Nội dung nghiên cứu với mục tiêu nhằm khảo sát kiến thức, thái độ và thực hành của bà mẹ về ủ ấm cho trẻ sinh non (TSN) tại Khoa Sơ sinh Bệnh viện Nhi Đồng Thành phố Cần Thơ. Mời các bạn cùng tham khảo bài viết để nắm rõ nội dung chi tiết.
Trang 1KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ VÀ THỰC HÀNH CỦA BÀ MẸ VỀ Ủ ẤM CHO TRẺ SINH NON TẠI KHOA SƠ SINH BỆNH VIỆN
NHI ĐỒNG THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Đặng Thị Hà*, Nguyễn Thị Thúy An**
TÓM TẮT
Mục tiêu: Khảo sát kiến thức, thái độ và thực hành của bà mẹ về ủ ấm cho trẻ sinh non (TSN) tại Khoa Sơ
sinh Bệnh viện Nhi Đồng Thành phố Cần Thơ.
Phương pháp: Nghiên cứu cắt ngang và chọn mẫu thuận tiện.
Kết quả: Tổng số 63,2% bà mẹ biết Kangaroo là phương pháp ủ ấm da kề da. Đánh giá chung có 57,55%
các đối tượng nghiên cứu có kiến thức đúng về ủ ấm cho TSN. Đa số bà mẹ có thái độ đồng ý rằng Kangaroo là phương pháp ủ ấm đơn giản và dễ dàng thực hiện chiếm tỷ lệ 72,6%. Đánh giá chung về thái độ có 72,64% đối tượng nghiên cứu có thái độ tích cực về ủ ấm cho TSN. Bà mẹ có thực hành đúng cao nhất ở bước 2 chiếm 99,1%, kế đến là bước 12 chiếm 97,2% và bước 10 chiếm 93,4%. Bà mẹ có thực hành đúng thấp nhất ở bước 9
chỉ chiếm 34% và bước 11 chiếm 56,6%. Đánh giá chung có 63,21% bà mẹ có thực hành đúng về ủ ấm cho TSN
theo phương pháp Kangaroo.
Kết luận: Kết quả của nghiên cứu sẽ xác định tỷ lệ bà mẹ có kiến thức thái độ và thực hành đúng đối với
việc ủ ấm cho TSN theo phương pháp Kangaroo. Từ kết quả này sẽ cung cấp thông tin thỏa đáng để bà mẹ có thể thực hiện ủ ấm cho TSN thích hợp và hiệu quả.
Từ khóa: Trẻ sinh non, ủ ấm.
ABSTRACT
KNOWLEDGE, ATTITUDE AND PRACTICE OF MOTHERS REGARD KEEPING WARM FOR
PREMATURE NEWBORN AT THE DEPARTMENT
OF PEDIATRIC IN CANTHO CITY HOSPITAL
Dang Thi Ha, Nguyen Thi Thuy An
* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 17 ‐ Supplement of No 4 ‐ 2013: 97 ‐ 103
Objectives: To explore knowledge, attitude and practice of mothers about keeping warm for premature
newborn at the department of pediatric in CanTho City Hospital
Method: A cross – sectional and convenient sampling.
Results: Total 63.2 percent of mothers know the Method Kangaroo to place the baby on their chest to chest
skin. The rate is 57.55 percent of the study subjects have the right knowledge about keeping warm for premature newborn. Most mothers’ attitude agree that keeping warm by Method Kangaroo is simple and easily. The rate made up 72.6 percent. General assessment is 72.64 percent of study subjects with positive attitudes about keeping warm for premature newborn. The percentage of women who have right practice the highest in step 2 accounted for 99.1 percent, followed by 97.2 percent accounted for step 12 and step 10 up to 93.4 percent. Mothers have the right practice the lowest in step 9 only 34% and step11 accounted for 56.6%. Overall assessment is 63.21% mothers practiced correctly keeping warm for premature babies in Kangaroo method.
* Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh ** Trường Cao đẳng Y tế Cần Thơ
Tác giả liên lạc: PGS.TS.BS Đặng Thị Hà ‐ ĐT: 0913115025‐ Email: dang ha0511@yahoo.com
Trang 2Conclusion: The result of this study will identify mother ’ s knowledge, attitudes and practice involved keeping warm for premature newborn in Kangaroo method. From this result will providing adequate information that the mothers can keeping warm appropriate and effective for premature babies.
Keywords: Premature newborn, keeping warm.
ĐẶT VẤN ĐỀ
Trẻ sinh non là một vấn đề sức khỏe đáng
quan tâm trong lĩnh vực sản nhi hiện nay. Theo
thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới mỗi năm có
15 triệu TSN, ở Mỹ là 12‐13%, Châu Âu 6‐9%,
riêng ở Việt Nam chưa có con số chính xác. Theo
thống kê của một số bệnh viện khoảng 8‐10% và
tỷ lệ này ngày càng tăng. Thống kê tại Bệnh viện
Nhi đồng Thành phố Cần Thơ năm 2011 có
khoảng 25,2% bệnh nhi nhập viện do sinh non.
Sinh non là yếu tố quyết định ảnh hưởng
đến khả năng sống sót, phát triển thể chất tâm
thần và tình trạng sức khỏe lâu dài của trẻ.
TSN có nguy cơ tử vong tăng gấp 20 lần so với
trẻ sinh đủ tháng. Đối với nguy cơ suy hô hấp,
bệnh màng trong, hạ thân nhiệt, nhiễm trùng
và các bệnh lý thông thường khác cũng rất cao
ở TSN. Do các yếu tố nguy cơ ở TSN làm tăng
số ngày nằm viện và cần phải có chế độ chăm
sóc đặc biệt gây ra nhiều tốn kém cho gia đình,
xã hội trong năm đầu đời.
Tại các cơ sở y tế có sẵn lồng ấp, việc sử
dụng phương pháp này cũng gặp nhiều trở ngại
như bảo dưỡng kém, mất điện và thiếu phụ
tùng thay thế, bảo trì, sửa chữa khó khăn và tốn
kém. Tình trạng số lượng TSN quá nhiều mà
không đủ lồng ấp dẫn đến mỗi lồng ấp phải
nằm 2‐3 trẻ làm giảm hiệu quả ủ ấm và tăng
nguy cơ nhiễm khuẩn bệnh viện. Ngoài ra, sử
dụng lồng ấp làm hạn chế sự phát triển tình cảm
mẹ con, giảm nuôi con bằng sữa mẹ, để khắc
phục hạn chế của phương pháp ủ ấm bằng lồng
ấp thì chăm sóc Kangaroo là phương pháp đã
được khuyến cáo áp dụng cho TSN ở các nước
đang phát triển. Phương pháp Kangaroo (PPK)
đã được chứng minh giúp thay thế lồng ấp,
giảm chi phí, thời gian nằm viện và hạn chế
nhiễm trùng. Phương pháp Kangaroo còn giúp
ổn định thần kinh của trẻ sinh non, tăng tình
cảm mẹ con, tăng cường nuôi con bằng sữa mẹ, tăng tỷ lệ sống cho trẻ thiếu tháng(5,3,6).
Bệnh viện Nhi đồng Thành phố Cần Thơ được xem là tuyến điều trị cao nhất về chuyên khoa Nhi của khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long. Tại khoa Sơ sinh nơi tập trung nhiều trẻ sinh non và cực non nhưng số lượng lồng ấp còn hạn chế. Nhằm hạn chế tình trạng quá tải, hạn chế nhiễm trùng, chi phí và thời gian nằm viện.
Do đó, TSN khi đã được điều trị ổn định thoát khỏi tình trạng cấp tính thì sẽ được bà mẹ tiếp tục chăm sóc và ủ ấm theo PPK. Để việc chăm sóc cho trẻ sinh non hiệu quả đòi hỏi bà mẹ phải
có kiến thức, thái độ đúng để từ đó thực hành tốt việc ủ ấm cho trẻ. Với mong muốn, đáp ứng các vấn đề thành công trong nuôi trẻ non tháng, chúng tôi tiến hành đề tài nghiên cứu “Kiến thức, thái độ và thực hành của bà mẹ về ủ ấm cho trẻ sinh non tại Khoa Sơ sinh Bệnh viện Nhi đồng Thành phố Cần Thơ “.
Mục tiêu đề tài
Xác định tỷ lệ bà mẹ có kiến thức đúng về ủ
ấm cho trẻ sinh non tại Khoa Sơ sinh Bệnh viện
Nhi đồng Thành phố Cần Thơ.
Xác định tỷ lệ bà mẹ có thái độ tích cực về ủ
ấm cho trẻ sinh non tại Khoa Sơ sinh Bệnh viện
Nhi đồng Thành phố Cần Thơ.
Xác định tỷ lệ bà mẹ có thực hành đúng về ủ
ấm cho trẻ sinh non theo phương pháp Kangaroo tại Khoa Sơ sinh Bệnh viện Nhi đồng Thành phố Cần Thơ.
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả cắt ngang mô tả.
Đối tượng nghiên cứu
Tất cả bà mẹ có con sinh non nhập viện tại Khoa Sơ sinh Bệnh viện Nhi đồng Thành phố
Trang 307/2013.
Cỡ mẫu: Áp dụng công thức tính
n= Z2
(1‐α/2)
Trong đó:d: sai số mong đợi, chọn d = 0,1 ; p: chọn
p = 0,5 để đạt n lớn nhất. N = 96
Để hạn chế sai sót trong quá trình thu thập
số liệu nên cộng thêm 10% sai số. Vậy chọn mẫu
nghiên cứu là 106 bà mẹ.
Kỹ thuật chọn mẫu: Chọn mẫu thuận tiện.
Tiêu chuẩn chọn
Bà mẹ đã được hướng dẫn ủ ấm con theo
phương pháp Kangaroo ngày thứ 5.
Đồng ý tham gia nghiên cứu.
Tiêu chuẩn loại trừ
Bà mẹ không trực tiếp nuôi con.
Bà mẹ không thể trả lời phỏng vấn (câm, điếc, tâm thần,…).
Phương pháp xử lý số liệu
Kiểm tra những phiếu ghi chép không đầy
đủ thông tin sẽ tiến hành phỏng vấn lại để bổ sung những chi tiết còn thiếu. Sau khi thu thập, số liệu được lọc lại, mã hoá và phân tích bằng chương trình thống kê vi tính ứng dụng STATA 12.0.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Bảng 1. Kiến thức chung về ủ ấm theo phương pháp Kangaroo.
Kangaroo là phương pháp ủ ấm da kề da
Đúng Chưa đúng
67 39
63,2 36,8 Kangaroo là phương pháp ủ ấm bà mẹ ôm con trước ngực
Đúng Chưa đúng
99 7
93,4 6,6
Ủ ấm theo PPK cần được thực hiện cả ngày lẫn đêm
Đúng Chưa đúng
92 14
86,8 13,2
Bà mẹ cần vệ sinh thân thể sạch sẽ trước khi ủ ấm cho trẻ theo PPK
Đúng Chưa đúng
96 10
90,6 9,4
Bà mẹ cần rửa tay trước khi ủ ấm cho trẻ theo PPK
Đúng Chưa đúng
69 37
65,1 34,9
Nhận xét: Ủ ấm cho trẻ theo PPK có 93,4%
bà mẹ biết Kangaroo là phương pháp ủ ấm bà
mẹ ôm con trước ngực và 63,2% bà mẹ biết
Kangaroo là phương pháp ủ ấm da kề da.
Qua khảo sát có 86,8% bà mẹ có kiến thức
đúng về thời gian cần ủ ấm Kangaroo cho trẻ.
Kết quả cho thấy tỷ lệ 90,6% bà mẹ biết vệ
sinh thân thể sạch sẽ và 65,1% bà mẹ biết cần
phải rửa tay trước khi ủ ấm Kangaroo.
Bảng 2. Kiến thức về lợi ích của ủ ấm theo phương
pháp Kangaroo.
Thuận lợi khi nuôi con bằng sữa mẹ
Trẻ ngủ ngon
Trẻ ít khóc
Trẻ tăng cân nhanh
d2
p x (1 - p)
Trang 4Nội dung Tần số (n) Tỷ lệ (%)
Tăng tình cảm mẹ con
Bà mẹ giảm lo lắng, sợ hãi, trầm cảm
Gia đình cùng san sẻ trách nhiệm nuôi trẻ
Nhận xét: Đa số các bà mẹ trong mẫu nghiên
cứu có hiểu biết đúng về lợi ích ủ ấm theo PPK.
Bà mẹ có kiến thức đúng cao nhất là
Kangaroo giúp trẻ ngủ ngon chiếm 82,1%, kế
đến là thuận lợi khi nuôi con bằng sữa mẹ chiếm
81,1% và tăng tình cảm mẹ con chiếm 74,5%.
Tỷ lệ 66% bà mẹ biết ủ ấm theo PPK sẽ giúp
trẻ ít khóc và 64,2% giúp trẻ tăng cân nhanh.
Kiến thức đúng về PPK giúp bà mẹ giảm lo
lắng sợ hãi chiếm tỷ lệ thấp nhất 58,5%.
Kiến thức đúng về ủ ấm cho trẻ sinh non
Từ các kết quả nghiên cứu về kiến thức cho
thấy có 57,55% các đối tượng nghiên cứu có kiến
thức đúng về ủ ấm cho TSN.
Bảng 3. Thái độ về ủ ấm cho trẻ sinh non theo PPK.
Kangaroo là phương pháp đơn giản và dễ dàng thực hiện
Kangaroo là phương pháp ủ ấm hiệu quả cho TSN
Kangaroo là phương pháp ủ ấm an toàn cho TSN
Ủ ấm theo PPK sẽ giúp tăng cường tình cảm mẹ con
Ủ ấm theo PPK sẽ giúp bà mẹ thuận lợi hơn khi nuôi con
bằng sữa mẹ
Ủ ấm theo PPK sẽ giúp trẻ ngủ ngon hơn
Ủ ấm theo PPK sẽ giúp trẻ ít khóc
Ủ ấm theo PPK sẽ giúp trẻ tăng cân nhanh
Ủ ấm theo PPK sẽ giúp bà mẹ giảm lo lắng, sợ hãi
Nhận xét: Đa số các bà mẹ có thái độ đồng ý
với việc Kangaroo là phương pháp ủ ấm đơn giản và dễ dàng thực hiện (72,6%).
Lợi ích của PPK, bà mẹ có thái độ đồng ý cao nhất là PPK giúp tăng tình cảm mẹ con chiếm 92,4%, kế đến là giúp trẻ ngủ ngon chiếm 84,9% và thuận lợi khi nuôi con bằng sữa mẹ chiếm 82,1%.
Thái độ tích cực về ủ ấm cho trẻ sinh non
Từ các kết quả nghiên cứu về thái độ cho thấy có 72,64% các đối tượng nghiên cứu có thái
độ tích cực về ủ ấm cho TSN.
Bảng 4. Thực hành của bà mẹ về ủ ấm cho trẻ sinh
non theo phương pháp Kangaroo.
Bước 1: Trẻ đã được thay tã sạch, đội nón
Bước 2: Bà mẹ mặc áo thun kiểu Kangaroo vào bên trong
và kéo áo xuống ngang rốn, bên ngoài mặc áo rộng có nút
cài phía trước
Bước 3: Người mẹ có thể ngồi hoặc đứng, bế trẻ bằng 1 bàn tay nâng cổ và lưng trẻ, tay kia bế nâng phần mông của
trẻ
Bước 4: Tay giữ đầu nâng nhẹ phần dưới cằm để đầu, cổ trẻ không bị gập xuống làm cản trở đường thở của trẻ
Trang 5Nội dung Tần số (n) Tỷ lệ (%)
Bước 5: Đặt trẻ nằm sấp giữa 2 bầu vú mẹ, ở tư thế thẳng
đứng, ngực kề ngực với mẹ sao cho khi cúi xuống cằm của
mẹ vừa chạm vào đầu trẻ
Bước 6: Quay mặt trẻ về 1 bên và hơi ngửa nhẹ
Bước 7: Đặt 2 tay trẻ lên phía trên 2 bầu vú mẹ
Bước 8: Dang 2 chân trẻ ra, đùi gập dưới vú mẹ (giống tư
thế con ếch)
Bước 9: Sau khi đặt trẻ đúng vị trí, một tay giữ đầu, tay kia
đưa 2 bàn chân trẻ ra khỏi phần dưới áo Kangaroo
Bước 10: Kéo phần trên của áo đến ngang tai trẻ
Bước 11: Đổi tay giữ đầu, kéo áo Kangaroo cho hoàn chỉnh
sao cho phần dưới áo phủ hết 2 bàn chân trẻ.
Bước 12: Cài nút áo ngoài của mẹ, để hở đầu trẻ
Nhận xét: Đa số bà mẹ trong nghiên cứu
thực hành đúng việc ủ ấm theo PPK.
Bà mẹ có thực hành đúng cao nhất ở bước 2
chiếm 99,1%, kế đến là bước 12 chiếm 97,2% và
bước 10 chiếm 93,4%.
Bà mẹ có thực hành đúng thấp nhất ở bước 9
chỉ chiếm 34% và bước 11 chiếm 56,6%.
Thực hành đúng về ủ ấm cho trẻ sinh non
theo phương pháp Kangaroo
Trong 106 bà mẹ tham gia vào nghiên cứu có
67 bà mẹ có thực hành đúng về ủ ấm theo PPK
cho TSN chiếm tỷ lệ 63,21% và có 39 bà mẹ có
thực hành chưa đúng chiếm 36,79%.
BÀN LUẬN Kiến thức của của bà mẹ về ủ ấm cho trẻ sinh non
Kết quả nghiên cứu có 63,2% bà mẹ biết Kangaroo là phương pháp ủ ấm da kề da. Tỷ
lệ 93,4% đối tượng nghiên cứu biết Kangaroo
là phương pháp ủ ấm bà mẹ ôm con trước ngực. Chúng tôi nhận thấy hiểu biết của các bà
mẹ về PPK còn hạn chế, vì vậy nhu cầu tăng hiểu biết cho bà mẹ về ủ ấm theo PPK cho TSN
là rất cần thiết.
Tỷ lệ các bà mẹ hiểu biết về lợi ích của PPK khá cao. Tỷ lệ cao nhất là bà mẹ có KT đúng về PPK giúp trẻ ngủ ngon chiếm 82,1%. Bà mẹ biết
ủ ấm Kangaroo sẽ thuận lợi khi nuôi con bằng sữa mẹ chiếm 81,1% và tăng tình cảm mẹ con chiếm 74,5%. Nhận thức về lợi ích là yếu tố thúc đẩy, là động lực để đối tượng thực hiện hành vi.
Vì vậy, cần phải nâng cao kiến thức của các
bà mẹ về lợi ích của ủ ấm theo PPK.
Từ các kết quả nghiên cứu về kiến thức cho thấy, trong 106 bà mẹ tham gia vào nghiên cứu
có 61 bà mẹ có kiến thức đúng về ủ ấm cho TSN chiếm tỷ lệ 57,55% và có 45 bà mẹ có kiến thức chưa đúng chiếm 42,45%. Kết quả của chúng tôi cao hơn so với nghiên cứu trên 80 bà mẹ tại bệnh viện Bangalore có 45,6% bà mẹ có kiến thức đúng về chăm sóc Kangaroo, tương tự với nghiên cứu của tác giả Kavitha có 48,15% bà mẹ
có kiến thức đúng về chăm sóc Kangaroo.
Thái độ của bà mẹ về ủ ấm cho TSN
Nghiên cứu cho thấy rằng 72,6% bà mẹ có thái độ đồng ý với việc Kangaroo là phương pháp ủ ấm đơn giản và dễ dàng thực hiện. Tỷ lệ 64,2% bà mẹ đồng ý rằng Kangaroo là phương pháp ủ ấm an toàn và hiệu quả cho trẻ. Hiệu quả
ủ ấm của phương pháp Kangaroo đã được rất nhiều đề tài nghiên cứu chứng minh. Nghiên của của tác giả Chwo MJ cho thấy chăm sóc Kangaroo nhiệt độ của trẻ sẽ duy trì ở 3703(2). Tác giả Lizarazo cũng cho thấy rằng chăm sóc Kangaroo cải thiện đáng kể tình trạng sức khỏe
Trang 6của trẻ sơ sinh đặc biệt là ổn định nhiệt độ và
tăng cân.
Lợi ích của ủ ấm theo PPK có 92,4% bà mẹ
đồng ý rằng ủ ấm Kangaroo giúp tăng tình
cảm mẹ con. Trong nhóm nghiên cứu có 82,1%
bà mẹ cho rằng ủ ấm Kangaroo giúp thuận lợi
khi nuôi con bằng sữa mẹ. Khảo sát 106 bà mẹ
có 90 bà mẹ đồng ý rằng ủ ấm Kangaroo giúp
trẻ ngủ ngon chiếm tỷ lệ 84,9% và giúp bà mẹ
giảm lo lắng, sợ hãi chiếm 70,8%. Chúng tôi
thấy được thái độ của bà mẹ về ủ ấm cho TSN
tương đối tốt, đây có thể là từ kết quả của sự
hiểu biết ở các bà mẹ. Tuy nhiên, thực tế cho
thấy rằng không phải người có thái độ đúng là
có thực hành đúng, vì vậy cần phải phân tích
thêm về mối liên quan giữa thực hành và thái
độ về ủ ấm cho TSN.
Một trong những lợi ích của PPK là giúp trẻ
xuất viện sớm và các thành viên trong gia đình
đều có thể thực hiện PPK cho trẻ.
Tuy nhiên, trong nghiên cứu của chúng tôi
cũng tìm thấy 13,2% bà mẹ không đồng ý chăm
sóc trẻ theo PPK tại nhà. Đồng thời có 17,9% đối
tượng nghiên cứu cho rằng chỉ có bà mẹ mới
thực hiện được Kangaroo cho trẻ. Đây có thể là
do sự thiếu hụt về kiến thức của bà mẹ làm ảnh
hưởng đến thái độ.
Từ các kết quả nghiên cứu về thái độ cho
thấy trong 106 bà mẹ tham gia vào nghiên cứu
có 77 bà mẹ có thái độ tích cực về ủ ấm cho TSN
chiếm tỷ lệ 72,64% và có 29 bà mẹ có thái độ
chưa tích cực chiếm 27,36%.
Thực hành của bà mẹ về chăm sóc
Kangaroo cho trẻ sinh non
Tìm hiểu thực hành ủ ấm cho TSN theo PPK
dựa vào phiếu quan sát thực hành gồm 12 bước.
Chúng tôi nhận thấy đa số bà mẹ thực hành
đúng các bước trong phiếu quan sát với tỷ lệ khá
cao. Thực hành đúng chiếm tỷ lệ cao nhất là
bước 2 chiếm 99,1%, kế đến là 97,2% đúng bước
12 và 93,4% đúng bước 10. Kết quả khảo sát cho
thấy còn nhiều bước trong phiếu quan sát chưa
được thực hành đúng. Tỷ lệ bà mẹ thực hành
đúng thấp nhất ở bước 9 chỉ có 34%, tương tự là đúng bước 11 chiếm 56,6%. Thực hành đúng ủ
ấm theo PPK bà mẹ cần có thời gian tập luyện,
và rất cần có sự động viên tích cực của nhân viên y tế để các bà mẹ thực hành đúng đồng thời hiểu đúng ý nghĩa của từng bước thực hành. Trong các bước thực hành, tỷ lệ bà mẹ thực hành đúng thấp nhất ở bước 9 (sau khi đặt trẻ đúng vị trí, một tay giữ đầu, tay kia đưa 2 bàn chân trẻ ra khỏi phần dưới áo Kangaroo). Tỷ lệ
bà mẹ thực hành thấp bước 9 có thể là do áo Kangaroo ở Khoa Sơ sinh‐ Bệnh viện Nhi Đồng Thành phố Cần Thơ được thiết kế rộng hơn so với kích thước cơ thể bà mẹ, nên họ dễ dàng thực hiện bước 10 mà không cần thực hành bước
9. Tỷ lệ thực hành thấp bước 9 sẽ kéo theo thực hành thấp ở bước 11 vì đây là hai bước thực hành có liên quan với nhau. Kết quả quan sát thấy 43,4% bà mẹ không kéo phần dưới áo Kangaroo trùm kín 2 bàn chân của trẻ khi ủ ấm (bước 11).
Từ các kết quả nghiên cứu về thực hành cho thấy, trong 106 bà mẹ tham gia vào nghiên cứu
có 67 bà mẹ có thực hành đúng về ủ ấm theo PPK cho TSN chiếm tỷ lệ 63,21%. Trong nhóm nghiên cứu có 39 bà mẹ có thực hành chưa đúng chiếm tỷ lệ 36,79%. Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cao hơn so với nghiên cứu “đánh giá kiến thức và thực hành của bà mẹ liên quan đến chăm sóc Kangaroo ở bệnh viện Bangalore” có 43,2% bà mẹ thực hành đúng phương pháp Kangaroo. Sự khác nhau giữa kết quả nghiên cứu của chúng tôi với nghiên cứu ở bệnh viện Bangalore có thể do ảnh hưởng bởi đặc tính của đối tượng nghiên cứu.
KẾT LUẬN
Qua kết quả nghiên cứu chúng tôi rút ra các kết luận như sau
Kiến thức về ủ ấm cho trẻ sinh non
Có 63,2% bà mẹ biết Kangaroo là phương pháp ủ ấm da kề da. Đánh giá chung có 57,55% các đối tượng nghiên cứu có kiến thức đúng về
ủ ấm cho TSN.
Trang 7Đa số bà mẹ có thái độ đồng ý rằng
Kangaroo là phương pháp ủ ấm đơn giản và dễ
dàng thực hiện chiếm tỷ lệ 72,6%. Đánh giá
chung về thái độ có 72,64% đối tượng nghiên
cứu có thái độ tích cực về ủ ấm cho TSN.
Thực hành về chăm sóc Kangaroo cho trẻ
sinh non
Bà mẹ có thực hành đúng cao nhất ở bước 2
chiếm 99,1%, kế đến là bước 12 chiếm 97,2% và
bước 10 chiếm 93,4%.
Bà mẹ có thực hành đúng thấp nhất ở bước 9
chỉ chiếm 34% và bước 11 chiếm 56,6%.
Đánh giá chung có 63,21% bà mẹ có thực
hành đúng về ủ ấm cho trẻ sinh non theo
phương pháp Kangaroo.
KIẾN NGHỊ
Xây dựng chương trình thực hành cho các bà
mẹ về ủ ấm trẻ sinh non theo phương pháp
Kangaroo thông qua việc hướng dẫn trực tiếp
của nhân viên y tế bằng hình ảnh, video, xây
dựng các tờ bướm về PPK để nâng cao kiến thức
của bà mẹ.
Áp dụng phương pháp Kangaroo vào thực
tế tại Khoa Sơ sinh Bệnh viện Nhi đồng Thành
phố Cần Thơ một cách có hiệu quả.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Method: Mothersʹ Experiences and Contributions to Nursing”.
Rev. Latino‐Am. Enfermagem, vol.18 no.2
Chu DM. (2002). “A randomized controlled trial of early kangaroo care for preterm infants: effects on temperature,
weight, behavior, and acuity”. J Nurs Res, pp 129‐142
Mother Care on physical growth, breastfeeding and its
acceptability”. Trop Doct, pp. 199‐202.
and potential for behaviour change in rural Ghana”. Trop Med Int Health, vol 15, pp. 1118‐24.
family”. Paediatr Child Health, vol 17(3), pp. 141–143.
(2010). “Kangaroo mother care’ to prevent neonatal deaths due
to preterm birth complications”. International Journal of
Epidemiology, pp 144‐ 154.
Ngày phản biện nhận xét bài báo 03/09/2013.