Bằng phương pháp điều tra cắt ngang 400 hộ gia đình và 716 trẻ < 5 tuổi người Tày ở huyện Lục Yên tỉnh Yên Bái về thực trạng CSSK cho bà mẹ và trẻ em người Tày, các tác giả đã rút ra một số kết quả sau: Thực trạng CSSK cho người Tày Lục Yên như sau: Tỷ lệ trẻ người Tày được đẻ tại nhà thấp (6,29%), trong số trẻ đẻ tại nhà chủ yếu do các bà đỡ đỡ. Tỷ lệ bà mẹ được khám thai, tiêm phòng uốn ván cao (97,2% & 98,6%).
Trang 1THỰC TRẠNG CHĂM SÓC SỨC KHỎE CHO BÀ MẸ VÀ TRẺ EM NGƯỜI TÀY
HUYỆN LỤC YÊN TỈNH YÊN BÁI
Hoàng Văn Liêm 1 , Đào Ngọc Lan 1 , Đàm Khải Hoàn 2
1
Sở Y tế Yên Bái 2 Trường đại học Y Dược – Đại học Thái Nguyên
TÓM TẮT
Bằng phương pháp điều tra cắt ngang 400 hộ gia đình và 716 trẻ < 5 tuổi người Tày ở huyện Lục Yên tỉnh Yên Bái về thực trạng CSSK cho bà mẹ và trẻ em người Tày, các tác giả đã rút ra một số kết quả sau: Thực trạng CSSK cho người Tày Lục Yên như sau: Tỷ lệ trẻ người Tày được đẻ tại nhà thấp (6,29%), trong số trẻ đẻ tại nhà chủ yếu do các bà đỡ đỡ Tỷ lệ bà mẹ được khám thai, tiêm phòng uốn ván cao (97,2% & 98,6%) Tỷ lệ trẻ sơ sinh được bú sớm khá cao (83,9%), tỷ lệ trẻ ăn sam đúng là 83,45% Tỷ lệ trẻ cai sữa đúng còn thấp (35,8%) 93,% tổng số trẻ được tiêm chủng đầy đủ, trong đó 92,3% trẻ có sẹo lao 67,57% phụ nữ Tày áp dụng BPTT, trong đó đặt vòng được chọn hàng đầu (74,91%), tiếp là thuốc tránh thai (11,64%) Lý do không áp dụng BPTT hàng đầu là không chấp nhận (87,88%) Tỷ lệ bà mẹ Tày đẻ sớm <22 khá cao (59,6%) và 20,15% còn đẻ nhiều (>2 con) 43,99% trẻ em < 5 tuổi người Tày SDD thể thấp còi, tiếp theo là thể nhẹ cân (28,63%) Tỷ lệ SDD của trẻ em người Tày có ảnh hưởng bởi yếu tố số con trong gia đình, việc cai sữa và kết quả TCMR Các tác giả đề nghị cán bộ y tế tăng cường truyền thông và tổ chức tốt hơn các chương trình CSSK bà mẹ và trẻ em nhất là chương trình phòng chống suy dinh dưỡng
Từ khóa: Chăm sóc sức khỏe bà mẹ và trẻ em; suy dinh dưỡng
Yên Bái là một trong các tỉnh nghèo của vùng
núi phía Bắc với tỷ lệ hộ đói nghèo chiếm tới
29% [5] Công tác CSSK BM&TE ở tỉnh Yên
Bái nhìn chung đã được thực hiện tương đối
tốt, thể hiện ở các chỉ số sức khỏe cơ bản đạt
được chỉ số trung bình chung của cả nước
Tuy nhiên khu vực đồng bào DTTS vùng sâu
vùng xa, các chỉ số CSSK BM&TE còn thấp
Người Tày ở Yên Bái nói chung và huyện
Lục Yên nói riêng cũng là một trong các
DTTS có tỷ lệ khá cao trong dân số Người
Tày – Lục Yên chiếm khoảng 53% dân số
toàn huyện, người dân chủ yếu làm nông
nghiệp và trồng rừng Kinh tế, văn hóa, xã hội
còn chậm phát triển, còn tồn tại một số phong
tục, tập quán lạc hậu ảnh hưởng đến sức khỏe
của cộng đồng nhất là CSSKBM&TE [2], [4]
Vậy thực trạng CSSKBM&TE của người Tày
huyện Lục Yên tỉnh Yên Bái hiện nay ra sao?
Và yếu tố nào đang ảnh hưởng đến công tác
CSSKBM&TE của người Tày huyện Lục
Yên? Vì thế chúng tôi tiến hành đề tài nhằm
mục tiêu đánh giá thực trạng trạng công tác
CSSKBM&TE của người Tày huyện Lục Yên
tỉnh Yên Bái năm 2011
*
NGHIÊN CỨU
Đối tượng: Bà mẹ người Tày có con <5 tuổi
và các hộ gia đình tại các xã nghiên cứu Địa điểm: Xã Lâm Thượng, xã Mường Lai
huyện Lục Yên tỉnh Yên Bái là 2 xã 100% người Tày gốc, đã định cư lâu đời
Phương pháp nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu: Mô tả, điều tra cắt ngang
Phương pháp chọn mẫu điều tra hộ gia đình
có trẻ dưới 5 tuổi
- Cỡ mẫu: Theo công thức điều tra cắt ngang với p=0,3 (tỷ lệ trẻ em người Tày suy dinh dưỡng trong nghiên cứu của Hoàng Khải Lập
và CS ở người Tày Lạng Sơn [4], d=0,03 Tính được n = 163, lấy tròn là 170, mỗi xã chọn 85 hộ gia đình Thực tế điều tra được
143 hộ gia đình
- Kỹ thuật chọn mẫu:
+ Chọn chủ đích 2 xã Lâm Thượng, xã Mường Lai huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái vì 2
xã này hoàn toàn người Tày gốc sinh sống ở
đây, còn lưu giữ nhiều nét văn hóa cũng như
phong tục tập quán cổ
Trang 2+ Chọn hộ gia đình theo phương pháp ngẫu
nhiên hệ thống Mỗi hộ chọn 1 bà mẹ có con
< 5 tuổi Kết quả điều tra được 143 hộ gia
đình có trẻ < 5 tuổi ở 2 xã
Phương pháp chọn mẫu trẻ em < 5 tuổi để
đánh giá SDD: Điều tra toàn bộ số trẻ < 5 tuổi
đang được theo dõi cân nặng ở 2 xã điều tra
Tổng số trẻ được điều tra là 716 trẻ
Các chỉ số nghiên cứu: Nhóm các chỉ số
CSSKBM trước, trong sinh và KHHGĐ;
nhóm chỉ số CSSK TE như nuôi con bằng sữa
mẹ, TCMR, suy dinh dưỡng…
Phương pháp thu thập số liệu: Phỏng vấn
trực tiếp các các bà mẹ có con <5 tuổi theo bộ
câu hỏi đã thiết kế Cân đo trẻ đánh giá tình
trạng SDD theo qui định của BYT
Phương pháp xử lý số liệu: Theo các
phương pháp thống kê y học trên phần mền
EPIINFO 6.04
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN
Kết quả điều tra hộ gia đình
Bảng 1 Tình hình chăm sóc sức khoẻ cho bà mẹ
và trẻ em
Chăm sóc sức khoẻ cho
BM&TE
Kết quả
SL %
Số trẻ đẻ tại nhà 9 6.29
Số trẻ đẻ tại cơ sở y tế 134 93.71
Số trẻ đẻ tại nhà được: Cán bộ
Số BM được khám thai 139 97.20
Số BM được tiêm phòng uốn
Số trẻ SS được bú sớm 120 83.92
Số trẻ ăn sam đúng 116 83.45
Cân nặng sơ sinh: <2500 g 9 6.29
≥2500 g 134 93.71
Số trẻ cai sữa: < 12 tháng 6 6.32
Từ 12 - 18 tháng 55 57.89
> 18 tháng 34 35.79
Số trẻ được tiêm chủng đầy đủ 133 93.01
Số trẻ có sẹo lao 132 92.31
Bảng 1 cho thấy tình hình chăm sóc sức khoẻ cho bà mẹ và trẻ em của các hộ gia đình người Tày Lục Yên: Tỷ lệ trẻ đẻ tại nhà rất thấp (6,29%), trong số trẻ đẻ tại nhà tỷ lệ trẻ
được các bà đỡ đỡ khá cao (67%) Tỷ lệ bà
mẹ được khám thai khá cao (97,2%) Tỷ lệ bà
mẹ Tày được tiêm phòng uốn ván cũng rất cao (98,6%) Tỷ lệ trẻ sơ sinh được bú sớm cao (83,9%), tỷ lệ trẻ ăn sam đúng cao (83,45%) Tỷ lệ trẻ cai sữa đúng chiếm 35,8% Tỷ lệ trẻ được tiêm chủng đầy đủ cao (93,%) trong đó tỷ lệ trẻ có sẹo lao cũng rất cao (92,3%) Kết quả CSSK BM&TE của người Tày Lục Yên tốt hơn nhiều người Tày Bắc Sơn trong nghiên cứu của Đàm Khải Hoàn và CS [3] có lẽ một là do kết quả đổi mới chung của đất nước, hai là do vùng Lục Yên, dân trí cao hơn
Bảng 2 Tình hình thực hiện chương trình
DS-KHHGĐ
DS-KHHGĐ Kết quả
SL %
Số phụ nữ áp dụng BPTT 275 67.57 Trong đó : Đặt vòng 206 74.91 Thuốc tránh thai 32 11.64
Số phụ nữ không áp dụng các
Lý do không áp dụng: Không biết
Không chấp nhận 116 87.88
Số BM đang nuôi con 3 2.27 Không có điều kiện dùng 13 9.85 Tuổi hành kinh trung bình 15,37 ± 3,62 Tuổi lấy chồng trung bình 20.37 ± 2.931 Tuổi có con đầu 21.04 ± 4.104
Số phụ nữ đẻ sớm <22 tuổi 122 59.60
Số phụ nữ đẻ nhiều >2 con 82 20.15 Bảng 2 cho thấy tình hình thực hiện chương trình DS-KHHGĐ của người Tày huyện Lục Yên: Tỷ lệ phụ nữ Tày áp dụng BPTT khá cao (67,57%), trong đó đặt vòng vẫn là biện pháp được chọn hàng đầu (74,91%), tiếp theo
Trang 3là sử dụng thuốc tránh thai (11,64%) Lý do
không áp dụng BPTT hàng đầu là không chấp
nhận (87,88%) Tuổi hành kinh trung bình các
cô gái Tày là 15,37; Tuổi lấy chồng trung
bình là 20,37; Tỷ lệ phụ nữ Tày đẻ sớm <22
khá cao (59,6%) và tỷ lệ phụ nữ đẻ nhiều (>2 con) thấp (20,15%) Kết quả nghiên cứu của chúng tôi tương đương với kết quả chung toàn quốc qua báo cáo của BYT [1], [4], [6]
Bảng 3 Tỷ lệ suy dinh dưỡng của trẻ <5 tuổi
Bảng trên cho thấy tỷ lệ suy dinh dưỡng của trẻ em người Tày Lục Yên khá cao: Tỷ lệ SDD thể thấp còi cao nhất (43,99%), tiếp theo là thể nhẹ cân (28,63%)
Kết quả này cao hơn tỷ lệ chung toàn quốc [1], và tương tự như người Tày Lạng Sơn trong
nghiên cứu của Hoàng Khải Lập và CS [4]
Bảng 4 Mối liên quan giữa một số yếu tố với tình trạng SDD thể nhẹ cân của trẻ <5 tuổi
ở trẻ em dân tộc Tày
KQ
Yếu tố
X2, p
Kinh tế
> 0,05
Số con trong gia đình
< 0,05
Bú sữa mẹ
> 0,05
Cai sữa
< 0,05
Ăn sam
> 0,05
Tiêu chảy
> 0,05
NKHHCT
> 0,05
TCMR
Trẻ không tiêm hoặc TC
không đầy đủ, không đúng
Tổng số điều tra 205 28,63 511 71,37
Trang 4Nhận xét: Có mối liên quan giữa các yếu tố
Số con trong gia đình với tình trạng SDD thể
nhẹ cân của trẻ <5 tuổi ở trẻ em dân tộc Tày:
Gia đình đông con thì tỷ lệ trẻ SDD cao hơn
và ngược lại Có mối liên quan giữa việc cai
sữa sớm với tình trạng SDD thể nhẹ cân của
trẻ <5 tuổi ở trẻ em dân tộc Tày: Trẻ cai sữa
sớm thì tỷ lệ trẻ SDD cao hơn và ngược lại
Kết quả có mối liên quan giữa việc thực hiện
TCMR với tình trạng SDD thể nhẹ cân của trẻ
<5 tuổi ở trẻ em dân tộc Tày: Trẻ không được
TCMR đầy đủ, đúng lịch thì tỷ lệ trẻ SDD cao
hơn và ngược lại Kết quả này của chúng tôi
phù hợp với nghiên cứu của Đàm Khải
Hoàn, Hoàng Khải Lập về người Tày ở
MNPB [2], [5]
KẾT LUẬN
Thực trạng CSSK cho người Tày Lục Yên
như sau: Tỷ lệ trẻ người Tày được đẻ tại nhà
thấp (6,29%), trong số trẻ đẻ tại nhà chủ yếu
do các bà đỡ đỡ Tỷ lệ bà mẹ được khám thai,
tiêm phòng uốn ván cao (97,2% & 98,6%)
Tỷ lệ trẻ sơ sinh được bú sớm cao (83,9%), tỷ
lệ trẻ ăn sam đúng là 83,45% Tỷ lệ trẻ cai
sữa đúng còn thấp (35,8%) 93,% số trẻ được
tiêm chủng đầy đủ, trong đó 92,3% trẻ có sẹo
lao 67,57% phụ nữ Tày áp dụng BPTT, trong
đó đặt vòng được chọn hàng đầu (74,91%),
tiếp là thuốc tránh thai (11,64%) Lý do
không áp dụng BPTT hàng đầu là không chấp
nhận (87,88%) Tỷ lệ bà mẹ Tày đẻ sớm <22
khá cao (59,6%) và 20,15% còn đẻ nhiều (>2
con) 43,99% trẻ em < 5 tuổi người Tày SDD
thể thấp còi, tiếp theo là thể nhẹ cân (28,63%)
Tỷ lệ SDD của trẻ em người Tày có ảnh hưởng bởi yếu tố số con trong gia đình, việc cai sữa sớm và kết quả TCMR
KHUYẾN NGHỊ Cán bộ y tế tăng cường truyền thông và tổ chức tốt hơn các chương trình CSSK bà mẹ
và trẻ em nhất là chương trình phòng chống suy dinh dưỡng
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Bộ Y tế (2005), Chăm sóc sức khỏe ban đầu ở Việt Nam Trong tình hình mới, Nhà xuất bản Y
học, 178 trang
[2] Đàm Khải Hoàn (1998), Nghiên cứu xây dựng
mô hình cộng đồng tham gia vào các hoạt động chăm sóc sức khoẻ ban đầu cho nhân dân một số vùng núi phía Bắc, Luận án Tiến sỹ Y học, Học
viện Quân y, tr.59 - 75
[3] Đàm Khải Hoàn, Nguyễn Thành Trung
(2001) Thực trạng chăm sóc sức khoẻ ban đầu ở miền núi phía Bắc Kỷ yếu hội thảo Nâng cao
năng lực chăm sóc sức khoẻ cho đồng bào các dân tộc những vùng khó khăn ở khu vực miền núi phía Bắc Thái Nguyên 12/2001 Trang 205-212;
[4] Hoàng Khải Lập và CS (1999), Đánh giá thực trạng môi trường, tình hình bệnh tật đồng bào các dân tộc miền núi phía Bắc Việt Nam, Đề tài cấp
nhà nước thực hiện: 1994-1996
[5] Sở y tế Yên Bái (2011), Báo cáo công tác y tế năm 2010, Yên Bái
[6] UNFPA (2008), Sinh đẻ của cộng đồng Dân tộc Thiểu số: Nghiên cứu định tính tại Bình Định
Nxb Y học, Hà Nội
SUMMARY
THE STATUS OF HEALTH CARE FOR MOTHERS AND CHILDREN
OF TAY’S PEOPLE IN LUC YEN, YEN BAI PROVINCE
Hoang Van Liem *1 , Dao Ngoc Lan 1 , Dam Khai Hoan 2
1 Yen Bai Health department, 2 College of medicine and pharmacy - TNU
By cross sectional method 400 households and 716 children <5 years old Tay’s people in Luc Yen, Yen Bai province about the primary health care for mothers and children, the results are following: The status of primary health care: rate of home birth is low (6.29%), in which, mainly supported
by the midwives The rate of mothers going for an antenatal and having tetanus vaccination are high (97.2% & 98.6%) Rate of breastfed infants is quite high (83.9%), the percentage of children eating more properly is 83.45% Percentage of children weaned correctly is low (35.8%) 93% of
*
Trang 5children were fully immunized, including 92.3% of children with tuberculosis scars 67.57% of applying female contraceptive methods, the first choice is putting in a coil (74.91%), followed bycontraceptives drug (11.64%) The reason does not apply contraceptive methods is not acceptable (87.88%) The rate of Tay mothers <22 is quite high (59.6%) and 20.15% having more than 2 babies 43.99% of Tay children <5 years old get stunted malnutrion, followed by light weight (28.63%) Rate of malnutrion children affected by number of children in family, and the results expanded vaccination The researchers suggested that health staffs should improve communication action and organized better health care programs for mothers and children, especial is prevention malnutrition programs
Keywords: Health care for mothers and children, and malnutrition