1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Mối liên quan giữa bệnh do Toxoplasma với phụ nữ có thai và phụ nữ bị vô sinh (Tổng quan)

5 76 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 459,56 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu nghiên cứu của bài viết nhằm tìm ra mối liên quan giữa bệnh do Toxoplasma với phụ nữ có thai và phụ nữ bị vô sinh (Tổng quan). Bài viết trình bày các thể bệnh và biểu hiện lâm sàng của bệnh do Toxoplasma, xét nghiệm chẩn đoán bệnh do Toxoplasma ở phụ nữ có thai; bệnh do Toxoplasma và mối liên quan với phụ nữ vô sinh.

Trang 1

MỐI IÊN QU N GI B NH DO TO OP SM VỚI

PHỤ N CÓ TH I VÀ PHỤ N BỊ V SINH Tổng quan)

Nguyễn Đình Tảo*; Đỗ Bình*; Trịnh Thế Sơn*; Vũ Văn Tâm**

TÓM TẮT

Bệnh Toxoplasma do ký sinh trùng đơn bào Toxoplasma gondii gây nên, là một trong bốn

mặt bệnh truyền nhiễm hay gặp (TORCH: Toxoplasmosis, Rubella, Cytomegavirus, Herpes simplex virus) và được đưa vào xét nghiệm tầm soát ở các nước phát triển đối với phụ nữ mang thai Việc lây nhiễm có thể do ăn thịt chưa nấu chín hoặc đồ ăn thức uống bị nhiễm Quá trình lây nhiễm bệnh có thể xảy ra trước khi người phụ nữ có thai hoặc trong suốt quá trình mang thai và có thể gây nên các biến chứng như giảm sức nghe, nhìn, chậm phát triển trí tuệ,

co giật, gan lách to, sảy thai, thậm chí tử vong Giáo dục truyền thông và xét nghiệm tầm soát bệnh là biện pháp có hiệu quả nhất để chẩn đoán, điều trị bệnh ở phụ nữ có thai và để phòng chống bệnh cũng như những biến chứng của bệnh cho thai nhi Đồng thời, việc phát hiện sớm cho thai nhi, tr sơ sinh bị mắc bệnh ngay từ những năm đầu đời mang lại hiệu quả điều trị cao

* Từ khóa: Vô sinh; Phụ nữ có thai; Bệnh do Toxoplasma

Knowledge of the Relationship Between Toxoplasmosis and Intertile

as well as Pregnant Women (Review)

Summary

Toxoplasmosis is a disease caused by Toxoplasma gondii, a ubiquitous protozoan parasite, that is one of TORCH infections (Toxoplasmosis, Rubella, Cytomegavirus, Herpes simplex virus)

and routine screening in pregnancy women at the developed countries The infection can be

acquired through ingestion of infected, undercooked meat or contaminated food or water Transmission to the fetus occurs almost solely in women who acquire their primary infection during gestation and can result in visual and hearing loss, mental and psychomotor retardation, seizures, hepatosplenomegaly, abortion or death Systematic education and serological screening

of pregnant women are the most reliable and currently available strategies for the prevention, diagnosis, and early treatment of the infection in the offspring; this is largely because toxoplasmosis in pregnant women most often goes unrecognized Treatment of the infection in the fetus and infant during the first year of life has been demonstrated to significantly improve the clinical outcome

* Key words: Tomoplasmosis; Pregnant women; Infertile women

* Học viện Quân y

* Bệnh viện Phụ sản Hải Phòng

Người phản hồi (Corresponding): Nguyễn Đình Tảo (ndtao@yahoo.com)

Ngày nhận bài: 18/04/2015; Ngày phản biện đánh giá bài báo: 01/06/2015

Ngày bài báo được đăng: 06/07/2015

Trang 2

ĐẶT VẤN ĐỀ

Bệnh do Toxoplasma là bệnh lây truyền

qua thực phẩm đứng hàng thứ ba trên

thế giới sau Listeria sp và Samonella sp.,

đặc biệt hay gặp ở những nước có thói

quen ăn thịt sống và nuôi mèo nhiều trong

gia đình Khi nhiễm Toxoplasma gondii từ

động vật hoang dã bị ăn thịt, mèo sẽ bắt

đầu thải nang trứng qua phân trong thời

gian từ 3 - 10 ngày [1]

Hình 1: Sơ đồ lây truyền đơn bào

T gondii

Các nang trứng có sức đề kháng cao

với ngoại cảnh và có thể tồn tại ngoài môi

trường hàng năm Sau 1 - 5 ngày, nang

trứng sẽ hóa bào tử cho ra nhiều thoa

trùng nằm trong đó, trước giai đoạn này,

nang trứng không có khả năng gây nhiễm

Các nang trứng chứa thoa trùng bên trong

nhiễm vào thức ăn, nước uống và lây nhiễm

cho con người [3]

Ngoài phương thức lây nhiễm do ăn phải nang trứng đã hóa bào tử hay nang trong mô, còn có đường lây nhiễm qua nhau thai: khi còn trong tử cung, thai nhi

có thể bị nhiễm nếu mẹ mắc bệnh trong lúc có thai, vì các thể hoạt động (tachyzoit)

có thể đi xuyên qua nhau thai Nếu người

mẹ bị nhiễm bệnh trong vòng 6 tháng trước đó (tính đến lúc có thai) thì có thể lây bệnh cho con mình, đây là nguyên nhân của bệnh do Toxoplasma bẩm sinh

CÁC THỂ B NH VÀ BIỂU HI N M SÀNG CỦ B NH DO TOXOPLASMA

Bệnh do đơn bào T gondii gây ra được chia làm ba thể: bệnh do Toxoplasma bẩm sinh, bệnh do Toxoplasma mắc phải

và bệnh do Toxoplasma tái nhiễm khi bệnh nhân (BN) bị suy giảm miễn dịch hoặc sử dụng thuốc ức chế miễn dịch trong thời gian dài Chỉ 10 - 20% bệnh do

Toxoplasma ở người lớn và tr em có triệu chứng, nhưng đây sẽ là bệnh nặng,

đe dọa đến tính mạng nếu bị suy giảm miễn dịch Những biểu hiện thường thấy

ở BN nhiễm T gondii giai đoạn cấp tính

gần giống với triệu chứng bệnh cúm,

do vậy các nhà lâm sàng thường bỏ qua xét nghiệm mầm bệnh này

Bệnh do Toxoplasma bẩm sinh có thể nhẹ hoặc nặng, khởi phát trong tháng đầu tiên sau khi sinh hoặc nếu không được chẩn đoán sẽ có di chứng hay tái phát bệnh vào bất kỳ thời điểm nào sau này Bệnh biểu hiện với tam chứng kinh điển

là viêm màng mạch - võng mạc, tràn dịch não và vôi hoá trong sọ Bệnh sẽ rất nặng nếu người mẹ bị nhiễm trong giai đoạn đầu của thai kỳ, trong đó: 5 - 10% sảy thai,

Trang 3

8 - 10% tr sơ sinh bị tổn thương mắt, có

thể kèm theo tổn thương não rất nghiêm

trọng, 10 - 13% tr sơ sinh bị tổn thương

thị giác (mắt nhìn mờ, đau nhức, sợ ánh

sáng…), 15% bị viêm màng mạch - võng

mạc, 10% bị vôi hoá trong sọ, tăng tế bào

lympho và protein trong dịch não tủy,

thiếu máu sau sinh, giảm tiểu cầu, vàng da,

đầu nhỏ (microcephaly) Nếu sống sót, có

thể bị chậm phát triển tâm thần, động kinh

và một số di chứng thần kinh khác

T NGHI M CH N ĐOÁN B NH DO

TO OP SM Ở PHỤ N CÓ TH I

Hiện nay, xét nghiệm huyết thanh học

sử dụng kỹ thuật miễn dịch hấp thụ men

gián tiếp (ELISA) và kỹ thuật khuếch đại

gen (PCR) được áp dụng nhiều trong

chẩn đoán bệnh do T gondii ở phụ nữ có

thai Việc chỉ định xét nghiệm miễn dịch

đối với bệnh do Toxoplasma không thể dựa

trên biểu hiện lâm sàng (do bệnh diễn ra

thầm lặng, ít có triệu chứng), mà phải đưa

vào xét nghiệm tầm soát theo chu kỳ

(tuần thứ 13, tuần thứ 26 và tuần thứ 36)

Tuy nhiên, do vấn đề chi phí và tỷ lệ dương

tính thấp nên một số bác sỹ lâm sàng và

sản khoa thường bỏ qua xét nghiệm tầm

soát này trong quản lý, theo dõi thai kỳ ở

phụ nữ có thai

Đối với xét nghiệm miễn dịch ELISA

thường để phát hiện kháng thể IgG, IgM,

IgA, IgE và IgG ái lực đối với T gondii

Đặc biệt là xét nghiệm hai kháng thể IgM,

IgG thường tiến hành ở giai đoạn đầu của

thai kỳ và có thể phân biệt được bệnh ở

giai đoạn cấp tính hoặc mạn tính (hình 2)

Dựa trên những kết quả này, các bác sỹ

lâm sàng có thể đưa ra lời khuyên chính

xác và xác định được mức độ ảnh hưởng

của bệnh đối với thai nhi, từ đó có thái độ

xử trí phù hợp

* Nếu kết quả ELISA IgG (-)/IgM (-):

không có bằng chứng về nhiễm T gondii trước đây, tuy nhiên người phụ nữ vẫn có khả năng mắc bệnh do Toxoplasma mạn tính nếu bị nhiễm khi mới mang thai thông qua đường ăn uống Vai trò của bác sỹ lúc này là tư vấn cho BN cách ăn uống hợp vệ sinh để phòng chống bệnh và xét nghiệm kiểm tra định kỳ để xác định chuyển đổi huyết thanh (seroconversion) trong quá trình mang thai Nếu các lần xét nghiệm sau có IgG (+) hoặc IgG (+)/IgM (+), chứng

tỏ người phụ nữ đã bị nhiễm T gondii trong quá trình mang thai

* Nếu kết quả ELISA IgG (+)/IgM (-):

bác sỹ phải căn cứ vào tuổi của thai nhi

để có tư vấn chính xác:

- Nếu thai nhi < 18 tuần: người mẹ đã

bị nhiễm T gondii trước khi có bầu, thai nhi

sẽ ít bị ảnh hưởng bởi đơn bào này nếu như không bị suy giảm miễn dịch hoặc sử dụng thuốc ức chế miễn dịch trong thời kỳ mang thai

- Nếu thai nhi > 18 tuần: tiến hành lấy máu xét nghiệm lần hai tại một cơ sở khác

để kiểm chứng lại hiện tượng chuyển đổi huyết thanh

* Nếu kết quả ELISA IgG (-)/IgM (+):

do kháng thể IgM có tính đặc hiệu kém nên phải tiến hành xét nghiệm lại IgG/IgM sau 1 - 3 tuần

- Nếu ở lần hai thử lại đều IgG (-) và IgM (+), kết quả IgM phải được xem là dương tính giả và kết luận BN không mắc bệnh

- Nếu IgG (+)/IgM (+): có xảy ra hiện tượng chuyển đổi huyết thanh và BN bị nhiễm T gondii trong quá trình mang thai,

Trang 4

thai nhi sẽ bị ảnh hưởng, cần tiến hành

điều trị Ngoài ra, có thể tiến hành chọc ối

vào tuần thứ 18 và làm xét nghiệm PCR

để chẩn đoán

* Nếu kết quả ELISA IgG (+)/IgM (+):

lấy máu lại lần hai, cả hai mẫu máu (lần đầu

và lần hai) phải được gửi đến một phòng

thí nghiệm chuẩn (reference laboratory)

để kiểm tra với một kỹ thuật xác định IgM

khác Trước khi điều trị, tất cả kết quả

IgM (+) phải được một phòng thí nghiệm

chuẩn kiểm tra lại

B NH DO TO OP SM VÀ

MỐI IÊN QU N VỚI PHỤ N V SINH

Các nghiên cứu về sự lưu hành của

đơn bào T gondii ở phụ nữ bị vô sinh rất ít

được đề cập mặc dù đã có nhiều nghiên

cứu chứng minh T gondii có khả năng

gây vô sinh trên động vật thực nghiệm,

cùng với các báo cáo với 21% phôi bất

thường và 24,2% sảy thai hoặc thai chết

lưu ở phụ nữ có liên quan đến đơn bào

này [4, 5] Nghiên cứu của Li và CS (2011)

[7] xét nghiệm kháng thể Toxoplasma IgG

ở hai nhóm phụ nữ bị vô sinh (n = 882) và

nhóm phụ nữ có thai (n = 107) ở Trung

Quốc, kết quả: tỷ lệ anti-toxoplasma IgG

(+) ở nhóm phụ nữ bị vô sinh là 15,9%

(140/882), trong khi đó, ở nhóm phụ nữ

có thai chỉ có 5,6% (6/107) Sự khác biệt

có ý nghĩa thống kê giữa hai nhóm nghiên

cứu (p < 0,05) Kết quả này cho thấy có

mối liên quan giữa bệnh do Toxoplasma

và phụ nữ bị vô sinh Ngoài ra, tác giả

cũng chia phụ nữ tham gia nghiên cứu

thành 5 nhóm lứa tuổi khác nhau (20 - 24,

25 - 29, 30 - 34, 35 - 39 và > 40 tuổi) Kết

quả xét nghiệm anti-toxoplasma IgG (+) ở

nhóm phụ nữ bị vô sinh lần lượt là 15,5%, 15,2%, 17,9%, 19,4% và 15,4%; trong khi

đó, ở nhóm phụ nữ có thai là 5,6%, 5,2%, 6,7%, 7,7%, và 0%

Nora và CS (2014) [5] tiến hành một nghiên cứu tương tự ở Ai Cập, kết quả rất bất ngờ với tỷ lệ huyết thanh dương tính ở nhóm phụ nữ bị vô sinh là 61,85% (193/312), còn nhóm phụ nữ có thai là 44% (44/100) Xét theo 4 nhóm tuổi 20 -

24, 25 - 29, 30 - 34, 35 - 39, tỷ lệ huyết thanh dương tính lần lượt là 57,57%, 62,28%, 63,15% và 73,91%, cao hơn nhiều so với nghiên cứu của Li và CS [7]

Về mặt cơ chế gây vô sinh, Nora và

CS đưa ra giả thuyết: khi người phụ nữ bị nhiễm bệnh do Toxoplasma ở giai đoạn cấp tính, các đơn bào ở thể hoạt động sẽ xâm nhập vào các mô ở tử cung gây viêm màng trong tử cung và cản trở thai nhi làm tổ Nếu bị nhiễm T gondii mạn tính, đơn bào sẽ làm suy yếu hoặc ức chế sự phát triển của nang noãn trong buồng trứng, gây viêm teo tử cung và suy giảm chức năng sinh sản do rối loạn chức năng trục dưới đồi - tuyến yên [5]

Kết quả nghiên cứu trên khi công bố

đã đặt ra nhiều câu hỏi cho các nhà ký sinh trùng học cũng như những người làm công tác hỗ trợ sinh sản trên thế giới

về sự lưu hành của Toxoplasma ở quốc gia mình và cơ chế gây vô sinh của đơn bào này Đồng thời, thúc đẩy một loạt các nghiên cứu khác để làm sáng tỏ vấn đề này, khuyến cáo cần thiết phải xét nghiệm ELIS IgG và IgM đối với phụ nữ hiếm muộn để góp phần nâng cao chất lượng

tư vấn và điều trị vô sinh

Trang 5

Hình 2: Ý nghĩa của kết quả xét nghiệm ELISA T gondii

* Nếu xét nghiệm IgG ái lực được làm ở thời kỳ ba tháng đầu

(+): dương tính; (-): âm tính; WB: xét nghiệm Westem Blot

TÀI I U TH M HẢO

1 Pappas G, Roussos N, Falagas ME

Toxoplasmosis snapshots: Global status of

Toxoplasma gondii seroprevalence and

implications for pregnancy and congenital

toxoplasmosis International Journal for

Parasitology 2009, 39, pp.1385-1394

2 Montoya JG, Liesenfeld O Toxoplasmosis

The Lancet 2004, 363, pp.1965-1976

3 Stahl W, Kaneda Y, Noguchi T Reproductive

failure in mice chronically infected with Toxoplasma

gondii Parasitology Research 1994, pp.22-28

4 Terpsidis K, Papazahariadou M, Taitzoglou I,

Papaioannou N, Georgiadis M, Theodoridis I

Toxoplasma gondii: Reproductive parameters

in experimentally infected male rats Experimental Parasitology 2009, 121, pp.238-241

5 Nora El-Tantawy, Amira Taman, Hend Shalaby Toxoplasmosis and female infertility:

Is there a Co-Relation? American Journal of Epidemiology and Infectious Disease 2014,

2 (1), pp.29-32 doi: 10.12691/ajeid-2-1-6

6 Nowakowska D, Respondek-Liberska M, Gola E, Stray Pedersen B, Szaflik K, Dzbenski T, Wilczynski J Too late prenatal diagnosis of

fetal toxoplasmosis: a case report Fetal Diagnosis and Therapy 2005, 20, pp.190-193

7 Li S, Cui L, Zhao J, Dai P, Zong S, Zuo W, Chen C, Jin H, Gao H, Liu Q Seroprevalence

of Toxoplasma gondii infection in female sterility

patients in China The Journal of Parasitology

2011, 97, pp.529-530

Xét nghiệm ELISA IgG và IgM

Ăn uống hợp vệ sinh

Xét nghiệm kiểm tra

định kỳ

Không có thay đổi về kết

quả xét nghiệm ELISA

Không bị nhiễm

T gondii

Chuyển đổi huyết thanh

Nhiễm T gondii giai đoạn cấp tính

Đã từng bị nhiễm

T gondii

Ngày đăng: 19/01/2020, 19:15

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w