai đoạn V, phù chân  voi. Đo chu vi của chi tại các điểm giữa của cẳng  tay và cánh tay trước mổ và sau mổ, tại các thời  điểm tái khám. 

Trang 3

Phương  pháp  phẫu  thuật:  Phẫu  thuật  thực 

hiện dưới gây tê tại chỗ hoặc gây mê toàn thân. 

Trước  khi  thực  hiện  mỗi  vết  mổ,  gây  tê  cục  bộ 

với epinephrine tại vị trí vết mổ để cầm máu tối 

ưu.  Bắc  cầu  bạch  mạch  ‐  tiểu  tĩnh  mạch  được 

thực  hiện  thông  qua  2  ‐  3  vết  mổ  dài  2  ‐  3  cm 

ởtrên cổ tay 2 cm, giữa cẳng tay, trên dưới nếp 

khuỷu  2cm  ở  mặt  trước  bên  trụ  hoặc  quay,  và 

mặt trước giữa cánh tay bên bị phù bạch mạch. 

Sau khi rạch da, tiến hành phẫu tích bộc lộ mạch 

bạch  huyết  ở  mô  dưới  da,  tìm  kiếm  các  tĩnh 

mạch nhỏ liền kề. Đầu xa của mạch bạch huyết 

nối tận ‐ bên hoặc tận ‐ tận với tĩnh mạch bằng 

chỉ  prolene  10.0.  Việc  khâu  nối  được  thực  hiện 

dưới  kính  hiển  vi  có  độ  phóng  đại  21  ‐  24  lần. 

Sau khi phẫu thuật, cánh tay bị phù bạch mạch 

được băng ép và kê cao trên một cái gối. Tất cả 

các bệnh nhân đã được xuất viện trong vòng 24 

giờ.  Bệnh  nhân  được  khuyến  khích  để  tiếp  tục 

điều trị bằng băng ép như trước và mặc tay  áo 

nén cánh tay bắt đầu 4 tuần sau khi phẫu thuật. 

KẾT QUẢ 

Đã có 3 trường hợp phù bạch mạch ở bệnh 

nhân ung thư vú được điều trị bằng phẫu thuật 

nối  bắc  cầu  bạch  mạch  ‐  tiểu  tĩnh  mạch.  Các 

bệnh nhân có độ tuổi trung bình là 59,5 tuổi (từ 

52 đến 65 tuổi). Thời gian đã đoạn nhũ từ 7 đến 

14  năm,  thời  gian  từ  khi  đoạn  nhũ  đến  khi  bắt 

đầu  phát  hiện  phù  là  2,3  năm  (2  ‐  3  năm),  thời 

gian phù là 7 năm (4 ‐ 12 năm). Cả 3 bệnh nhân 

đều đã được nạo hạch và xạ trị sau phẫu thuật 

đoạn nhũ. Các bệnh nhân phù bạch mạch ở giai 

đoạn II theo tiêu chí Campisi. Số miệng nối bạch 

mạch  ‐  tiểu  tĩnh  mạch  trung  bình  là  3,3/  bênh 

nhân (từ 2 ‐ 5 miệng nối). Đường kính của bạch 

mạch sử dụng để thực hiện miệng nối từ 0,3‐ 0,8 

mm.  Thời  gian  mổ  trung  bình  4,5  giờ  (3,5  ‐  5 

giờ).  Thời  gian  nằm  viện  sau  mổ  từ  5  ‐  12  giờ. 

Không có trường hợp nào ghi nhận biến chứng 

sau phẫu thuật hoặc tình trạng phù gia tăng. Tất 

cả các bệnh nhân đều nhận thấy có sự cải thiện 

sớm sau mổ với các biểu hiện như: Cánh tay nhẹ 

hơn,  vùng  phù  mềm  mại  hơn,  ít  đau  hơn.  Sự 

khác biệt về chu vi của tay phù sau mổ 1 tháng 

giảm 20% và 3 tháng giảm 25%. Sự khác biệt về  chu  vi  của  tay  được  xác  định  như  sau:  (chu  vi  tay bệnh ‐ chu vi tay lành sau phẫu thuật / chu vi  tay bệnh ‐ chu vi tay lành trước phẫu thuật).  

 

Hình 1: Phẫu tích bộc lộ bạch mạch 

BÀN LUẬN 

Việc  điều  trị  phù  bạch  mạch  cho  đến  nay  vẫn còn là một vấn đề khó khăn và thách thức.  Vào năm 1912, Charles lần đầu tiên thông báo  một trường hợp phù bạch mạch được điều trị  bằng phẫu thuật giảm nhẹ: cắt da và mô mềm  cho đến lớp cân sâu và ghép da che phủ. Năm 

1927, Sistrunk là người đầu tiên mô tả phương  pháp điều trị phù bạch mạch ở bệnh nhân ung  thư vú bằng cách cắt bỏ da thừa, mô mềm bao  gồm cả lớp cân sâu dọc theo trục dọc của chi.  Vài  thập  niên  sau,  Thomson  sử  dụng  phươg  pháp  chuyển  vị  bạch  huyết  bằng  vạt  da  có  cuống (vạt da đã được bóc lớp thượng bì) đặt  vào  vùng  huyết  tổn  sau  khi  cắt  bỏ  da  và  mô  mềm.  Tuy  vậy  chưa  có  bằng  chứng  cho  thấy  phương  pháp  tạo  ra  đường  dẫn  lưu  bạch  huyết thành công. Phương pháp hút mỡ cũng 

đã  được  áp  dụng  trong  điều  trị  phù  bạch  với  báo  cáo  đầu  tiên  năm  1989  của  O’brien,  phương  pháp  này  giúp  giảm  bớt  mô  mỡ  phì  đại  tuy  nhiên  cũng  có  thể  làm  tổn  thương  hệ  thống  bạch  mạch.  Một  số  tác  giả  như  Baumeister,  Siuda…  cũng  giới  thiệu  các  báo  cáo  về  phương  pháp  nối  bác  cầu  bạch  mạch  ‐  bạch mạch từ vùng bệnh đến vùng lành  bằng  đoạn  ghép  bạch  mạch  lấy  từ  chi  dưới.  Tuy 

Trang 4

nhiên  phương  pháp  này  sẽ  để  lại  một  vết  sẹo 

dài  và  đôi  khi  có  thể  gây  ra  tình  trạng  phù 

bạch mạch tại nơi cho mảnh ghép. Để cải thiện 

một phần nhược điểm này tác giả Campisi đưa 

ra  ý  tưởng  dùng  đoạn  ghép  tĩnh  mạch  thay 

cho đoạn ghép bạch mạch(1,4). 

Hình 2: Hình ảnh trước mổ và sau mổ 3 tháng BN 

Trần Thị Ngọc S, 65 tuổi 

Một  số  tác  giả  giác  cũng  đã  đưa  phương 

pháp ghép mô kèm hạch bạch huyết hoặc hạch 

bạch huyết đơn thuần lấy từ vùng khác trên cơ 

thể. Về lý thuyết, sau ghi ghép hach bạch huyết 

sẽ tạo đường dẫn bạch mạch mới từ hạch bạch  huyết  đến  mô  xung  quanh.  Tuy  vây,  chưa  có  bằng chứng cho thấy các bạch mạch mới đường  hình  thành  từ  các  hạch  bạch  huyết  được  ghép.  Ngoài  ra  việc  lấy  hạch  bạch  huyết  có  thể  gây  phù bạch mạch tại vùng cho hạch(1,3,5,6). 

Laine  và  Howard  là  những  người  đầu  tiên 

mô  tả  phương  pháp  nối  bắc  cầu  bạch  mạch  ‐  tĩnh  mạch  (lymphovenous)  ở  chuột  vào  năm 

1963  với  kỹ  thuật  vi  phẫu.  Hơn  một  thập  niên  sau  đó,  Yamada  đã  áp  dụng  kỹ  thuật  nối  bạch  mạch ‐ tĩnh mạch tương tự trên chó, rồi sau đó 

áp dụng vào điều trị phù bạch mạch trên người. 

Từ đó kỹ thuật này đã được nhiều tác giả khác  hoàn thiện hơn. Tuy vậy, việc xác định các mạch  bạch  huyết  thường  khó,  áp  lực  của  tĩnh  mạch  thường vượt qua áp lực của bạch mạch gây nên  dòng chảy ngược và huyết khối ở miệng nối, do 

đó thường dẫn đến kết quả tạm thời(1,4,6)..  Phẫu  thuật  nối  bắc  cầu  bạch  mạch  ‐  tĩnh  mạch nhỏ (lymphaticovenular) là một dạng của  nối  bạch  ‐  mạch  tĩnh  mạch  (lymphovenous).  nhưng  sử  dụng  kỹ  thuật  “siêu  vi  phẫu”  để  nối  các  bạch  mạch  dưới  da  ngoại  biên  với  các  tĩnh  mạch liền kề có kích thước nhỏ hơn 0,8mm. Lý 

do cho việc áp dụng kỹ thuật này dựa trên cơ sở 

là  các  bạch  huyết  dưới  da  ngoại  biên  ít  bị  ảnh  hưởng  bởi  phù  bạch  mạch,  bên  cạnh  đó  áp  lực  của các tĩnh mạch nhỏ dưới da thấp hơn áp lực  của  những  tĩnh  mạch  lớn  ở  sâu  hơn,  là  những  tĩnh mạch được sử dụng trong nối bạch mạch ‐  tĩnh  mạch  thông  thường  (lymphovenous).  Vì  vậy sau khi nối ít bị chảy ngược nên sẽ giúp tình  trạng phù bạch mạch được cải thiện lâu dài hơn.  Koshima và cộng sự nhận thấy rằng sự phá huỷ  nội mô và tế bào cơ trơn của bạch mạch từ gần  đến  xa  khi  sinh  thiết  bạch  mạch  là  chìa  khoá  quan trọng cho sự tiến triển của phù bạch mạch.  Điều này phù hợp với ghi nhận trên lâm sàng là 

dễ xác định bạch mạch dưới da ở phần xa (phần  ngọn) của tay và xác định khó khăn hơn ở phần  gần (phần gốc) của tay. Ỏ nhiều bệnh nhân, phù  bạch mạch là nặng nề ở phần gốc chi hơn so với  phần ngọn, tuy nhiên các miệng nối cạch mạch ‐ 

Trang 5

ở phần gốc các mạch bạch huyết dưới da thường 

bị  hư  hỏng  hoặc  bị  phá  huỷ  và  khó  có  thể  tìm 

thấy(1,4).Đó  cũng  là  lý  do  trong  nghiên  cứu  của 

chúng  tôi,  mặc  dù  phù  chủ  yếu  ở  cách  tay 

nhưng các miệng nối thực hiện chủ yếu ở cẳng 

tay. 

Một trong những thách thức ảnh hưởng đến 

kết quả của việc nối bạch mạch ‐ tiểu tĩnh mạch 

là cần phải xác định được các mạch bạch huyết 

còn chức năng. Bởi vì trong một số trường hợp 

phù bạch mạch, các mạch bạch huyết không còn 

chức năng nên việc nối thông bạch mạch ‐ tĩnh 

mạch  sẽ  trở  nên  vô  nghĩa.  Việc  xác  định  các 

mạch bạch huyết có thể thực hiện bằng kỹ thuật 

chụp  bạch  mạch  huỳnh  quang  với  indocyanine 

green.  Phương  pháp  này  giúp  cho  phẫu  thuật 

viên  xác  định  vị  trí  các  mạch  bạch  huyết  còn 

chức  năng,  giúp  giảm  thời  gian  phẫu  thuật  và 

tăng  khả  năng  thành  công  của  phẫu  thuật. 

Ngoài ra việc xác định các mạch bạch huyết còn 

chức  năng  có  thể  thực  hiện  khi  tiêm  xanh 

methylene  dưới  da  hoặc  quan  sát  dòng  bạch 

huyết  chảy  ra  trước  khi  thực  hiện  miệng  nối. 

Trong  nghiên  cứu  của  chúng  tôi,  ghi  nhận  có 

bạch huyết chảy ra ở miệng cắt bạch mạch(1,5). 

Qua 3 trường hợp phù bạch mạch được điều 

trị bằng phẫu thuật bắc cầu nối bạch mạch ‐ tiểu 

tĩnh mạch, chúng tôi chưa ghi nhận trường hợp 

nào có biến chứng hoặc phù gia tăng sau phẫu 

thuật.  Các  dấu  vết  để  lại  chỉ  là  những  vết  sẹo 

nhỏ ở vị trí phẫu thuật tương đối thẩm mỹ. Kết 

quả ban đầu ghi nhận tình trạng phù cải thiện, 

các  bệnh  nhân  đều  hài  lòng  với  phẫu  thuật. 

Chúng tôi nhận thấy đây là phẫu thuật xâm lấn 

tối  thiểu,  có  thể  thực  hiện  dưới  gây  tê  tại  chỗ 

hoặc  gây  tê  vùng,  bệnh  nhân  xuất  viện  trong 

vòng 12 giờ sau phẫu thuật và không ghi nhận 

biến chứng trong và sau phẫu thuật. Tuy nhiên, 

phẫu  thuật  nối  bắc  cầu  bạch  mạch  ‐  tiểu  tĩnh  mạch  là  một  kỹ  thuật  khó,  là  kỹ  thuật  siêu  vi  phẫu,  đòi  hỏi  phẫu  thuật  viên  phải  thao  tác  chính  xác  với  các  mạchcó  đường  kính  rất  nhỏ.  Hơn nữa, số lượng nghiên cứu của chúng tôi còn 

có  hạn  và  thời  gian  theo  dõi  còn  ngắn.  Vì  vậy  cần tiến hành tiếp tục  nghiên  cứu  với  số  lượng  bệnh nhân lớn hơn và thời gian theo dõi dài hơn 

để  từ  đó  có  thể  đánh  giá  một  cách  khách  quan  hiệu quả của phẫu thuật này trong điều trị phù  bạch mạch ở bệnh nhân ung thư vú. 

KẾT LUẬN 

Phẫu  thuật  nối  bắc  cầu  bạch  mạch  ‐  tiểu  tĩnh mạch có thể làm giảm một cách hiệu quả  mực độ trầm trọngcủa phù bạch mạch ở bệnh  nhân  ung  thư  vú.  Tuy  nhiên  cần  được  đánh  giá với số lượng bệnh nhân nhiều hơn và theo 

dõi lâu dài hơn. 

TÀI LIỆU THAM KHẢO 

for lymphedema management  in  breast  cancer  patients:  a  prospective study. Plast Reconstr Surg, 126(3):752‐758. 

Plast Reconstr Surg, 125: 19 ‐ 23. 

Verlag London Limited. 

microlymphaticovenous  anastomoses  for  the  treatment  of  obstructive lymphedema. Plast Reconstr Surg, 85(4):562‐572. 

of  Autologous  LymphNode  Transplantation  as  Treatment  ofPostsurgical  Lymphedema.  Plast  Reconstr  Surg,  124:  777  ‐ 

786. 

Temporary Lymphatic Expansion. PLoS One, 8(3): e59523. 

  Ngày nhận bài báo: 14/11/2013  Ngày phản biện nhận xét bài báo: 22/11/2013  Ngày bài báo được đăng: 05/01/2014 

 

Ngày đăng: 19/01/2020, 19:22

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w